nghiªn cøu - trao ®æi
32
T¹p chÝ luËt häc sè 4/2003
ThS. NguyÔn Minh TuÊn *
hừa kế là quan hệ pháp luật dân sự được
phát sinh khi người có tài sản chết. Vì
vậy, những người tham gia vào quan hệ này
cần phải có năng lực chủ thể, họ được hưởng
các quyền và gánh chịu nghĩa vụ của người
để lại thừa kế.
Khi mở thừa kế, người thừa kế là cá
nhân phải còn sống thì họ được hưởng di sản
thừa kế và phải thực hiện nghĩa vụ của người
chết trong phạm vi di sản được hưởng. Tuy
nhiên, có những trường hợp pháp luật quy
định một người chưa sinh ra nhưng cũng có
thể được hưởng một phần di sản, đó là trường
hợp thai nhi được sinh ra sau thời điểm mở
thừa kế. Điều 638 BLDS quy định: “Người
thừa kế là cá nhân phải là người còn sống
vào thời điểm mở thừa kế hoặc sinh ra và còn
sống sau thời điểm mở thừa kế nhưng đã
thành thai trước khi người để lại di sản chết.”
Như vậy, nếu người chưa thành thai vào
thời điểm mở thừa kế hoặc thành thai trước
từ thời điểm mở thừa kế mới được hưởng di
sản. Vì theo ý chí của người lập di chúc là
cho đứa trẻ đang là thai nhi hưởng di sản, cho
nên sau 300 ngày kể từ thời điểm mở thừa kế
mà đứa trẻ mới sinh ra thì có nghĩa là khi mở
thừa kế chưa có thai nhi. Do vậy, đứa trẻ đó
T
* Giảng viên chính Khoa tư pháp
Trường đại học luật Hà Nội nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 4/2003 33
không được hưởng thừa kế theo di chúc.
Về nguyên tắc, người thừa kế phải là
công dân có các quyền dân sự thì họ mới trở
thành chủ thể trong quan hệ pháp luật nói
chung và quan hệ pháp luật về thừa kế nói
riêng. Tuy nhiên, pháp luật dự liệu trường
hợp người thừa kế là thai nhi mặc dù chưa
sinh ra khi mở thừa kế nhưng được hưởng di
sản nếu sinh ra sau thời điểm mở thừa kế và
còn sống. Đây là nguyên tắc tôn trọng đạo
đức và truyền thống tốt đẹp của luật dân sự
Việt Nam và thể hiện tính nhân văn của pháp
luật nước ta.
Người thừa kế theo di chúc là tổ chức
phải còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
Tổ chức bao gồm các cơ quan nhà nước, các
hưởng, có nghĩa là người nào được hưởng
nhiều di sản thì phải thực hiện nghĩa vụ
tương ứng với phần di sản được hưởng đó.
Theo quy định tại Điều 639 BLDS
những người thừa kế có các quyền và nghĩa
vụ tài sản do người chết để lại kể từ thời
điểm mở thừa kế. Tuy nhiên, không phải tất
cả các quyền tài sản, nghĩa vụ tài sản của
người chết để lại đều chuyển cho những
người thừa kế. Kể từ thời điểm mở thừa kế
các quyền và nghĩa vụ tài sản gắn liền với
nhân thân của người để lại di sản sẽ chấm
dứt. Các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ các
quan hệ nghĩa vụ, từ hành vi pháp lí của
người để lại di sản được chuyển cho những
người thừa kế. Khi người thừa kế nhận di
sản đồng thời phải thực hiện các nghĩa vụ
của người chết trong phạm vi di sản mình
được hưởng. Cho nên, việc nhận di sản và từ
chối nhận di sản là quyền cơ bản của người
thừa kế. Người thừa kế nhận hay từ chối
nhận di sản đều phát sinh những hậu quả
pháp lí nhất định.
Trường hợp người thừa kế nhận di sản nghiªn cøu - trao ®æi
34
T¹p chÝ luËt häc sè 4/2003
vào bất cứ thời điểm nào. Nếu sau 6 tháng
đó, người thừa kế không từ chối nhận di sản
thì mặc nhiên được coi là nhận di sản. Như
vậy, phần di sản thuộc về người thừa kế từ
thời điểm người thừa kế nhận di sản đó.
Ngược lại, trong thời hạn 6 tháng kể từ thời
điểm mở thừa kế, người thừa kế chưa thể
hiện ý chí của mình là nhận hay từ chối nhận
di sản thì di sản đó chưa thuộc về người thừa
kế, cho nên người thừa kế chưa phải thực
hiện nghĩa vụ của người chết để lại. Nếu vào
thời điểm đó, di sản mà gây thiệt hại cho
người khác thì ai có nghĩa vụ bồi thường.
Trước thời điểm mở thừa kế, tài sản thuộc
quyền sở hữu của người để lại di sản. Kể từ
thời điểm mở thừa kế, di sản chưa xác định
được chủ sở hữu, vì những người thừa kế
cần phải thể hiện ý chí là nhận phần di sản
thì họ mới có quyền sở hữu. Như vậy, kể từ
thời điểm mở thừa kế đến thời điểm người
thừa kế nhận di sản, di sản chưa xác định
được ai là chủ sở hữu. Vì vậy, người nào
đang quản lí di sản sẽ tiếp tục quản lí đến khi
xác định được chủ sở hữu. Trường hợp chưa
xác định được người thừa kế và di sản chưa
có người quản lí, cơ quan nhà nước có thẩm
quyền sẽ quản lí di sản đó. Như vậy, sau khi
mở thừa kế những người thừa kế chưa nhận
di sản mà di sản đó gây thiệt hại, cần phải
phân biệt các trường hợp sau:
lại di sản có ý nghĩa quan trọng trong việc
khắc phục hậu quả về thiệt hại xảy ra. Nếu là
trách nhiệm dân sự của người thừa kế thì họ
phải dùng toàn bộ tài sản thuộc quyền sở
hữu của mình để bồi thường thiệt hại. Nếu là
nghĩa vụ của người thừa kế thì họ thực hiện
nghĩa vụ của người để lại thừa kế trong
phạm vi di sản đã nhận. Vượt quá giá trị
phần di sản đó, người thừa kế không chịu
trách nhiệm.
Người để lại thừa kế trước khi chết có
thể còn nhiều nghĩa vụ phải thực hiện nhưng
chưa kịp thực hiện thì đã chết. Trường hợp
này nếu người chết không còn di sản thì các
nghĩa vụ của người đó với những người khác
cũng chấm dứt. Nếu họ còn di sản và các
nghĩa vụ chưa thực hiện thì cần phải xem xét
những nghĩa vụ nào được chuyển cho người
thừa kế và những người thừa kế có nghĩa vụ
liên đới hay nghĩa vụ riêng rẽ.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 321
BLDS về chuyển giao nghĩa vụ, các nghĩa
vụ gắn liền với nhân thân của cá nhân không
được chuyển giao. Đó là những nghĩa vụ
phát sinh từ các quan hệ nhân thân của người
đó và phải do chính họ thực hiện như nghĩa
vụ cấp dưỡng, nghĩa vụ nuôi dưỡng. Những
nghĩa vụ tài sản mà do hành vi của người để
lại di sản làm phát sinh, sẽ được chuyển cho
những người thừa kế. Trường hợp này được
Tạp chí luật học số 4/2003
phn di sn, ng thi h phi tip nhn
phn ngha v tng ng vi phn di sn
c nhn. Nh vy, vo thi im nhn di
sn tha k s lm phỏt sinh quyn s hu
ca ngi tha k i vi phn di sn ó
nhn v h cú ngha v thc hin mt phn
ngha v ca ngi li tha k. Phn
ngha v ny c xỏc nh rừ rng, tng
ng vi phn di sn c nhn, do vy,
ngha v ca nhng ngi tha k l ngha
v riờng r. iu ny s gõy nờn s bt li
cho cỏc ch n. Ch n phi yờu cu tng
ngi tha k thc hin ngha v i vi
mỡnh. Nu cỏc ch n mun thu hi c n
mt cỏch tt nht thỡ phi yờu cu nhng
ngi tha k thc hin ngha v ca ngi
li tha k trc khi chia di sn hoc yờu
cu ngi qun lớ di sn thanh toỏn ngha v
t di sn cha c giao li cho nhng
ngi tha k.
Phỏp lut quy nh nhng ngi tha k
theo di chỳc hoc theo phỏp lut l cỏ nhõn,
thỡ khụng ph thuc cỏc mc nng lc
hnh vi, h cú quyn nhn di sn v phi
thc hin ngha v ti sn tng ng vi
phn di sn c nhn. Nh vy, cú nhiu
trng hp ngi tha k l ngi cha
thnh niờn, ngi khụng cú nng lc hnh
l di sn c chia cho nhng ngi tha k.
Trng hp, ngi li tha k ó nh
ot ton b ti sn ca mỡnh, cú ngha l ó
nh ot ton b phn di sn cũn li sau khi
ó thanh toỏn ngha v ú, cho nờn nhng
ngi c quy nh ti iu 672 BLDS s
c hng k phn bt buc trong phn di
sn cũn li ú.
Trng hp di sn c chia cho nhng
ngi tha k theo di chỳc trc khi thanh
toỏn ngha v ca ngi li tha k m cú
ngi tha k c quy nh ti iu 672 nghiªn cøu - trao ®æi
T¹p chÝ luËt häc sè 4/2003 37
BLDS thì người thừa kế này sẽ được hưởng
2/3 suất của một người thừa kế theo pháp
luật, nếu toàn bộ di sản được chia theo pháp
luật. Cho nên trường hợp này tất cả những
người thừa kế đều phải thực hiện nghĩa vụ
tương ứng với phần di sản được hưởng.
Người thừa kế có quyền từ chối nhận di
sản, thời hạn để từ chối là 6 tháng kể từ thời
điểm mở thừa kế. Khi từ chối nhận di sản,
người thừa kế không cần phải nêu lí do. Tuy
nhiên, có những trường hợp người thừa kế
nêu lí do tại sao lại từ chối nhận di sản.
Những lí do mà người thừa kế đưa ra không
ảnh hưởng đến hậu quả pháp lí của việc từ
không thể thay mặt người thừa kế từ chối
nhận di sản, vì việc từ chối này sẽ gây thiệt
hại cho người được đại diện.
Về ý chí, người thừa kế có quyền từ chối
nhận di sản trong thời hạn do pháp luật quy
định. Việc từ chối nhận di sản phải do người
thừa kế tự nguyện. Trường hợp người thừa
kế bị ép buộc phải từ chối nhận di sản hoặc
bị lừa dối, bị nhầm lẫn trong việc từ chối
nhận di sản thì giao dịch này sẽ vô hiệu. Có
những trường hợp, người thừa kế bị người
thừa kế khác lừa dối, cho nên đã không nhận
di sản, như trường hợp một người thừa kế
muốn nhận toàn bộ di sản nên đã lừa dối
người thừa kế khác, làm cho người thừa kế
này tưởng tượng sai về số lượng di sản
không nhiều, do đó đã từ chối nhận di sản và
để cho người thừa kế có hành vi lừa dối đó
nhận toàn bộ di sản. Ngược lại, thực tế người
chết để lại rất nhiều di sản mà người thừa kế
đã từ chối nhận di sản không biết. Thậm chí
có trường hợp người thừa kế hoàn toàn
không biết là người chết để lại bao nhiêu di
sản, tưởng có ít di sản nhưng có nhiều người
thừa kế, cho nên đã từ chối nhận di sản.
Trường hợp, người thừa kế từ chối quyền nghiªn cøu - trao ®æi
38
thừa kế của mình. Nếu người được thừa kế
theo di chúc mà từ chối nhận di sản theo di
chúc thì có nghĩa là họ sẽ không được hưởng
theo pháp luật. Quan điểm này cho rằng từ
chối nhận di sản là việc người thừa kế theo
di chúc từ bỏ quyền nhận di sản của mình.
Vì vậy, khi di sản đó chia theo pháp luật,
người thừa kế theo di chúc đã từ chối nhận
di sản sẽ không có quyền nhận di sản chia
theo pháp luật nữa.
Quan điểm thứ hai cho rằng khi người
thừa kế theo di chúc đồng thời là người thừa
kế theo pháp luật, nếu người thừa kế từ chối
nhận di sản theo di chúc thì họ vẫn có quyền
nhận di sản chia theo pháp luật. Bởi vì,
người thừa kế không muốn nhận di sản theo
di chúc vì nhiều lí do khác nhau nhưng họ
không muốn từ chối nhận di sản khi chia
theo pháp luật. Hơn nữa, việc từ chối nhận di
sản theo di chúc không có nghĩa là họ từ
chối quyền được thừa kế. Quyền thừa kế của
cá nhân có thể được thực hiện theo di chúc
và cũng có thể được thực hiện theo quy định
của pháp luật. Hoặc có thể cá nhân vừa được
thừa kế theo di chúc và được thừa kế theo
pháp luật. Vì vậy, quan điểm thứ hai này có
cơ sở khoa học hơn.
Tóm lại, khi mở thừa kế, việc xác định
người thừa kế nhận hay từ chối nhận di sản
có ý nghĩa quan trọng. Nếu người thừa kế