y
o
c u -tr a c k
.c
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THU HƯƠNG
BẢO HỘ QUYỀN TÁC GIẢ ĐỐI VỚI TÁC PHẨM ĐIỆN
ẢNH TRÊN INTERNET THEO QUY ĐỊNH CỦA ĐIỀU
ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật quốc tế
Mã số: 60380108
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thái Mai
HÀ NỘI - NĂM 2016
.d o
m
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
PD
!
XC
er
O
W
F-
w
k
lic
c
Học viên xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu của riêng học
viên. Trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn, học viên có tham khảo một số
bài viết, tài liệu của các tác giả khác, các nguồn trích dẫn, tham khảo, thông tin từ các
buổi hội thảo đã được chỉ ra trong mục Danh mục tài liệu tham khảo. Các ví dụ và
trích dẫn trong luận văn được đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực.
Hà Nội, ngày 01 tháng 8 năm 2016
Xác nhận của giảng viên hướng dẫn
TS. Nguyễn Thái Mai
Học viên
Nguyễn Thu Hương
.d o
m
o
m
w
w
w
N
O
W
!
h a n g e Vi
e
N
O
W
XC
er
PD
h a n g e Vi
e
!
Khoa Sau đại học Trường Đại học Luật Hà Nội cũng đã giúp đỡ cho học viên trong quá
trình hoàn thành luận văn.
Lời cuối, học viên xin gửi lời cảm ơn đến những người thân trong gia đình, bạn bè
của học viên đã tạo điều kiện tốt nhất cho học viên trong suốt quá trình nghiên cứu và
hoàn thiện luận văn.
Hà Nội, ngày 1 tháng 8 năm 2016
Học viên
Nguyễn Thu Hương
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
Cục ANVHTT-TT Cục An ninh văn hóa thông tin và truyền thông
ĐƯQT
Điều ước quốc tế
EU
European Union - Liên minh Châu Âu
HADOPI
Cơ quan tối cao về phân phối các tác phẩm và bảo vệ quyền trên
Internet tại Pháp - Haute Autorité pour la Diffusion des Oeuvres
et la Protection des droits sur Internet
HĐTM
Hiệp định thương mại
Hiệp định TPP
Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương - Trans-Pacific
Partnership Agreement
Hiệp định TRIPs
Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền
sở hữu trí tuệ 1994 - Agreement on trade – related aspects of
intellectual property rights 1994
m
C
m
w
o
c u -tr
.
ack
bu
y
bu
C
lic
k
to
DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
w
er
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
c u -tr a c k
.c
MỤC LỤC
CỦA ĐIỀU ƯỚC QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM ............................ 29
2.1. Chủ thể được bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên
Internet ............................................................................................................. 29
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
to
bu
y
bu
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
.c
y
o
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện
ảnh trên Internet tại Việt Nam ........................................................................ 73
3.2.1. Những thách thức đối với việc bảo hộ tác phẩm điện ảnh trên Internet
tại Việt Nam ................................................................................................... 73
3.2.2. Một số giải pháp cụ thể ........................................................................ 78
Tiểu kết Chương 3 ............................................................................................... 86
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
.d o
m
o
w
w
w
.d o
C
lic
k
!
XC
er
O
W
F-
w
m
h a n g e Vi
e
w
PD
XC
er
F-
c u -tr a c k
với “đứa con tinh thần” của mình, bởi môi trường này giúp cho việc sao chép, tải về
máy cá nhân một cách bất hợp pháp các tác phẩm điện ảnh dễ dàng hơn, và gần như
ai cũng cho rằng việc tải thông tin tự do từ Internet xuống máy cá nhân là việc bình
thường, không phải trả tiền sử dụng hay không bị đánh đồng đó là hành vi ăn cắp.
Nhận thức đó đã gây thiệt hại rất lớn đến quyền lợi hợp pháp của tác giả và chủ sở
hữu quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh. Thực trạng xâm phạm tràn lan quyền
tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet không còn là một vấn đề quá xa lạ
đối với riêng Việt Nam, mà tồn tại ở hầu khắp các quốc gia trên thế giới.
Sự kiện nước ta chính thức trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế
giới (WTO), tham gia các ĐƯQT liên quan đến bảo hộ quyền tác giả đó là: Công
ước Berne bảo hộ các tác phẩm văn học, khoa học và nghệ thuật; Hiệp định về
những khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (TRIPS), phê
chuẩn gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) với việc đảm bảo
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
đề cập đến bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet, cụ thể:
-
Năm 1995, bài viết của tác giả Olsson, Henry với đề tài “Enforcement of
Copyright and Neighboring Rights under National Laws” được trình bày tại Hội
thảo quốc gia WIPO về quyền tác giả và quyền giáp ranh được tổ chức bởi WIPO
hợp tác với Chính phủ nước Cộng hòa Philippines diễn ra tại Manila, tháng
12/1995;
-
Năm 2012, luận văn Thạc sĩ của tác giả Maximilian von Grafenstein với đề
tài “Copyright Protection of Formats in the European Single Market” trong khuôn
khổ Chương trình nghiên cứu tin học pháp lý Châu Âu năm 2012;
-
Năm 2012, báo cáo của IRIS plus với chủ đề “The Lifespan for Copyright of
Audiovisual Works” đề cập đến nội dung xác định thời hạn bảo hộ các tác phẩm
điện ảnh, thời điểm tác phẩm điện ảnh thuộc về công chúng ở theo pháp luật các
quốc gia ở Châu Âu nhìn nhận dưới góc độ luật Bản quyền của Anh.
-
Năm 2001, tại Hội thảo Quyền tác giả trong lĩnh vực điện ảnh diễn ra ở Hà
Nội, tác giả Trần Thế Dân – Phó Tổng Thư Ký Hội Điện ảnh Việt Nam, đã có bài
.d o
w
w
w
bu
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
tham luận với đề tài “Vấn đề bản quyền trong hoạt động điện ảnh”. Nội dung bài
tham luận tập trung vào làm rõ vấn đề bản quyền điện ảnh khi đất nước ta bước
sang thời kì phát triển theo cơ chế kinh tế thị trường và có sự so sánh với thị trường
bản quyền điện ảnh ở một số quốc gia trong khu vực như Trung Quốc. Bài tham
luận ra đời trong thời kỳ Việt Nam vẫn đang áp dụng BLDS năm 19995, chưa xây
dựng Luật SHTT và chưa có Luật Điện ảnh.
-
Năm 2009, luận văn Thạc sĩ luật học của tác giả Quản Tuấn Anh được thực
hiện tại trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài “Bảo hộ quyền tác giả, quyền liên
quan trong môi trường kỹ thuật số - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”. Nội dung
của luận văn tập trung chủ yếu vào việc phân tích quy định của pháp luật Việt Nam
về quyền tác giả, quyền liên quan đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa
học trong môi trường kỹ thuật số. Từ đó, luận văn đưa ra những giải pháp nhằm
đảm bảo việc bảo hộ trên thực tế được hiệu quả hơn.
-
Năm 2012, khóa luận tốt nghiệp của tác giả Lê Thị Hải Linh được thực hiện
tại trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài “Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
âm nhạc theo quy định của pháp luật Việt nam và Hàn Quốc”. Khóa luận tập trung
nghiên cứu các quy định của Việt Nam về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm âm
nhạc và có sự so sánh với quy định của pháp luật Hàn Quốc, từ đó rút ra kinh
nghiệm cho Việt Nam khi tiến hành bảo hộ loại hình tác phẩm này.
-
Năm 2014, luận văn Thạc sĩ ngành Pháp luật về quyền con người của tác giả
Nguyễn Anh Đức được thực hiện tại Khoa Luật Đại học quốc gia Hà Nội với đề tài
m
C
lic
k
to
3
w
w
w
w
bu
bu
y
N
O
W
.c
h a n g e Vi
e
N
y
to
k
lic
.c
+ Bài tham luận “Tổng quan pháp luật Việt Nam và quốc tế về quyền tác giả
đối với tác phẩm điện ảnh, chương trình truyền hình trong môi trường kỹ thuật số”
của tác giả Phạm Thị Kim Oanh (Cục Bản quyền tác giả);
+ Bài tham luận “Thực trạng vi phạm bản quyền đối với tác phẩm điện ảnh,
chương trình truyền hình ở trên Internet hiện nay” của tác giả Phan Vũ Tuấn
(IPA);......
-
Năm 2016, bài tham luận tại Hội thảo Quốc gia “Thực thi các cam kết pháp
lý của Việt Nam trong các Hiệp định thương mại tự do và vấn đề bảo vệ quyền sao
chép trong bối cảnh hội nhập” của tác giả Nguyễn Thái Mai với đề tài “Quyền sao
chép trong môi trường số theo quy định của Điều ước quốc tế và kinh nghiệm của
các quốc gia phát triển”. Bài viết đã đi vào phân tích các quy định của pháp luật
quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền sao chép, chỉ ra đặc tính của loại quyền này
và thực trạng xâm phạm quyền sao chép đối với các tác phẩm văn học, nghệ thuật,
khoa học trên Internet. Bài viết cũng đã chỉ ra các biện pháp mà các quốc gia trên
w
.d o
m
C
lic
k
to
4
w
w
w
w
bu
bu
y
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
y
to
k
lic
.c
phạm đến quyền tác giả tác phẩm điện ảnh trên Internet, những trường hợp tác
phẩm điện ảnh sẽ không được bảo hộ,... Bên cạnh đó, thông qua các số liệu thu thập
được từ thực trạng vi phạm của một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam, đề tài
sẽ đưa ra các giải pháp góp phần khắc phục tình trạng trên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đề tài tập trung nghiên cứu các quy định về bảo hộ quyền tác giả đối với tác
phẩm điện ảnh trên Internet theo quy định của ĐƯQT và pháp luật Việt Nam. Đối
với ĐƯQT, luận văn tập trung phân tích các quy định tại các ĐƯQT mà Việt Nam
là thành viên và sẽ là thành viên, cụ thể: Công ước Berne, Hiệp định TRIPs, Hiệp
ước WCT. Đối với pháp luật Việt Nam, luận văn tập trung phân tích các quy định
về SHTT như: Luật SHTT, Nghị định 100/2006/NĐ-CP, Luật Điện ảnh,.... Bên
cạnh đó, luận văn còn tìm hiểu thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với các tác phẩm
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
C
lic
k
to
5
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
y
to
k
lic
-
Với thực trạng đó, chúng ta có thể đề xuất những giải pháp nào để nhằm gỡ
bỏ phần nào những khó khăn trước mắt trong việc bảo hộ quyền tác giả đối với tác
phẩm điện ảnh trên Internet?
6. Phương pháp nghiên cứu đề tài
Trên cơ sở nền tảng là các nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, chủ nghĩa
duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước
và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về bảo hộ quyền SHTT tại Việt
Nam, đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như:
-
Phương pháp nghiên cứu lịch sử để tìm hiểu lịch sử ra đời các thuật ngữ
chuyên ngành: quyền tác giả, tác phẩm điện ảnh, Internet...
-
Phương pháp so sánh nhằm tìm ra những điểm tương đồng giữa pháp luật
Việt Nam và các ĐƯQT quy định về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện
ảnh trên Internet.
-
Phương pháp phân tích, tổng hợp thống kê các thông tin, tài liệu, số liệu liên
quan: báo cáo tại Hội thảo chuyên ngành, báo cáo của Cục Bản quyền tác giả,....;
.d o
w
w
w
bu
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
tham khảo các công trình nghiên cứu trong nước và nước ngoài về bảo hộ quyền tác
giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet, từ đó đưa ra được giải pháp kiến nghị
nhằm hoàn thiện pháp luật, hoàn thiện cơ chế quản lý của Nhà nước về vấn đề trên.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh, dù tác phẩm điện ảnh được lưu thông
trong môi trường truyền thống hay trên Internet, đều cần được bảo hộ một cách hiệu
quả. Với lượng kiến thức và nguồn thông tin có được trong quá trình nghiên cứu,
học viên hi vọng đề tài của mình sẽ làm rõ các vấn đề pháp lý cơ bản về quyền tác
giả đối với tác phẩm điện ảnh, đặc biệt là việc bảo hộ quyền tác giả trên Internet. Đề
tài sẽ là kênh thông tin về các biện pháp hữu ích có thể áp dụng để góp phần bảo hộ
hiệu quả quyền tác giả cho các tác phẩm điện ảnh trên Internet. Hơn hết, đề tài có ý
nghĩa rất lớn, là thành quả sau quá trình thực hiện chương trình đào tạo Thạc sĩ luật
học của học viên tại Trường Đại học Luật Hà Nội.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mở đầu, danh mục từ viết tắt, kết luận, danh mục tài liệu tham
khảo và phụ lục, bố cục của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền tác giả và bảo hộ quyền tác giả đối
với tác phẩm điện ảnh trên Internet
Chương 2: Nội dung pháp lý cơ bản về bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
điện ảnh trên Internet theo quy định của Điều ước quốc tế và pháp luật Việt Nam
Chương 3: Thực trạng bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên
Internet và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm
điện ảnh trên Internet tại Việt Nam
.d o
m
o
w
bu
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
1.1. Khái niệm quyền tác giả
1.1.1. Định nghĩa quyền tác giả
Trong Thời kỳ Cổ đại và Trung Cổ, con người chưa biết đến quyền cho một
tác phẩm trí tuệ. Khi không muốn tác phẩm của mình bị thay đổi, tác giả chỉ có cách
gắn một lời nguyền rủa vào quyển sách của mình như Eike von Repgow, tác giả của
Sachsenspiegel, một quyển sách ghi chép lại các luật lệ đương thời, đã nguyền rủa
những người giả mạo tác phẩm của ông sẽ bị chết1.
Cùng với phát minh ra máy in điện tử (khoảng 1440)2, các bản sao chép lại của
một tác phẩm bắt đầu có thể được sản xuất ở số lượng lớn một cách dễ dàng hơn
nhưng tác giả vẫn chưa có được “quyền tác giả”. Đến thời kỳ Phục hưng, những
người sáng tạo ra tác phẩm có một số đặc quyền nhất định nhưng chưa đem lại cho
họ thu nhập. Vào thế kỷ XVIII, độc quyền sao chép của tác giả được công nhận và
ghi nhận trong bộ luật của nước Anh năm 1710, tại Hoa Kỳ vào năm 1770, tại Pháp
vào năm 1791 và tại nước Phổ vào năm 1837.
Dựa trên sự phát triển pháp luật của các quốc gia về quyền tác giả, thuật ngữ
quyền tác giả ngày càng được hiểu rộng hơn về nội dung và phạm vi bảo vệ, cũng
như xác định rõ hành vi nào xâm phạm quyền tác giả và những biện pháp để bảo vệ
tác phẩm khỏi hành vi xâm phạm này. Mặc dù hệ thống pháp luật khác nhau dẫn
đến việc các quốc gia có cách định nghĩa riêng về quyền tác giả, tuy nhiên, quyền
tác giả được biết đến như một loại quyền chính đáng của những người sáng tạo,
những người tham gia vào các hoạt động văn hóa, nghệ thuật, khoa học.
Theo hệ thống pháp luật bản quyền của hệ thống thống luật (Common law),
quyền tác giả được gọi bằng thuật ngữ “Bản quyền – Copyright”, xuất phát từ khía
cạnh thương mại để nhấn mạnh đến quyền lợi về mặt kinh tế của người sở hữu
quyền tác giả (copyright owner) sẽ được hưởng khi “sao chép, nhân bản” tác
1
2
https://vi.wikipedia.org/wiki/Quyền_tác_giả, ngày truy cập 14/04/2016.
http://marketingbox.vn/Lich-su-nganh-in.html, ngày truy cập 14/04/2016
8
w
w
w
w
bu
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
lic
.c
phẩm. Nghĩa là, theo Luật Bản quyền, các quốc gia sẽ đứng về phía các nhà khai
thác giá trị kinh tế của tác phẩm chứ không phải đứng về phía người sáng tạo ra tác
phẩm. Còn theo hệ thống pháp luật quyền tác giả của hệ thống luật lục địa (Civil
law), quyền tác giả được gọi bằng thuật ngữ “Quyền tác giả - Author’s right”, trong
đó trọng tâm là bảo vệ quyền của người sáng tạo ra tác phẩm, nhấn mạnh đến quyền
lợi về mặt tinh thần (moral rights) mà tác giả của tác phẩm sẽ được hưởng như
quyền được trích dẫn khi tác phẩm được sử dụng hoặc quyền bảo đảm tác phẩm
không bị sửa đổi, bổ sung, thay đổi, chuyển thể dưới mọi hình thức mà không được
sự đồng ý của tác giả.
Trong xu thế hội nhập, pháp luật Việt Nam đã xây dựng tương đối đầy đủ các
quy định về quyền tác giả. Chế định quyền tác giả được ghi nhận trong nhiều văn
bản luật như Hiến pháp Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, Luật
SHTT năm 2005 sửa đổi bổ sung năm 2009, BLDS năm 2005 và các văn bản dưới
luật khác như Nghị định số 100/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 21 tháng 9 năm
2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự, Luật
sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan; Nghị định số 131/2013/NĐ-CP
của Chính phủ ngày 16 tháng 10 năm 2013 Quy định xử phạt vi phạm hành chính
về quyền tác giả, quyền liên quan,…. Khoản 2 Điều 4 Luật SHTT 2005 định nghĩa:
“quyền tác giả là quyền của tổ chức, cá nhân đối với tác phẩm do mình sáng tạo ra
hoặc sở hữu”. Theo đó, quyền tác giả bảo hộ các sáng tạo của tác giả trong lĩnh vực
văn học và nghệ thuật có tính nguyên gốc như tiểu thuyết, thơ, âm nhạc, tranh vẽ,
ảnh chụp, tác phẩm điêu khắc, tác phẩm điện ảnh,….của tất cả các tác giả như nhà
văn, nhạc sĩ, đạo diễn,….
1.1.2. Đặc điểm quyền tác giả
Quyền tác giả được biết đến như một quyền về văn hóa của con người. Điều
27 Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người ghi nhận rằng: “Mọi người đều có
quyền tự do tham gia vào đời sống văn hóa của cộng đồng, sáng tác nghệ thuật và
to
9
w
w
w
w
bu
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
to
k
lic
.c
tác giả”. Công ước quốc tế về quyền xã hội, kinh tế và văn hóa năm 1966 cũng thể
hiện rõ nét quan điểm “các quốc gia ký kết phải công nhận cho mỗi người quyền
được bảo vệ các lợi ích tinh thần và lợi ích vật chất có được từ hoạt động khoa học,
văn học và nghệ thuật mà họ là tác giả” (Điều 15). Điều 62 Hiến pháp Việt Nam
2013 và Điều 51 BLDS 2005 cũng đã ghi nhận quyền tự do sáng tạo nghệ thuật và
khoa học của con người được Nhà nước bảo đảm quyền và bảo hộ quyền SHTT.
Quyền tác giả có các đặc điểm sau:
Quyền tác giả có đối tượng bảo hộ mang tính sáng tạo
Quyền tác giả bảo hộ một loạt hình thức thể hiện sáng tạo và có tính nguyên
gốc các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Theo Công ước Berne, tác phẩm
văn học, nghệ thuật, khoa học bao gồm các sản phẩm trong lĩnh vực văn học, khoa
học và nghệ thuật bất kỳ được biểu hiện theo phương thức hay dưới hình thức nào,
chẳng hạn như sách, tập in nhỏ và các bản viết khác, các bài giảng, bài phát biểu,
bài thuyết giáo và các tác phẩm cùng loại; các tác phẩm kịch, hay nhạc kịch, các tác
phẩm hoạt cảnh và kịch câm, các bản nhạc có lời hay không lời, các tác phẩm điện
ảnh và các tác phẩm được diễn tả bằng một kỹ thuật tương tự với điện ảnh, các tác
phẩm đồ họa, hội họa, kiến trúc, điêu khắc, chạm trổ, in thạch bản; các tác phẩm
nhiếp ảnh và các tác phẩm được diễn tả bằng một kỹ thuật tương tự như nhiếp ảnh;
các tác phẩm nghệ thuật ứng dụng, minh họa, địa đồ, đồ án, bản phác họa và các tác
phẩm tạo hình liên quan đến địa lý, địa hình, kiến trúc hay khoa học3.
Xuất phát từ hoạt động tư duy của con người trong quá trình lao động, sáng tạo
và được thể hiện dưới dạng hình thức vật chất nhất định, đối tượng của quyền tác
giả luôn mang tính sáng tạo, được bảo hộ không phụ thuộc vào giá trị nội dung và
giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Tính sáng tạo của tác phẩm không phụ thuộc vào
tính mới của tác phẩm, nghĩa là dù một tác phẩm có nội dung không mới nhưng nếu
lic
k
to
10
w
w
w
w
bu
bu
y
N
O
W
!
XC
e
N
y
to
k
lic
.c
giả trực tiếp thực hiện lao động bằng trí tuệ của mình mà không phải sao chép từ tác
phẩm của người khác. Những tác phẩm được thể hiện dưới hình thức nhất định, có
nội dung cụ thể nhưng trái với đạo đức xã hội, lợi ích dân tộc, xâm phạm đến quyền
con người, quyền công dân,….sẽ không được pháp luật bảo hộ.
Quyền tác giả bảo hộ hình thức thể hiện tác phẩm
Pháp luật về quyền tác giả chỉ bảo hộ hình thức chứa đựng tác phẩm khi tác
phẩm được tạo ra và thể hiện dưới hình thức nhất định mà không bảo hộ nội dung
tác phẩm. Tác phẩm đó phải là thành quả lao động sáng tạo của tác giả được thể
hiện ra bên ngoài dưới hình thức nhất định để người khác có thể biết tới tác phẩm
trên thực tế, bởi pháp luật sẽ không thể bảo vệ tác phẩm khi tác phẩm mới chỉ được
định hình trong suy nghĩ hay ý tưởng của tác giả.
Về hình thức thể hiện tác phẩm, Công ước Berne cho phép các quốc gia lựa
chọn việc tác phẩm bảo hộ phải được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định
hay không (Điều 2.2). Bên cạnh đó một số quốc gia yêu cầu tác phẩm phải được thể
hiện dưới một hình thức hữu hình “any tangible medium of expression” (Điều 102
Luật Bản quyền Hoa Kỳ), “material form” (Điều 3 Phần 1 Luật Bản quyền
Canada),…. Trong khi đó, đối với một số quốc gia, quyền tác giả được bảo hộ khi
tác phẩm đó được thể hiện dưới hình thức bất kỳ (Điều L112-1 Bộ Luật SHTT
Pháp).
Về đặc điểm này, Luật SHTT Việt Nam quy định tác phẩm phải được thể hiện
dưới hình thức vật chất nhất định4 tương tự với Luật Bản quyền của Hoa Kỳ. Quy
m
C
lic
k
to
11
w
w
w
w
bu
bu
y
N
O
W
.c
h a n g e Vi
e
N
y
to
k
lic
.c
Quyền tác giả được bảo hộ theo cơ chế bảo hộ tự động
Đây là nguyên tắc đặc thù của bảo hộ quyền tác giả. Theo đó, quyền tác giả
được xác lập dựa vào chính hành vi tạo ra tác phẩm của tác giả, không phụ thuộc
vào bất kỳ thủ tục nào như đăng ký cấp giấy chứng nhận, nộp lưu chiểu. Quyền tác
giả sẽ phát sinh ngay tại thời điểm tác giả sáng tạo ra tác phẩm, có nghĩa là khi tác
phẩm được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định mà người khác có thể
nhận biết được sự tồn tại của tác phẩm đó.
Bảo hộ quyền tác giả là bảo hộ sự sáng tạo cá nhân về hình thức thể hiện ý
tưởng, do đó khi con người sáng tạo và thể hiện ý tưởng dưới một hình thức khách
quan nhất định thì cũng đồng thời phát sinh quyền tác giả mà không cần một điều
kiện hay thủ tục nào.
Quyền tác giả mang tính lãnh thổ
Đối với quyền tác giả, tác phẩm văn học hoặc nghệ thuật, các tác phẩm sẽ
được bảo hộ ngay khi tác phẩm được tạo ra, hoặc ở một số nước, ngay khi tác phẩm
được định hình dưới dạng vật chất bất kỳ theo pháp luật của quốc gia đó, và chỉ có
hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ quốc gia đó. Tuy nhiên, liên quan đến việc bảo hộ ở
nước ngoài, một tác phẩm được công dân hoặc cư dân của một nước là thành viên
w
.d o
m
C
lic
k
to
12
w
w
w
w
bu
bu
y
N
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
y
to
k
lic
.c
Theo Luật SHTT 2005, quyền tác giả được bảo hộ vô thời hạn đối với các
quyền nhân thân quy định tại các Khoản 1, 2 và 4 Điều 19, cụ thể: đặt tên cho tác
phẩm; Đứng tên thật hoặc bút danh trên tác phẩm; Được nêu tên thật hoặc bút danh
khi tác phẩm được công bố, sử dụng; Bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm, không cho
người khác sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào
gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả. Bên cạnh đó, thời gian bảo hộ
quyền tác giả đối với những trường hợp còn lại nhìn chung sẽ được tính là suốt cuộc
đời tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Thời hạn bảo hộ quyền tác giả sẽ khác
nhau đối với từng loại tác phẩm bảo hộ.
1.2. Bảo hộ quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet
1.2.1. Tác phẩm điện ảnh
Từ lâu, điện ảnh vốn là một ngành nghệ thuật quan trọng, có vai trò đặc biệt
trong đời sống xã hội, là sứ giả quảng bá một cách chân thực nhất hình ảnh đất nước
w
.d o
m
C
lic
k
to
13
w
w
w
w
bu
bu
y
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
y
to
k
lic
.c
Lumière ở Lyon6. Do đây chỉ là những đoạn phim ghi lại cảnh sinh hoạt thường
ngày nên nó gần với các bộ phim tài liệu hơn là phim điện ảnh. Phải đến thập niên
1910, đạo diễn Hoa Kỳ D.W.Griffith đã đưa điện ảnh tiến thêm một bước mới khi
chuẩn hóa các thuật ngữ điện ảnh và các công đoạn làm phim cũng như cho ra đời
bộ phim mang tính cách mạng về kỹ thuật dàn dựng và kịch bản The Birth of a
Nation7.
Trong xu thế hòa chung với nền điện ảnh của thế giới, khái niệm tác phẩm
điện ảnh được ghi nhận trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ở Việt Nam.
Luật SHTT là văn bản pháp lý đầu tiên ghi nhận tác phẩm điện ảnh và tác phẩm
được tạo ra theo phương pháp tương tự (gọi chung là tác phẩm điện ảnh) là loại
hình tác phẩm được bảo hộ quyền tác giả tại Điểm e Khoản 1 Điều 14 Luật SHTT
2005. Tuy nhiên, phải đến khi Nghị định 100/2006/NĐ-CP ra đời, chúng ta mới có
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
C
lic
k
to
14
w
w
w
w
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
y
to
k
lic
.c
“Tác phẩm điện ảnh là sản phẩm nghệ thuật được biểu hiện bằng hình ảnh động kết
hợp với âm thanh và các phương tiện khác theo nguyên tắc của ngôn ngữ điện
ảnh”. Như vậy, có thể hiểu rằng, tác phẩm điện ảnh là tác phẩm được hợp thành
bằng hàng loạt hình ảnh liên tiếp tạo nên hiệu ứng chuyển động kèm theo hoặc
không kèm theo âm thanh, được thể hiện trên một chất liệu nhất định và có thể phân
https://vi.wikipedia.org/wiki/Phim_hoạt_hình, ngày truy cập 16/04/2016.
13
Khoản 3 Điều 4 Luật Điện ảnh 2006.
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
C
lic
k
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
h a n g e Vi
e
N
định nghệ thuật, sáng tạo, tác động đến cảm nhận tổng thể và ấn tượng thị giác của
tác phẩm điện ảnh; thống nhất dàn cảnh, chọn vị trí đặt máy quay, phối hợp các
chuyển động của máy quay với di chuyển của diễn viên hoặc phương tiện chuyển
động khác trong suốt quá trình tạo ra tác phẩm điện ảnh;
+ Người dựng phim là người thực hiện những thao tác kỹ thuật để loại bỏ đi
những cảnh quay, những hình ảnh không cần thiết và xâu chuỗi những đoạn phim
lại với nhau một cách logic, có ý đồ để tạo nên một bộ phim hoàn chỉnh về “hình
thức và nội dung”;
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
m
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
.c
hoạt động của hệ thống thực thi quyền tác giả. Luật SHTT Việt Nam đã ghi nhận
bảo hộ quyền tác giả tác phẩm điện ảnh cho tập thể tác giả tại Điều 19 về quyền
nhân thân (quyền đặt tên cho tác phẩm; quyền đứng tên thật hoặc bút danh trên tác
phẩm; quyền bảo vệ sự toàn vẹn của tác phẩm) và Điều 20 về quyền tài sản (quyền
sao chép tác phẩm; quyền công bố tác phẩm;….). Theo đó, các cá nhân, tổ chức
khác muốn sử dụng tác phẩm điện ảnh sẽ phải tuân thủ các quy định của Luật SHTT
về sự đồng ý, cho phép của cả tập thể tác giả nói trên và trả thù lao, nhuận bút để
đảm bảo tất cả các tác giả đều được tôn trọng quyền tác giả đối với sản phẩm của
mình, đồng thời tạo nguồn cảm hứng cho các tác giả tiếp tục sáng tạo nghệ thuật
trong lĩnh vực riêng mà mình đảm nhận.
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
C
w
w
w
.d o
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
XC
er
PD
F-
c u -tr a c k
viên, nhạc sĩ,….kết hợp tạo thành. Do vậy, các tác phẩm này có thể được khai thác
chung trên phương diện khai thác tác phẩm điện ảnh hoặc khai thác độc lập từng
hoạt động sáng tạo nếu có thể tách riêng.
-
Thứ tư, tính sáng tạo của tác phẩm điện ảnh thể hiện trong cách sắp xếp, bố
trí, trình bày, thể hiện các tình tiết trong từng phân cảnh và cách thức truyền đạt với
sự kết hợp các hiệu ứng âm thanh, ngôn ngữ, âm nhạc, hỉnh ảnh, màu sắc, ánh sáng,
không gian, thời gian,… để kích thích các giác quan của người xem, tạo cho họ
những cung bậc cảm xúc nhất định thỏa mãn nhu cầu giải trí về tinh thần.
1.2.2. Internet và quyền tác giả đối với tác phẩm điện ảnh trên Internet
Internet (môi trường số) là mạng thông tin điện tử mới của nhân loại. Sáng tạo
này đánh dấu sự ra đời của vấn đề toàn cầu hóa về thông tin. Khác với môi trường
thực trong đó chứa đựng những thực thể hữu hình, Internet là một môi trường
không xác định được bằng những số đo thực tế, trong đó các thực thể vô hình di
chuyển một cách tự do và được định hướng bởi người sử dụng. Môi trường này tạo
điều kiện cho phép các thiết bị kết nối mạng có thể dễ dàng kết nối và trao đổi tài
liệu với nhau mà không đòi hỏi thêm bất cứ điều kiện gì. Các thiết bị kết nối mạng
này bao gồm hàng ngàn mạng máy tính nhỏ hơn của các doanh nghiệp, của các viện
.d o
m
o
o
c u -tr a c k
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w
PD
h a n g e Vi
e
!
Santa Barbara. Đó chính là mạng liên khu vực (Wide Area Network - WAN) đầu
tiên được xây dựng14. Cơ quan này nghiên cứu lĩnh vực mạng, với ý đồ là chia sẻ
thông tin giữa các trung tâm nghiên cứu được chính phủ bảo trợ. Theo đó các máy
tính được liên kết với nhau và sẽ có khả năng tự định đường truyền tin ngay sau khi
một phần mạng đã được phá hủy15.
Thuật ngữ “Internet” xuất hiện lần đầu vào khoảng năm 197416. Mốc lịch sử
quan trọng của Internet được xác lập vào giữa thập niên 1980 khi Quỹ khoa học
quốc gia Mỹ NSF (National Science Foundation) thành lập mạng liên kết các trung
tâm máy tính lớn với nhau gọi là NSFNET (National Science Foundation Network).
Với khả năng kết nối mở như vậy, Internet đã trở thành một mạng lớn nhất trên thế
giới, mạng của các mạng, xuất hiện trong mọi lĩnh vực thương mại, chính trị, quân
sự, nghiên cứu, giáo dục, văn hoá, xã hội... Cũng từ đó, các dịch vụ trên Internet
không ngừng phát triển tạo ra cho nhân loại một thời kỳ mới: kỷ nguyên thương mại
điện tử trên Internet.
Internet mang lại rất nhiều lợi ích cho nền kinh tế - xã hội nói chung và ngành
công nghiệp bản quyền nói riêng. Theo truyền thống, con người phải dùng giấy, bút
để viết văn, làm thơ, soạn nhạc hay dùng bút lông và mực màu để vẽ tranh, dùng
bút và thước để thiết kế công trình kiến trúc,…. Tuy nhiên, khi máy vi tính xuất
hiện cùng với các phần mềm tương thích, con người có thể thể hiện ý tưởng sáng
14
Frank Bass (2007), Hướng dẫn tìm kiếm trên Internet và viết báo của hãng thông tấn AP, NXB Thông tấn,
Hà Nội, tr. 11-13.
15
Jacques Locquin (2003), Truyền thông đại chúng: Từ Thông Tin đến Quảng Cáo, NXB Thông Tấn, Hà
Nội, tr.23.
16
Sự hình thành và phát triển của internet. Bách khoa toàn thư mở Wikipedia.
.d o
w
w
w
bu
bu
y
N
O
W
!
XC
er
O
W
F-
w