BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN VĂN A
HOÀNG THỊ PHƯƠNG LY
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
HOÀNG THỊ PHƯƠNG LY
PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC DU LỊCH
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 60380102
Vi phạm hành chính : VPHC
MỤC LỤC
Trang
Mở đầu
1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH 7
TRONG LĨNH VỰC DU LỊCH
1.1. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch
7
1.1.1. Quan niệm
7
1.2.2. Đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch
12
1. 2. Khái niệm pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch.
14
1.2.1. Quan niệm
12
31
2.1.4. Hình thức xử lý
38
2.1.5. Thẩm quyền xử xý
46
2.1.6. Thủ tục xử lý VPHC
53
2.2. Thực tiễn thực hiện pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch
61
2.2.1. Quan niệm về thực hiện pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh 60
vực du lịch
2.2.2. Công tác thực hiện pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực du 61
lịch
Chương 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUY 66
ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ XỬ LÝ VPHC TRONG LĨNH VỰC DU
LỊCH
3.1. Yêu cầu và phương hướng hoàn thiện pháp luật về xử lý VPHC trong 66
lĩnh vực du lịch
3.1.1. Sự cần thiết hoàn thiện pháp luật về xử lý vi phạm hành chính 66
trong lĩnh vực du lịch
Chính phủ đã ban hành Nghị định số 158/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm
hành chính trong lĩnh vực văn hóa, thể thao, du lịch và quảng cáo, thay thế cho nghị
định 16/2012/NĐ-CP quy định về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch
đã tạo được một công cụ pháp lý vô cùng quan trọng để chấn chỉnh trật tự, kỷ
cương trong quản lý nhà nước về du lịch. Việc thay thế nghị định 16/2012/NĐ-CP
bằng nghị định 158/2013/NĐ-CP cho thấy bên cạnh xu hướng pháp điển hóa văn
bản về xử lý hành chính thì cũng phần nào đó thấy pháp luật về du lịch nói chung và
xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch nói riêng đang liên tục có sự cập nhật, thay đổi
và điều chỉnh. Mặc dù có sự pháp điển hóa quy định xử phạt ở cả ba lĩnh vực thuộc
thẩm quyền quản lý của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nhưng trên thực tế Nghị
định 158/2013/NĐ-CP lại không ghi nhận hết những ưu điểm trong nghị định trước
đó cụ thể trong lĩnh vực du lịch là nghị định số 16/2012/NĐ-CP khiến cho Nghị
8
định 158/ 2013/ NĐ-CP bộc lộ nhiều bất cập và việc xử lý VPHC trong lĩnh vực du
lịch hiên nay trở nên kém hiệu quả. Những tồn tại hiện nay trong pháp luật xử lý
VPHC trong lĩnh vực du lịch đã và đang gây ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhà
nước trong du lịch và không thể đảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ thể tham gia
lĩnh vực này.
Trong xu thế hội nhập hiện nay khi đã coi du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn
thì việc kiểm soát và xử lý vi phạm trong lĩnh vực du lịch đặt ra cấp thiết hơn bất cứ
lúc nào để có thể duy trì trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực du lịch chính vì
vậy học viên lựa chọn đề tài : “Pháp luật về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh
vực du lịch” làm đề tài luận văn nghiên cứu của mình với mong muốn tìm ra những
điểm bất cập trong pháp luật xử lý vi phạm hành chính về du lịch để có biện pháp
khắc phục, thống nhất và hoàn thiện hệ thống pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính về du lịch cũng như pháp luật về du lịch.
2. Tình hình nghiên cứu về xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du
hà nội,…
Tuy nhiên, vấn đề xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch dường như vẫn còn bỏ
ngỏ với rất ít các nghiên cứu đề cập đến xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch. Bên
cạnh đó các quy định pháp luật về xử lý vi phạm trong du lịch còn có nhiều điểm
cần hoàn thiện để đảm bảo trật tự quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực này.
Với cấp độ luận văn thạc sỹ luật học, đây là công trình tập trung vào nghiên cứu các
vấn đề cả về lý luận và thực tiễn pháp luật liên quan đến các quy định của nhà nước
về xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch để từ đó rút ra biện pháp đề hoàn thiện hơn
nữa Pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực này.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích:
- Mục tiêu gần: nghiên cứu và luận giải một số khái niệm liên quan đến vi
phạm và các biện pháp xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch; Đánh giá thực trạng
công tác thực hiện pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch; Đưa ra giải
pháp để hoàn thiện pháp luật xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch.
- Mục tiêu xa: Củng cố hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch
hướng tới tạo môi trường pháp luật du lịch phù hợp với xu thế hội nhập hiện nay.
10
3.2. Nhiệm vụ - Phân tích các vấn đề lý luận liên quan đến xử lý VPHC nói
chung và xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch nói riêng.
– Đánh giá công tác triển khai và tổ chức thực hiện pháp luật về xử lý
VPHC trong du lịch, dự báo những yếu tố tác động về công tác xử lý VPHC trong
lĩnh vực này và đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xử lý VPHC
trong lĩnh vực du lịch trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
– Quan điểm của Đảng về du lịch và phát triển du lịch.
- Phương pháp nghiên cứu phân tích, thống kê: Phương pháp này chủ yếu
thống kê các số liệu liên quan đến VPHC và các biện pháp xử lý được chủ thể có
thẩm quyền áp dụng, phân tích ưu, nhược điểm của các biện pháp áp dụng.
- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Đặt xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch
trong mối quan hệ với pháp luật về xử lý VPHC nói chung để đánh giá hiệu quả
thực hiện của các bện pháp xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch đang được pháp luật
quy định.
- Phương pháp tiếp cận liên ngành: Sử dụng kiến thức của ngành quản trị
kinh doanh du lịch và các ngành khác để phân tích hạn chế bất cập trong quy định
pháp luật hiện hành.
6. Ý nghĩa thực tiễn và lý luận của luận văn:
- Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần xây dựng hệ thống các khái niệm, đặc
điểm của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch, các biện pháp xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch.
- Ý nghĩa thực tiễn: Góp phần hoàn thiện cơ chế bảo vệ hành chính đối với
hoạt động quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực du lịch theo đúng chủ trương
đường lối của Đảng và nhà nước đối với việc phát triển du lịch hiện nay.
- Ý nghĩa nếu luận văn được bảo vệ thành công sẽ góp phần hoàn thiện hệ
thống pháp luật về xử lý vi phạm hành chính và pháp luật về du lich; là tài liệu tham
khảo cho những vấn đề liên quan.
7. Kết cấu của Luận văn :
12
- Phần mở đầu: Tính cấp thiết của đề tài; mục đích; đối tương; phạm vi
nghiên cứu; phương pháp nghiên cứu; những đóng góp mới của luận văn và giới
thiệu bố cục của luận văn.
- Phần nội dung: 03 chương của luận văn:
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
hàng loạt các nghị định để xác định hành vi vi phạm hành chính trong cách lĩnh vực
quản lý hành chính nhà nước cụ thể. Việc xác định VPHC “không phải là tội phạm”
cũng là một cách định nghĩa loại trừ cho thấy VPHC có mức độ nguy hiểm cho xã
hội nhẹ hơn tội phạm tuy nhiên cách định nghĩa này đôi khi đưa đến hiểu lầm rằng
cứ không phải tội phạm sẽ là VPHC nên cách quy định “theo quy định pháp luật sẽ
bị xử phạt vi phạm hành chính” là cách để giới hạn về VPHC cũng là cơ sở, yêu
cầu để các cơ quan nhà nước đưa ra các văn bản quy phạm về xử phạt VPHC trong
các lĩnh vực cụ thể làm căn cứ đấu tranh loại trừ các hành vi VPHC ra khỏi xã hội.
1 Xem: Khoản 1 điều 2 Luật xử lý VPHC 2012
14
Về mặt chủ quan hiện giờ Luật xử lý VPHC 2012 đang xác định VPHC
phải là hành vi có lỗi và dường như ta thấy lỗi ở VPHC mang tính chất suy đoán, áp
đặt có nghĩa là cứ có hành vi xâm hại được coi là có lỗi việc chứng minh không có
lỗi hay lỗi vô ý khi nào có yêu cầu thì chủ thể có thẩm quyền mới tiến hành giải
trình và chủ thể bị áp dụng biện pháp xử lý cũng thực hiện quyền giải trình này nếu
thấy cần bảo vệ quyền lợi của mình.
Về chủ thể trong định nghĩa VPHC đó là các cá nhân tổ chức có nghĩa chủ
thể bao gồm cả cá nhân là công dân Việt Nam và có thể cả người nước ngoài, người
không có quốc tịch, các tổ chức hợp pháp. Liên quan đến năng lực chịu trách nhiệm
pháp lý hành chính là điều kiện để xử lý VPHC đối với chủ thể, tuy không nói cụ
thể nhưng ta có thể nhận thấy thông qua việc ghi nhận VPHC là hành vi phải bị xử
phạt hành chính có nghĩa các chủ thể của VPHC đều phải là các cá nhân, tổ chức có
năng lực chịu trách nhiệm pháp lý hành chính.
Về khách thể của VPHC chính là trật tự quản lý hành chính nhà nước, cách
xác định này vừa khẳng định rõ phạm vi, vừa xác định rõ nội dung cụ thể của khách
thể bị xâm hại, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng các nghi định hướng dẫn thi
hành để xác định vi phạm hành chính trong các lĩnh vực cụ thể.
quan được giao quyền quản lý hành chính Nhà nước, người có thẩm quyền xem xét
vụ việc vi phạm và các quy định có liên quan của pháp luật để đưa ra các quyết định
về trách nhiệm pháp lí và các chế tài nhằm giải quyết vụ việc VPHC. Khác với hoạt
động xử lý tư pháp, xử lý VPHC là một hoạt động quản lí Nhà nước, được tiến hành
bởi các cơ quan quản lý hành chính nhà nước, người có thẩm quyền xử lý vi phạm
hành chính. Ở Việt Nam, xử lý VPHC bao gồm hai hình thức đó là xử phạt hành
chính và các biện pháp xử lý hành chính.
Để xử lý các vi phạm hành chính thì hình thức phổ biến và quan trọng nhất
được áp dụng đó là xử phạt hành chính. Xử phạt hành chính là hoạt động của các
chủ thể có thẩm quyền, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành áp dụng các
biện pháp xử phạt hành chính và các biện pháp cưỡng chế hành chính khác (trong
trường hợp cần thiết theo quy định pháp luật) đối với các cá nhân, tổ chức VPHC.
Hoạt động xử phạt hành chính có các đặc điểm sau đây:
16
- Xử phạt VPHC được áp dụng đối với cá nhân, tổ chức VPHC theo quy định
của pháp luật cũng có nghĩa VPHC là cơ sở để tiến hành xử phạt VPHC và chỉ xử
phạt với chính chủ thể VPHC.
- Xử phạt hành chính được tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo quy
định pháp luật. Các chủ thể này có thể là cơ quan quản lý Nhà nước hoặc người có
thẩm quyền khi thực hiện thẩm quyền xử phạt VPHC được nhà nước quy định.
- Xử phạt hành chính được tiến hành theo những nguyên tắc, trình tự, thủ tục
được quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính do các cơ
quan nhà nước có thẩm quyền ban hành.
- Kết quả của hoạt động xử phạt VPHC thể hiện ở quyết định xử phạt VPHC
ghi nhận các hình thức, biện pháp xử phạt áp dụng đối với tổ chức, cá nhân VPHC.
Xử phạt chính là biện pháp xử phạt được áp dụng với một VPHC, một người
có thể cùng một lúc thực hiện nhiều VPHC những với mỗi VPHC chỉ được áp dụng
và đảm bảo xử lý vi phạm hành chính. Bên cạnh xử phạt hành chính thì theo quy
định của pháp luật xử lý VPHC hiện hành ta còn có các biện pháp xử lý hành chính
được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã hội
nhưng chưa đến mức phải xử lý hình sự để thể hiện sự khoan dung của pháp luật.
Để đảm bảo hiệu quả trong công tác đấu tranh đối với VPHC trong lĩnh vực
du lịch, nhà nước còn quy định thêm các biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử lý
VPHC như tạm giữ tang vật, phương tiện, giấy phép, chững chỉ hành nghề,… được
áp dụng ngay khi phát hiện VPHC và được vận dụng phù hợp với quy định chung
của xử lý VPHC và xử lý VPHC trong du lịch.
Từ những ghi nhận chung về hoạt động xử lý VPHC kể trên ta có thể thấy xử
lý VPHC trong lĩnh vực du lịch cũng chỉ là hoạt động áp dụng pháp luật nhằm giải
quyết các vụ việc VPHC trong lĩnh vực du lịch mà cụ thể là những VPHC trong lĩnh
vực du lịch do cá nhân, tổ chức thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam. Hay nói cách
khác thì xử lý vi phạm hành chính trong trong lĩnh vực du lịch là một hoạt động áp
dụng pháp luật trong đó các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực du lịch hoặc
người có thẩm quyền căn cứ vào quy định của pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh
vực du lịch đưa ra các quyết định xử phạt hành chính hoặc các biện pháp xử lý hành
chính khi cá nhân, tổ chức VPHC trong lĩnh vực du lịch trên lãnh thổ Việt Nam.
18
1.2.2. Đặc điểm của xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch
Cơ sở của xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch là phải có VPHC trong lĩnh
vực du lịch; chủ thể VPHC trong lĩnh vực du lịch phải có năng lực chịu trách
nhiệm; và vụ việc VPHC trong lĩnh vực này phải còn thời hiệu xử lý. Việc xử lý
phải phù hợp với phạm vi điều chỉnh và chủ thể áp dụng của xử lý VPHC trong lĩnh
vực du lịch. Do đó việc xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch bên cạnh những đặc
điểm chung của xử lý VPHC thì xử lý vi phạm hành chính cũng có những đặc điểm
riêng phù hợp với yêu cầu của nhà nước trong đấu tranh phòng ngừa VPHC trong
và mức phạt cụ thể của từng cơ quan, từng người có thẩm quyền. Theo đó, các chủ
thể có thẩm quyền xử phạt VPHC trong du lịch bao gồm Chủ tịch Ủy ban nhân dân
các cấp, và thanh tra chuyên ngành nói chung và cụ thể là thanh tra chuyên ngành
Văn hóa, Thể thao và Du lịch ngoài ra thanh tra chuyên ngành khác thì tùy thuộc và
vấn đề liên quan trong phạm vi quản lý nhà nước và của địa phương mình đều có
thể là chủ thể có thẩm quyền xử phạt VPHC trong lĩnh vực du lịch. Về thẩm quyền
xử phạt VPHC cụ thể (hình thức và mức xử lý) trong lĩnh vực du lịch cũng được
phân định rõ cho từng chủ thể như phân định rõ thẩm quyền xử phạt VPHC về du
lịch của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp ( từ cấp xã đến cấp tỉnh ); Thanh tra viên
Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Chánh thanh tra Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch,
Chánh thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Thanh tra viên chuyên ngành,
Chánh thanh tra sở chuyên ngành, Chi cục trưởng các cục liên quan, Chánh thanh
tra Bộ chuyên ngành, Cục trưởng các cục liên quan đều có quy định các biện pháp
xử phạt với mức xử lý cụ thể.
- Phải sử dụng nhiều biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ trong thủ tục xử lý VPHC
trong lĩnh vực du lịch. Xử lý VPHC trong du lịch ngoài việc tuân theo các quy định
chung về xử lý VPHC bao gồm: thủ tục ra quyết định xử phạt VPHC (có thể là thủ
tục giản đơn hoặc thủ tục phức tạp); xử phạt VPHC được phát hiện, truy tìm bằng
phương tiện, kĩ thuật nghiệp vụ; thủ tục thi hành quyết định xử phạt VPHC; thời
hiệu, thời hạn trong xử phạt VPHC… Còn có một số yếu tố đặc thù của VPHC
trong lĩnh vực du lịch cũng phải được tính đến khi xác định thủ tục xử lý vi phạm ở
lĩnh vực này đó là các yếu tố như chủ thể VPHC về du lịch có mặt hay không tại nơi
20
xảy ra vi phạm, vấn đề xác định việc xâm hại đến hoạt động quản lý nhà nước về du
lịch là có hay không? Hậu quả như thế nào? Chủ thể vi phạm là ai? Chưa kể VPHC
trong lĩnh vực du lịch còn liên quan không nhỏ đến khách du lịch nước ngoài đến
các quy chế đối xử ngoại giao đến các quan điểm về văn hóa, lịch sử khiến cho việc
hình thức bên trong và hình thức bên ngoài. Hình thức bên trong của pháp luật
chính là sự liên kết, sắp xếp của các bộ phận, các yếu tố tạo nên hệ thống pháp luật,
xác định vị trí các bộ phận cấu thành của hệ thống pháp luật. Hình thức bên trong
bao gồm bao gồm: các chính sách pháp luật, các nguyên tắc pháp lí, các quy phạm
pháp luật, chế định luật và ngành luật, trong đó chính sách pháp luật và các nguyên
tắc pháp lí giữ vai trò chỉ đạo và định hướng cho toàn bộ hệ thống pháp luật. Hình
thức bên ngoài là sự biểu hiện ra bên ngoài của pháp luật, là căn cứ pháp lý trực tiếp
để áp dụng pháp luật. Cũng chính vì thế mà hình thức pháp luật còn được hiểu gần
với nguồn của pháp luật. Ở nước ta hình thức bên ngoài được thừa nhận chủ yếu
vẫn là các văn bản quy phạm pháp luật là những văn bản mà nội dung chứa quy
phạm pháp luật và được ban hành theo đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục do pháp
luật quy định.
Nội dung và hình thức của pháp luật đều có mối liên hệ chặt chẽ, có sự tác
động qua lại với nhau và được tập hợp theo những trật tự nhất định để tạo thành một
hệ thống. Trong khoa học pháp lý, khái niệm hệ thống pháp luật được xem xét ở
nhiều góc độ khác nhau. Ở góc độ cấu trúc hay còn gọi là hệ thống cấu trúc của
pháp luật thì hệ thống pháp luật được hiểu là “là một chỉnh thể gồm tất cả các quy
định pháp luật có sự liên kết và thống nhất nội tại với nhau được phân định thành
những bộ phận nhỏ hơn, phù hợp với tính chất và đặc điểm của các quan hệ xã hội
mà chúng điều chỉnh”3 Theo cách hiểu này thì hệ thống cấu trúc của pháp luật Việt
nam hiện nay khá phức tạp, bao gồm chỉnh thể thống nhất gồm nhiều thành tố, bộ
phận, trong đó thành tố cơ bản nhất là quy phạm pháp luật, chế định pháp luật và
ngành luật. Ngoài các bộ phận cơ bản trên còn có thể có thêm các thành tố không
phổ biến khác như phân ngành luật hoặc tổ hợp các ngành luật,… các bộ phận này
luôn có mối liên kết, ràng buộc, tác động qua lại và thống nhất với nhau tạo nên sự
thống nhất của hệ thống pháp luật. Biểu hiện sự tồn tại thực tế của hệ thống pháp
luật là hệ thống pháp luật thực định hay còn gọi là hệ thống nguồn pháp luật. Theo
3 Xem: Giáo trình lý luận nhà nước và pháp luật - trường Đại học Luật Hà nội, Nxb. CAND, 2010, Tr.495
22
xử lý còn dùng quy phạm ngành luật tố tụng hình sự để xác định thẩm quyền, trình
23
tự thủ tục. Đối với xử lý VPHC, pháp luật xử lý VPHC vừa quy định về hành vi
VPHC, các hình thức xử lý, mức xử phạt vừa quy định về thẩm quyền, thủ tục tiến
hành xử lý VPHC.
Từ nhận thức chung trên ta có thể đưa đến quan niệm về pháp luật về xử lý
VPHC trong lĩnh vực du lịch như sau:
Pháp luật xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch là hệ thống các văn bản quy
phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo hình thức,
trình tự, thủ tục luật định, trong đó chứa đựng các quy phạm pháp luật quy định
VPHC trong lĩnh vực du lịch, thẩm quyền, thủ tục và các biện pháp xử lý VPHC
trong lĩnh vực du lịch.
1.2.2. Đặc điểm của pháp luật xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch.
1.2.2.1. Đặc điểm chung
Pháp luật xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch vừa mang đặc điểm của pháp
luật về xử lý VPHC nói chung vừa mang những đặc điểm riêng cuả quản lý nhà
nước ở lĩnh vực này. Có thể thấy rằng, pháp luật về xử lý VPHC trong lĩnh vực du
lịch là một bộ phận trong pháp luật về xử lý VPHC. Vì vậy, khi nói đến pháp luật
về xử lý VPHC trong lĩnh vực du lịch sẽ bao gồm các quy phạm phần chung và các
quy phạm phần cụ thể áp dụng riêng với lĩnh vực du lịch.
Các quy phạm pháp luật của xử lý VPHC nói chung và xử lý VPHC trong
lĩnh vực du lịch nói riêng do nhiều chủ thể có thẩm quyền ban hành như: Quốc hội,
Chính phủ, các bộ. Ví dụ: Quốc hội ban hành Luật du lịch 2005 điều chỉnh các quan
hệ xã hội phát sinh liên quan đến hoạt động du lịch…; Luật xử lý VPHC 2012, quy
định những vấn đề chung trong xử lý VPHC như nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự,
thủ tục, các hình thức xử phạt, các biện háp xử lý khác các biện pháp ngăn chặn,
biện pháp khăc phục hậu quả, thời hiệu xử phạt,.. đây là văn bản đóng vai trò làm
bàn khu vực khác nhau và chưa kể còn liên quan cả đến quan hệ ngoại giao, hợp tác
quốc tế… do đó mà VPHC trong du lịch cũng rất phức tạp vì vậy bên cạnh cơ quan
quản lý nhà nước chuyên ngành về du lịch còn có sự tham gia của nhiều cơ quan
nhà nước và người được giao thẩm quyền khác trong việc xử lý VPHC trong lĩnh
vực du lịch như Thanh tra Văn hóa, Thể thao và Du lich, Thanh tra chuyên ngành
liên quan, Hải quan, Kiểm lâm,… những người có thẩm quyền bao gồm: Chủ tịch
Ủy ban nhân dân các cấp, Thanh tra viên, Chánh thanh tra sở, Chánh thanh tra bộ,
25