Quyền sở hữu nhà ở của người việt nam định cư ở nước ngoài tại việt nam (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ
Ở CỦA NGƯỜI VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT
NAM
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Khái niệm người Việt Nam định cư ở nước ngoài

10
10
10

1.1.2. Khái niệm nhà ở và quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định
cư ở nước ngoài

12

1.2. Quan điểm chính sách của Nhà nước Việt Nam về người Việt Nam
định cư ở nước ngoài

14

1.2.1. Chính sách đại đoàn kết toàn dân trong thời kỳ Công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước

15

1.2.2. Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về khuyến khích,

38

CHƯƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN SỞ HỮU NHÀ Ở CỦA NGƯỜI
VIỆT NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

39

2.1. Đối tượng, số lượng nhà được sở hữu và điều kiện để người Việt Nam
định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam

39


2.1.1. Đối tượng người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà
ở và số lượng nhà ở được sở hữu tại Việt Nam

39

2.1.2. Điều kiện người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà
ở tại Việt Nam

50

2.2. Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu nhà ở là người Việt Nam định cư ở
nước ngoài

54

2.2.1. Các quyền của người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi sở hữu
nhà ở tại Việt Nam

NAM ĐỊNH CƯ Ở NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM VÀ MỘT SỐ GIẢI
PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VIỆT NAM TRONG LĨNH VỰC
NÀY

74

3.1. Thực trạng mua bán nhà ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở
nước ngoài

74

3.2. Nguyên nhân dẫn đến những hạn chế, bất cập trong việc mua bán nhà
ở tại Việt Nam của người Việt Nam định cư ở nước ngoài

78

3.3. Một số kiến nghị hoàn thiện pháp luật về sở hữu nhà ở của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam

82


3.3.1. Hoàn thiện cơ sở pháp lý

84

3.3.2. Một số giải pháp khác

85


mạnh mẽ mọi nguồn lực, mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân để xây dựng
và bảo vệ Tổ quốc….đề cao tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, nhân
nghĩa, khoan dung để tập hợp, đoàn kết mọi người Việt Nam ở trong và ngoài
nước, tăng cường quan hệ mật thiết giữa nhân dân với Đảng, Nhà nước, tạo
sinh lực mới của khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Như vậy, để đạt được
những mục tiêu phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước chủ trương phát huy
cao độ nguồn lực bên trong với vai trò là nhân tố quyết định đối với sự phát
triển, đồng thời tranh thủ nguồn lực quan trọng bên ngoài tạo thành sức mạnh

1 http://vietnamnet.vn/vn/thoi-su/90272/hon-4-5-trieu-nguoi-viet-song-o-nuoc-ngoai.html ngày truy cập
15/06/2016.


5

tổng hợp để xây dựng đất nước, bao gồm nguồn lực của cộng đồng người Việt
Nam định cư ở nước ngoài cho sự nghiệp bảo vệ và phát triển đất nước.
Để đưa các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đối với cộng
đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài đi vào cuộc sống, cần phải thể
chế hóa các đường lối, chủ trương, chính sách này thành các quy định pháp
luật cụ thể. Pháp luật là công cụ không thể thiếu trong một Nhà nước phát
triển, khẳng định vai trò quan trọng của Nhà nước trong việc quản lý và điều
chỉnh các quan hệ xã hội. Trong thời gian qua, đã có nhiều quy định pháp luật
được ban hành, theo hướng tạo điều kiện thuận lợi cho người Việt Nam định
cư ở nước ngoài trong các mối liên hệ với đất nước, ghi nhận và bảo vệ các
quan hệ pháp luật mà người Việt Nam định cư ở nước ngoài đươc phép tham
gia tại Việt Nam; trong đó có thể kể đến chính sách pháp luật về nhà ở. Nếu
như trước đây do các điều kiện chính trị - xã hội, Nhà nước ta thực hiện
những chính sách rất cứng rắn trong lĩnh vực nhà ở, hạn chế quyền sở hữu
nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam, dẫn đến tình

Do vậy, việc nghiên cứu đề tài “Quyền sở hữu nhà ở của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam” là một nhiệm vụ vô cùng quan trọng,
cấp thiết trong giai đoạn hiện nay, nhằm tìm hiểu thực trạng các quy định của
pháp luật về vấn đề này, nhận thấy những khó khăn, bất cập còn tồn tại, tìm ra
nguyên nhân và đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp
luật; một mặt tạo điều kiện thuận lợi cho việc sở hữu nhà ở tại Việt Nam của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài, mặt khác tạo ra sự thông thoáng, hiệu
quả trong công tác quản lý nhà ở của các cơ quan nhà nước.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chính sách cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở
hữu nhà ở tại Việt Nam đã được triển khai từ lâu, cùng với đó là một loạt các
văn bản pháp luật được ban hành điều chỉnh về vấn đề này. Đã có không ít
các công trình, đề tài, bài viết nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan
đến vấn đề này. Dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu như:
Các sách tham khảo, bài viết trong tạp chí
Nguyễn Hồng Bắc (2002), “Một số vấn đề pháp lý về người Việt Nam
định cư ở nước ngoài”, tạp chí Luật học, trường Đại học Luật Hà Nội, số
2/2002, tr. 3-6.


7

Doãn Hồng Nhung (2005), “Hành lang pháp lý mới cho người Việt Nam
định cư ở nước ngoài, tổ chức, cá nhân nước ngoài sử dụng đất ở tại Việt Nam”,
tạp chí Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, số 1/2005, tr. 41-46.
Tưởng Duy Lượng (2008), “Hướng xử lý việc người Việt Nam định cư
ở nước ngoài mua nhà, đất nhưng nhờ người khác đứng tên hộ”, tạp chí Tòa
án nhân dân, Tòa án nhân dân tối cao, số 6/2008, tr. 17-23.
Doãn Hồng Nhung (2010), “Pháp luật về nhà ở cho người Việt Nam
định cư ở nước ngoài và người nước ngoài tại Việt Nam”, Sách chuyên khảo,

Phạm Thu Hương (2014), “Thực trạng và hướng hoàn thiện một số quy
định pháp luật về quốc tịch và nhà ở đối với người Việt Nam định cư ở nước
ngoài”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội.
Như vậy, các công trình kể tên trên đã nghiên cứu một số vấn đề về sở
hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam. Tuy
nhiên, các công trình, bài viết, nghiên cứu hầu như mới chỉ đề cập đến những
quy định chung về pháp luật nhà ở áp dụng đối với người Việt Nam định cư ở
nước ngoài giai đoạn Luật Nhà ở năm 2005 đang có hiệu lực. Còn hiện nay,
khi Luật Nhà ở năm 2014 đã có hiệu lực, thì vấn đề pháp lý về sở hữu nhà ở
của nhóm đối tượng này và thực trạng sở hữu nhà ở của họ ra sao hiện vẫn
chưa có nhiều bài viết đánh giá. Việc nghiên cứu đề tài “Quyền sở hữu nhà ở
của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam” theo quy định của
Luật Nhà ở năm 2014 có so sánh với các văn bản pháp luật giai đoạn trước là
điểm mới cơ bản của đề tài.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
Pháp luật về quyền sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước
ngoài là vấn đề rộng. Chính sách cho phép người Việt Nam định cư ở nước
ngoài được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam được quy định lần đầu tiên tại
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật đất đai 2001. Do vậy, tại luận văn
này, tác giả không đề cập đến các quy định của pháp luật về đất đai, nhà ở
trong các chính sách về nhà đất trong quá trình cải tạo XHCN, các chính sách
pháp luật về giao dịch dân sự về nhà đất trước ngày 01/07/1991, cũng như nhà
đất liên quan đến thừa kế đã được điều chỉnh bằng pháp luật dân sự. Tại luận


9

văn này, tác giả tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật về mua và sở
hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong giai đoạn từ năm
2001 đến nay, đặc biệt là kể từ khi Luật Nhà ở năm 2014 được ban hành. Luận

5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Xuyên suốt quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả đặt ra các câu hỏi để trả
lời và đánh giá nhằm đạt được mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ đã đề ra của
luận văn như sau:
- Thế nào là người Việt Nam định cư ở nước ngoài?
- Pháp luật Việt Nam có cho phép người Việt Nam định cư ở nước
ngoài được quyền sở hữu nhà ở tại Việt Nam không? Những đối tượng, điều
kiện như thế nào thì được quyền sở hữu? Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu
nhà là người Việt Nam định cư ở nước ngoài được quy định ra sao?
- Các nội dung quy định của pháp luật về lĩnh vực này qua các thời kỳ
đã ngày càng được hoàn thiện như thế nào? Thực trạng thực thi pháp luật ra
sao? Những hiệu quả đạt được và những hạn chế, bất cập còn tồn tại?
- Nguyên nhân vì sao còn tồn tại những hạn chế, bất cập? Yêu cầu và
giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong
thực tế?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở lập trường xuất phát và quan
điểm tiếp cận các nguyên tắc cơ bản của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ
nghĩa duy vật lịch sử, cơ sở lý luận chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước và pháp luật, quan điểm của Đảng và Nhà nước về chính
sách đối với cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Các phương pháp nghiên cứu khoa học được tác giả sử dụng bao gồm :
- Phương pháp thu thập, phân tích, liệt kê, tổng hợp các thông tin, tư
liệu liên quan đến nội dung nghiên cứu như các quan điểm, đường lối của
Đảng và Nhà nước; các số liệu về nhu cầu và thực trạng sở hữu nhà ở của
người Việt Nam định cư ở nước ngoài; tham khảo các công trình nghiên cứu
trong nước và nước ngoài về sở hữu nhà ở của nhóm đối tượng này;….
- Phương pháp khảo sát thực tế để tìm ra những vấn đề vướng mắc, tồn
tại trong lĩnh vực sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài.


nước ngoài.


12

Thứ tư, luận văn nêu lên ý nghĩa của việc cho phép người Việt Nam định
cư ở nước ngoài sở hữu nhà ở tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế của
Việt Nam. Kể từ Đại hội Đảng lần thứ X, Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh
đến vai trò của cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong tiến trình
hội nhập của Việt Nam và thế giới. Đây chính là cầu nối thúc đẩy quan hệ kinh
tế, chính trị, xã hội giữa Việt Nam và các nước, các tổ chức trên thế giới. Việc
cho phép người Việt Nam định cư ở nước ngoài được sở hữu nhà ở tại Việt Nam
thể hiện chính sách mở cửa của Đảng và Nhà nước, nhằm tạo sự bình đẳng giữa
công dân Việt Nam trong nước với người Việt Nam định cư ở nước ngoài, phù
hợp với xu hướng của các quốc gia trên thế giới.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận và danh mục tài liệu tham khảo,
phần Nội dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về quyền sở hữu nhà ở của người Việt
Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam.
Chương 2: Những nội dung của pháp luật điều chỉnh về quyền sở hữu
nhà ở của người Việt Nam định cư ở nước ngoài tại Việt Nam.
Chương 3: Thực trạng sở hữu nhà ở của người Việt Nam định cư ở
nước ngoài tại Việt Nam và một số giải pháp hoàn thiện pháp luật Việt Nam
trong lĩnh vực này.


13

CHƯƠNG 1

14

4 Điều 2 Luật Quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định: “Người Việt Nam
định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam và là người gốc Việt Nam cư trú,
làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài”.
Thống nhất với quy định của Luật Quốc tịch, Nghị định 81/2001/NĐCP của Chính phủ ngày 05/11/2001 quy định về việc Người Việt Nam định
cư ở nước ngoài mua nhà ở tại Việt Nam quy định: “Người Việt Nam định cư
ở nước ngoài theo Nghị định này là công dân Việt Nam và người gốc Việt
Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài đã được quy định tại Luật
quốc tịch Việt Nam ngày 1/1/1999” (Điều 2).
Sau đó, tại khoản 1 Điều 65 Nghị định số 90/2006/NĐ-CP ngày
06/09/2006 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Nhà ở định nghĩa:
“Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là công dân Việt Nam hoặc người
gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài theo quy định
của Luật Quốc tịch Việt Nam ngày 20/05/1998 (có hiệu lực từ 1/1/1999)”.
Trong đó, công dân Việt Nam là người có quốc tịch Việt Nam bao gồm hai
trường hợp họ là những người có quốc tịch Việt Nam làm ăn, sinh sống lâu
dài ở nước ngoài và chưa nhập quốc tịch của bất kỳ nước nào hoặc họ là
những người còn giữ quốc tịch Việt Nam nhưng đã nhập quốc tịch nước
ngoài; còn người gốc Việt Nam cư trú, làm ăn, sinh sống lâu dài ở nước ngoài
thì chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể.
Khi Luật Quốc tịch Việt Nam 2008 ra đời thay thế Luật Quốc tịch Việt
Nam năm 1998, quy định về người Việt Nam định cư ở nước ngoài rõ ràng và
chi tiết hơn. Khoản 3 Điều 3 Luật quốc tịch Việt Nam năm 2008 kế thừa quy
định của Luật quốc tịch Việt Nam năm 1998 quy định về người Việt Nam
định cư ở nước ngoài như sau: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài là
công dân Việt Nam và người gốc Việt Nam cư trú, sinh sống lâu dài ở nước
ngoài”; đồng thời khoản 4 Điều 3 bổ sung định nghĩa về người gốc Việt Nam
định cư ở nước ngoài: “là người Việt Nam đã từng có quốc tịch Việt Nam mà



2 Nguyễn Như Ý ( chủ biên), Từ điển Tiếng Việt, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2001, Tr.514.


16

3. Nhà chung cư là nhà có từ 2 tầng trở lên, có nhiều căn hộ, có lối đi,
cầu thang chung, có phần sở hữu riêng, phần sở hữu chung và hệ thống công
trình hạ tầng sử dụng chung cho các hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, bao gồm
nhà chung cư được xây dựng với mục đích để ở và nhà chung cư được xây
dựng có mục đích sử dụng hỗn hợp để ở và kinh doanh.
4. Nhà ở thương mại là nhà ở được đầu tư xây dựng để bán, cho thuê,
cho thuê mua theo cơ chế thị trường.
5. Nhà ở công vụ là nhà ở được dùng để cho các đối tượng thuộc diện
được ở nhà công vụ theo quy định của Luật này thuê trong thời gian đảm
nhận chức vụ, công tác.
6. Nhà ở để phục vụ tái định cư là nhà ở để bố trí cho các hộ gia đình,
cá nhân thuộc diện được tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở, bị giải tỏa
nhà ở theo quy định của pháp luật.
7. Nhà ở xã hội là nhà ở có sự hỗ trợ của Nhà nước cho các đối tượng
được hưởng chính sách hỗ trợ về nhà ở theo quy định của Luật này”.
Quyền sở hữu là một trong những quyền cơ bản và hợp pháp của công
dân được pháp luật nước ta bảo hộ. Theo quy định của Bộ luật dân sự nước ta,
quyền sở hữu là quyền mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện
trong quá trình chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản. Điều 164 Bộ luật dân
sự 2005 quy định: “Quyền sở hữu bao gồm quyền chiếm hữu, quyền sử dụng
và quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu theo quy định của pháp luật. Chủ
sở hữu là cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác có đủ ba quyền là quyền chiếm
hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt tài sản”. Kế thừa quy định này, Điều
158 Bộ luật dân sự năm 2015 quy định về quyền sở hữu như sau: “Quyền sở

Thực hiện chính sách “luôn luôn coi cộng đồng người Việt Nam ở nước
ngoài là một bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam”; Nhà
nước Việt Nam có chính sách mở đối với người Việt Nam định cư ở nước
ngoài, luôn tạo điều kiện để công dân Việt Nam định cư ở nước ngoài thực
hiện quyền và nghĩa vụ công dân; người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài
giữ mối quan hệ gắn bó với quê hương, đất nước.
Pháp luật Việt Nam chú trọng đến việc mở rộng việc hưởng các quyền
lợi cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài khi họ tham gia vào quan hệ
dân sự theo nghĩa rộng ở Việt Nam.


18

1.2.1. Chính sách đại đoàn kết toàn dân trong thời kỳ Công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước
Đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Từ trước năm
1930, khi Đảng Cộng sản Việt Nam chưa ra đời, trong hành trình đi tìm
đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khi đó là Nguyễn Ái Quốc đã sớm
nhận thấy vai trò quan trọng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài và
đã tích cực tạo lập cơ sở, xây dựng tổ chức ở nước ngoài để phục vụ cho cách
mạng trong nước. Năm 1945, đất nước giành được độc lập, Đảng ta và Chủ
tịch Hồ Chí Minh đã nhiều dịp kêu gọi, động viên đồng bào ta ở nước ngoài
phát huy tinh thần yêu nước, tranh thủ nhân dân sở tại, ủng hộ đất nước.
Trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp kéo dài suốt 9 năm
(1946 - 1954), đồng bào ta ở nước ngoài đã nêu cao tinh thần yêu nước, tham
gia kháng chiến theo nhiều hình thức khác nhau. Từ năm 1954 đến năm 1975,
nhiệm vụ trọng tâm của công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là vận
động kiều bào tham gia công cuộc xây dựng miền Bắc, đấu tranh giải phóng
miền Nam, thống nhất đất nước. Nhiều trí thức và kiều bào đã tình nguyện hồi
hương, đem kiến thức và tài sản tích lũy được góp phần xây dựng và đấu

phần xây dựng quê hương, đất nước”.
Như vậy, với việc ghi nhận địa vị pháp lý của người Việt Nam định cư
ở nước ngoài vào Hiến pháp Việt Nam, cho thấy, Đảng và Nhà nước ta hết
sức coi trọng việc giữ gìn mối quan hệ khăng khít giữa cộng đồng người Việt
Nam định cư ở nước ngoài với quê hương, luôn coi họ là một bộ phận của
cộng đồng dân tộc Việt Nam. Tư tưởng này càng ngày càng được quán triệt
sâu sắc trong đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước ta.
Báo cáo Chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ X của Đảng có nêu: “Đồng bào định cư ở nước ngoài
là một bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc
Việt Nam, là nhân tố quan trọng góp phần tăng cường quan hệ hợp tác hữu
nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước. Nhà nước ta tạo điều kiện
thuận lợi và hỗ trợ đồng bào ổn định cuộc sống, chấp hành tốt pháp luật
nước sở tại; bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của đồng bào. Làm tốt công
tác thông tin trong cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài về tình hình


20

trong nước và các chủ trương, chính sách của nhà nước. Có chính sách
khuyến khích người Việt Nam, tri thức Việt Nam ở nước ngoài hướng về quê
hương, góp phần xây dựng đất nước, khen thưởng những người có nhiều
thành tích đóng góp cho Tổ quốc”.
Đặc biệt, Nghị quyết số 36/NQ-TƯ ngày 26/03/2004 của Bộ chính trị
về công tác đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài đã thể hiện sự quan
tâm sâu sắc của Đảng và Nhà nước ta đối với bộ phận người Việt Nam ở nước
ngoài và một lần nữa khẳng định quan điểm nhất quán của Đảng ta luôn coi
cộng đồng người Việt Nam định cư ở nước ngoài là một bộ phận không thể
tách rời, một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam; đồng thời góp phần
tăng cường sức mạnh đại đoàn kết dân tộc, khơi dậy lòng yêu nước, huy động

vận động người Việt Nam định cư ở nước ngoài.
Thực hiện trên tinh thần của Nghị quyết, công tác về người Việt Nam ở
nước ngoài đã có những đột phá mạnh mẽ và toàn diện trên tất cả các mặt.
Nhiều chủ trương, chính sách đã được ban hành theo hướng tạo điều kiện
ngày càng thuận lợi hơn cho người Việt Nam ở nước ngoài trên các lĩnh vực:
xuất nhập cảnh, cư trú, hồi hương, quốc tịch, hộ tịch, về đầu tư kinh doanh; về
quyền được mua và sở hữu nhà ở tại Việt Nam...
Luật quốc tịch năm 1998 quy định đối với người gốc Việt Nam định cư
ở nước ngoài, tại Điều 7 có quy định :
“1. Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chính sách
khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người gốc Việt Nam ở nước ngoài
giữ quan hệ gắn bó với gia đình và quê hương, đất nước. 2. Nhà nước có
chính sách tạo điều kiện thuận lợi cho người đã mất quốc tịch Việt Nam được
trở lại quốc tịch Việt Nam”.
Năm 2008, Luật quốc tịch 2008 ra đời, chính sách này một lần nữa
được khẳng định lại. Nhà nước tiếp tục ban hành và thực hiện các chính sách
hỗ trợ người Việt Nam định cư ở nước ngoài như: Chính sách miễn thị thực,
chính sách một giá dịch vụ, và đặc biệt là chính sách nhằm giải quyết vấn đề
nhà ở cho người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Các chính sách này đã góp
phần đảm bảo quyền lợi, đồng thời động viên, khuyến khích người Việt Nam
định cư ở nước ngoài trở về sinh sống và đầu tư kinh doanh ở Việt Nam.


22

Tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Báo cáo của Ban
Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về các văn kiện Đại hội XII của Đảng
do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng trình bày tại phiên khai mạc Đại hội XII
của Đảng đã tổng kết đánh giá kết quả lãnh đạo và phát triển đất nước sau 30
năm đổi mới, trong đó nhấn mạnh chính sách “Đại đoàn kết dân tộc là đường

Năm 2005, Luật đầu tư số 59/2005/QH11 tại Việt Nam được ban hành,
đã tạo ra một môi trường đầu tư bình đẳng giữa các nhà đầu tư trong nước,
nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư người Việt Nam định cư ở nước ngoài,
tăng thêm sức hấp dẫn cho môi trường đầu tư tại Việt Nam. Năm 2014, Luật
đầu tư số 67/2014/QH13 được ban hành ngày 26/11/2014, và chính thức có
hiệu lực từ ngày 01/07/2015, đã một lần nữa đã khẳng định các chính sách
khuyến khích và đảm bảo đầu tư của Nhà nước ta, nhằm tạo ra một hành lang
pháp lý thống nhất và đồng bộ, thu hút đầu tư nước ngoài vào Việt Nam; đặc
biệt là với các chính sách ưu đãi dành cho nhà đầu tư là người Việt Nam định
cư ở nước ngoài.
Nhằm khuyến khích và thu hút nhà đầu tư người Việt Nam định cư ở
nước ngoài, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chính dành nhiều ưu đãi cho nhà
đầu tư là đối tượng này; cụ thể:
Chính sách giảm thuế
Luật Đầu tư nước ngoài năm 1996, tại Điều 44 đã quy định mức thuế
suất chuyển lợi nhuận ra nước ngoài của các nhà đầu tư người Việt Nam định
cư ở nước ngoài khi đầu tư tại Việt Nam như sau: “Người Việt Nam định cư ở
nước ngoài đầu tư về nước theo quy định của Luật này được giảm 20% thuế
lợi tức so với các dự án cùng loại, trừ trường hợp được hưởng mức thuế lợi
tức là 10%; được hưởng mức thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài là 5% số
lợi nhuận chuyển ra nước ngoài”. Đến năm 2000, Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều Luật đầu tư nước ngoài số 18/2000/QH10 được ban hành ngày
09/06/2000, đã sửa đổi Điều 44 Luật đầu tư nước ngoài năm 1996, cho phép
người Việt Nam định cư ở nước ngoài hưởng thuế suất chuyển lợi nhuận ra
nước ngoài ở mức thấp nhất là 3% thay cho mức 5% được quy định trước
đây: “12. Điều 44 được sửa đổi như sau:


24


được sửa theo hướng thuận lợi hơn, cụ thể người nhập cảnh Việt Nam bằng
Giấy miễn thị thực, được tạm trú tại Việt Nam không quá 90 ngày cho mỗi
lần nhập cảnh, nếu có nhu cầu ở lại quá 90 ngày, được cơ quan, tổ chức, cá



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status