Trách nhiệm bồi thường nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM THANH LOAN

TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG NHÀ NƯỚC TRONG
LĨNH VỰC QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2016
Hhhhhhhhhhhhhhhhhhhhh
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

PHẠM THANH LOAN


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan Luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập của cá
nhân tôi.


Nội dung cũng như mọi thông tin và số liệu trong luận văn này là trung

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

BLDS

Bộ luật dân sự

BTTH

Bồi thường thiệt hại

HP

Hiến pháp


NXB

Nhà xuất bản

TNBTCNN

Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

TTLT

Thông tư liên tịch

Tr

Trang


5

1.1.2.

Vai trò trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

6

1.1.3

Đặc điểm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

9

1.1.4.

Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

14

1.2.

Một số vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong 16
lĩnh vực quản lý hành chính

1.2.1.

Khái niệm cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, hoạt động quản lý hành 16
chính Nhà nước, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực

2.2.1.

Những trường hợp Nhà nước có trách nhiệm bồi thường

34

2.2.2.

Những trường hợp Nhà nước không chịu trách nhiệm bồi thường

40


2.3.

Quy định của pháp luật về xác định thiệt hại được Nhà nước bồi 44
thường trong lĩnh vực quản lý hành chính

2.3.1.

Xác định thiệt hại do tổn thất về vật chất

45

2.3.2.

Xác định thiệt hại do tổn thất về tinh thần

52



62

2.5.2.

Căn cứ xác định mức hoàn trả và các trường hợp xác định mức hoàn trả

62

2.5.3.

Trình tự, thủ tục quyết định việc hoàn trả

64

2.5.4.

Thẩm quyền ra quyết định hoàn trả và hiệu lực của quyết định hoàn trả

65

2.5.5.

Phương thức thực hiện việc hoàn trả, quản lý, sử dụng tiền hoàn trả và 65
việc xử lý người thi hành công vụ cố ý không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả

2.6

Thời hiệu yêu cầu bồi thường thiệt hại Nhà nước trong hoạt động 67
quản lý hành chính

3.2.1.

Về điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường

80

3.2.2.

Về thời hiệu yêu cầu bồi thường

81

3.2.3.

Về phạm vi yêu cầu bồi thường

82

3.2.4.

Về việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường

83

3.2.5.

Về trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường

85


lĩnh vực quản lý hành chính, đánh giá những điểm tích cực và hạn chế nhằm đưa ra quan
điểm và giải pháp về lĩnh vực này, người viết đã chọn vấn đề: “Trách nhiệm bồi thường
Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay, ở nước ta chỉ có một số ít các công trình nghiên cứu chuyên sâu về
“Trách nhiêm bồi thường Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính”. Ở những khía
cạnh khác về vấn đề bồi thường Nhà nước, đã có một số công trình nghiên cứu liên
quan như:
- Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường do Tiến sĩ Nguyễn Minh Tuấn làm
chủ nhiệm đề tài: “Trách nhiệm dân sự của cơ quan tổ chức về thiệt hại do hành vi của
cán bộ, công chức gây ra - Vấn đề lý luận và thực tiễn”, Trường Đại học Luật Hà Nội,
năm 2008.
- Phùng Trung Tập – Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng về tài sản , sức khỏe
và tính mạng - sách chuyên khảo - Nhà Xuất bản Hà Nội - 2009.


10

- Đỗ Văn Đại, Nguyễn Trương Tín – Pháp luật Việt Nam về trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước – sách chuyên khảo – Nhà Xuất bản Tư pháp Hồ Chí Minh –
2015.
Các công trình nghiên cứu khoa học trên đã đi sâu vào nghiên cứu vấn đề bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong đó có trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Mỗi tác giả nghiên cứu vấn đề theo một khía cạnh khác nhau hoặc dưới góc độ
nguyên tắc và chưa đi sâu vào vấn đề cụ thể về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
trong lĩnh vực quản lý hành chính.
- Lê Mai Anh - Luận án tiến sĩ – Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền
của cơ quan tố tụng gây ra - Trường đại học Luật Hà Nội - 2002. Nội dung của Luận
án đề cập đến nhiều vấn đề có tính tham khảo quan trọng cho việc thực hiện đề tài
nghiên cứu của tác giả như: đặc điểm, nội dung, bản chất của trách nhiệm nhà nước

hành chính là đề tài rộng, chứa đựng nhiều vấn đề phức tạp về lý luận và thực tiễn.
Luận văn nghiên cứu một cách sơ lược những quy định pháp luật của Việt Nam về
trách nhiệm BTTH của nhà nước. Từ đó đi sâu vào nghiên cứu, tìm hiểu nội dung của
pháp luật Việt Nam về vấn đề trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực
hành chính. Đồng thời luận văn cũng tìm hiểu tình hình thực tiễn thi hành pháp luật về
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói chung và trong lĩnh vực hành chính nói
riêng.
5. Cơ sở và phương pháp nghiên cứu
+ Cơ sở lý luận:
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam đối với trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực hành chính trong bối cảnh xây dựng Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa.
Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu, luận văn còn căn cứ vào các văn bản pháp luật
Việt Nam quy định về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành
chính và tài liệu của một số nước trên thế giới về lĩnh vực này.
+ Phương pháp nghiên cứu:
Trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng, Chủ nghĩa duy vật
lịch sử, người viết đã lựa chọn phương pháp nghiên cứu phù hợp với từng nội dung luận
văn như phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp so sánh, đối chiếu,
phương pháp phân tích kết hợp giữa lý luận và thực tiễn.
6. Kết cấu đề tài
Kết cấu của luận văn, ngoài lời mở đầu, kết luận, các danh mục tài liệu, bao gồm
ba chương chính như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong
lĩnh vực quản lý hành chính


12


và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra; vì vậy BTTH là hình thức
trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu
quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị
thiệt hại. Với quan niệm thiệt hại là sự không nguyên vẹn như trạng thái ban đầu của
sự vật sau khi chịu sự tác động bên ngoài, vì vậy BTTH có thể hiểu là trách nhiệm
khôi phục lại tình trạng ban đầu của sự vật hiện tượng. Về mặt pháp lý, thiệt hại là
những tổn thất về tài sản, tổn thất về tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân
phẩm; vì vậy, BTTH là sự khôi phục lại những tổn thất trên bằng những cách thức và
tiêu chí do pháp luật đặt ra và yêu cầu thực hiện.
Như vậy, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là một hình thức trách nhiệm dân sự
mà theo đó bên có hành vi vi phạm gây ra thiệt hại về mặt vật chất hoặc tinh thần cho
người khác thì phải bồi thường những tổn thất mà mình gây cho bên bị thiệt hại.
Trách nhiệm BTTH từ hành vi xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân,
tổ chức khác là trách nhiệm pháp lý được xác định với mọi chủ thể, kể cả Nhà nước.


14

Nhà nước là một chủ thể đặc biệt, do nhân dân thành lập ra và bộ máy nhà nước thực
hiện quyền lực nhà nước thông qua sự ủy thác của nhân dân. Nhà nước quản lý mọi
mặt của đời sống xã hội thông qua hệ thống các cơ quan nhà nước mà cụ thể là đội
ngũ cán bộ, công chức được cơ quan nhà nước có thẩm quyền giao thực hiện nhiệm
vụ (người thi hành công vụ) - Khoản 1 Điều 3 Luật TNBTCNN 2009. Các hoạt động
công vụ thường do cán bộ, công chức thực hiện và có sự gắn bó chặt chẽ với quyền
lực nhà nước. Vì thế, trong quá trình thực thi công vụ, cán bộ, công chức luôn mang
quyền lực nhà nước, đây là công cụ pháp lý để cán bộ, công chức thực hiện nhiệm vụ,
quyền hạn của mình theo pháp luật.
Người thi hành công vụ nhân danh nhà nước thực hiện những công việc được
Nhà nước giao nhằm phục vụ và bảo vệ lợi ích của nhân dân. Tuy nhiên, hoạt động
công vụ là hoạt động rộng lớn bởi nó bao gồm tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội

thể phủ nhận trong một Nhà nước pháp quyền và xã hội dân chủ: một chủ thể bao gồm
cả Nhà nước nếu có hành vi xâm phạm một cách trái pháp luật và gây những thiệt hại
về tài sản cũng như thân thể và danh dự của chủ thể khác thì phải bù đắp những tổn
thất mà mình gây ra cho chủ thể bị thiệt hại.
Cơ sở của chế định BTTH của Nhà nước chính là dựa trên các quyền của công
dân (trong đó có quyền được BTTH khi bị người khác xâm phạm đến tài sản, thân thể,
danh dự, uy tín của mình), các quyền này được pháp luật ghi nhận, bảo hộ và được
bảo đảm thực hiện bởi Nhà nước. Chế định pháp lý về trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước chỉ có thể xuất hiện ở một xã hội hiện đại, đề cao tính dân chủ và tôn trọng
các quyền, lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong xã hội.
Có thể thấy, vai trò trách nhiệm BTTH của Nhà nước thể hiện qua các nội dung
cơ bản sau đây:
- Chế định trách nhiệm BTTH của Nhà nước là một cơ chế pháp lý hiệu quả
để ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực nhà nước.
Nhà nước là chủ thể duy nhất có quyền quản lý và điều hành xã hội thông qua
quyền lực công đã được ghi nhận. Tuy nhiên vì là chủ thể duy nhất nắm giữ quyền lực
nên thường Nhà nước có xu hướng lạm dụng quyền lực. Sự lạm dụng thường biểu
hiện cụ thể về hình thức đó là sự vi phạm pháp luật trong quá trình thực thi quyền lực
và hậu quả là sự xâm phạm đến các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể chịu sự
quản lý. Chính vì vậy, chế định pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là
một cơ chế pháp lý rất hiệu quả trong việc hạn chế và ngăn ngừa sự lạm dụng quyền
lực của Nhà nước. Việc Nhà nước quy định trách nhiệm pháp lý của mình hoàn toàn
không phải là hạn chế quyền lực hay chủ quyền trong mối quan hệ với công dân, mà
chính là nâng cao trách nhiệm của Nhà nước, là biện pháp bảo đảm cho các quyền tự
do của công dân; bảo đảm sự thực thi những chủ trương, chính sách pháp luật mang


16

tính cải cách trong xã hội, góp phần nâng cao uy tín, vị thế của nhà nước, làm tăng sự

yêu cầu của việc bảo đảm các quyền con người cũng như phù hợp với xu thế
chung của thế giới.


17

Từ những yêu cầu cơ bản đối với việc đảm bảo các quyền con người, quyền yêu
cầu giải quyết BTTH do người thi hành công vụ gây ra là một trong những quyền cơ
bản về dân sự, chính trị của con người. Tại Khoản 5, Điều 9, Công ước quốc tế về các
quyền dân sự và chính trị ngày 16/12/1966, có hiệu lực từ ngày 23/3/1976 (Cộng hòa
xã hội chủ nghĩa Việt Nam gia nhập ngày 24/9/1982) đã tuyên bố: “Bất cứ người nào
trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam cầm bất hợp pháp đều có quyên yêu
cầu được bồi thường”. Bên cạnh đó, thực tiễn pháp lý trên thế giới cho thấy có rất
nhiều quốc gia đã có các quy định pháp luật về trách nhiệm của Nhà nước. Cụ thể như
Nhật Bản là nước mà pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước rất hiệu quả.
Từ năm 1947, Nhật Bản đã thông qua Luật bồi thường nhà nước và đã khẳng định
được ý nghĩa to lớn của nó. Trung Quốc cũng đã có riêng một hệ thống pháp luật về
trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.Văn bản pháp luật hiện nay được áp dụng để
giải quyết các yêu cầu bồi thường Nhà nước là Luật về trách nhiệm bồi thường thiệt
hại của Nhà nước được Quốc hội Trung Quốc thông qua năm 1994. Các nước như
Đức, Pháp, Philippine… cũng có các quy định pháp luật về trách nhiệm bồi thường
của Nhà nước. Có thể thấy, không chỉ hòa vào xu thế chung của thế giới mà việc thừa
nhận trách nhiệm của Nhà nước cũng phù hợp với nền dân chủ mà chúng ta đang nỗ
lực xây dựng.
1.1.3. Đặc điểm trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Mọi công dân đều được Nhà nước bảo hộ về tính mạng, sức khỏe, danh dự và
nhân phẩm. Bất cứ một chủ thể nào có hành vi xâm hại đến thân thể, tài sản hay danh
dự của người khác thì phải BTTH theo quy định của pháp luật. Quyền được bồi
thường khi bị thiệt hại là một quyền cơ bản của công dân được quy định cụ thể trong
Hiến pháp – Khoản 2 Điều 30 HP 2013 và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Đây là

nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là một loại trách nhiệm dân sự mà người có hành vi trái
pháp luật xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại
thì phải bồi thường.
Trách nhiệm BTTH của Nhà nước mang một số đặc điểm chung của trách nhiệm
BTTH ngoài hợp đồng như:
Thứ nhất, về nguồn gốc phát sinh. Trong quá trình quản lý nhà nước, người thi
hành công vụ như “cánh tay nối dài” của Nhà nước, giúp Nhà nước thực hiện chức
năng của mình bằng cách tham gia các quan hệ pháp luật với tư cách chủ thể mang
quyền lực công. Họ thực hiện chức năng, nhiệm vụ được giao theo quy định của pháp
luật và mọi quyền hạn và nghĩa vụ cũng đều được quy định trong khuôn khổ của pháp
luật. Theo đó, những quan hệ pháp luật mà người thi hành công vụ (hay Nhà nước)
tham gia với tư cách là chủ thể mang quyền lực công không phải là những quan hệ
hợp đồng (không ràng buộc bởi hợp đồng) mà do pháp luật quy định.
Những quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia và nhân danh quyền lực công
phải là những quan hệ pháp luật có liên quan đến việc thực hiện những hoạt động
thuộc về chức năng chính của Nhà nước – chức năng quản lý xã hội. Nếu trong quá


19

trình thực hiện những hoạt động này mà người thi hành công vụ gây ra thiệt hại cho cá
nhân, tổ chức thì Nhà nước có trách nhiệm bồi thường. Việc bồi thường không phải do
vi phạm các nghĩa vụ về hợp đồng mà là trách nhiệm của Nhà nước đối với người bị
thiệt hại và chịu sự điều chỉnh của pháp luật, chính vì vậy trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước đối với các thiệt hại gây ra bởi hoạt động công quyền là trách nhiệm BTTH
ngoài hợp đồng.
Thứ hai, về điều kiện phát sinh. Có thể hiểu điều kiện phát sinh trách nhiệm
BTTH là tổng hợp các yếu tố cấu thành nên trách nhiệm BTTH. Theo quy định tại
Điều 604 BLDS 2005 thì căn cứ phát sinh trách nhiệm BTTH ngoài hợp đồng là:
(1) Có hành vi vi phạm pháp luật;

BTTH thì yếu tố lỗi luôn được xét đến.
Thứ ba, về mặt hậu quả của việc gây ra thiệt hại. Trách nhiệm BTTH nói chung
luôn mang đến một hậu quả bất lợi về tài sản cho người gây thiệt hại. Bởi lẽ, khi một
người gây ra tổn thất cho người khác thì tổn thất đó phải tính toán được bằng tiền hoặc
phải được pháp luật quy định là một đại lượng vật chất nhất định nếu không sẽ không
thể thực hiện được việc bồi thường. Do đó, những thiệt hại về tinh thần mặc dù không
thể tính toán được nhưng cũng sẽ được xác định theo quy định của pháp luật để bù
đắp lại tổn thất cho người bị thiệt hại. Việc thực hiện trách nhiệm bồi thường sẽ giúp
khôi phục lại thiệt hại cho người bị thiệt hại. Nhà nước với tư cách là người giao
nhiệm vụ cho người thi hành công vụ thực hiện trong quá trình quản lý nhà nước cho
nên trong khi hành công vụ nếu cán bộ, công chức có hành vi trái pháp luật gây thiệt
hại cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước phải có trách nhiệm bồi thường.
1.1.3.2. Đặc điểm riêng trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Thứ nhất, trách nhiệm BTTH của Nhà nước là trách nhiệm trực tiếp. Có thể
thấy, hành vi thực hiện công vụ của người thi hành công vụ chính là hành vi của Nhà
nước. Vì thế, nếu người thi hành công vụ có hành vi gây thiệt hại khi thực hiện công
vụ thì chính là việc Nhà nước đã có hành vi gây thiệt hại. Trách nhiệm BTTH trực tiếp
thuộc về Nhà nước [20, Tr8]. Điều 1 Luật TNBTCNN 2009 cũng đã khẳng định:
“Luật này quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị
thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra…” cho thấy Nhà nước thừa nhận trách
nhiệm bồi thường của mình là trách nhiệm trực tiếp.
Thứ hai, trách nhiệm BTTH của Nhà nước không chỉ là trách nhiệm tài sản
mà còn là trách nhiệm khôi phục lại những tổn thất về tinh thần cho người bị thiệt
hại. Trách nhiệm BTTH của Nhà nước là trách nhiệm dân sự vì thế trách nhiệm này
bao gồm cả trách nhiệm về tài sản (trong trường hợp tài sản bị thiệt hại) và trách
nhiệm khôi phục những tổn thất về tinh thần (trong trường hợp danh dự, nhân phẩm,
uy tín bị xâm phạm) - Điều 2 Luật TNBTCNN 2009.
Thứ ba, yếu tố trái pháp luật của việc gây thiệt hại được hiểu theo nghĩa rộng.
Trong pháp luật dân sự, thông thường một chủ thể chỉ phải chịu trách nhiệm bồi
thường khi hành vi gây thiệt hại của mình là hành vi trái pháp luật. Tính trái pháp luật

luật của người thi hành công vụ phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận
bằng văn bản, khi đó, quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại mới phát sinh.
Thứ năm, công chức trong quan hệ về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.
Công chức hay cán bộ, người thi hành công vụ là “cánh tay nối dài” của Nhà nước,
trực tiếp thực hiện các công việc của Nhà nước trong đó có những công việc được gọi
là “công vụ”. Đặt trong phạm vi của chế định trách nhiệm BTTH của Nhà nước cần
hiểu khái niệm công chức là bao gồm tất cả những người thực hiện công vụ mà Nhà


22

nước phân công, hoặc công việc mà pháp luật quy định khi một cá nhân nhân danh
Nhà nước thực hiện quyền lực công - Khoản 1 Điều 3 Luật TNBTCNN 2009.
1.1.4. Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
Nhà nước thực hiện việc quản lý xã hội thông qua các hoạt động: xây dựng và
ban hành các văn bản quy phạm pháp luật (hoạt động lập pháp); tổ chức thực hiện
pháp luật (hoạt động hành pháp) và bảo vệ pháp luật (hoạt động tư pháp). Các hoạt
động này do hệ thống các cơ quan tương ứng của Nhà nước thực hiện, cụ thể bao
gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp.
Khoản 2 Điều 14 HP 2013 quy định: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có
thể hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an
ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”. Theo
quy định này thì người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có
thẩm quyền về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân quy định
tại Điều 30 HP 2013, nếu không bị hạn chế vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật
tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng được quy định trong luật
thì đều có quyền được bồi thường về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự.
Tuy nhiên trong điều kiện hiện nay, để đảm bảo tính khả thi của Luật TNBTCNN
thì phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cần được xác định phù hợp với
trình độ phát triển kinh tế - xã hội; khả năng của ngân sách nhà nước; năng lực chuyên

cũng không thể xử lý. Thêm vào đó, “lập pháp được hiểu là việc hoạch định các chính
sách, quyết định người thực hiện các chính sách đó, vì vậy nếu có thiệt hại xảy ra thì
bồi thường trong hoạt động lập pháp được hiểu đồng nhất với sự thay đổi chính sách,
thay đổi con người đã từng đưa ra các chính sách gây thiệt hại cho nhân dân”. [11, Tr
8-9].
Ngoài ra, như đã phân tích ở trên, trong điều kiện đất nước ta hiện nay thì việc
xác định phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một điều rất quan trọng và
cần thiết bởi nó ảnh hưởng đến tính khả thi của Luật và lợi ích của người thiệt hại. Đó
là những lý do hoạt động lập pháp không được quy định trong phạm vi trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước của Luật TNBTCNN năm 2009 cũng như pháp luật về khiếu
nại.
Ngoài quy định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý
hành chính và tư pháp, Luật TNBTCNN năm 2009 còn quy định trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước đối với các thiệt hại gây ra trong quá trình thi hành án hình sự
và thi hành án dân sự (giới hạn trong một số trường hợp nhất định tại Điều 38 Luật
TNBTCNN). Cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần mà thuộc
các trường hợp đã được quy định trong Luật TNBTCNN thì Nhà nước sẽ thực hiện
bồi thường.
Như vậy, có thể thấy các quy định về phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà
nước chưa hoàn toàn phù hợp với HP năm 2013. Vấn đề này xuất phát từ những
nguyên nhân khách quan như điều kiện kinh tế, phát triển của đất nước, sự chưa hoàn
thiện của hệ thống quy phạm pháp luật, Luật TNBTCNN cũng đã được xây dựng từ
năm 2009… Do đó trong thời gian tới hoạt động lập pháp nói chung và phạm vi bồi
thường của Nhà nước được quy định trong LTNBTNN nói riêng cần có những bước
tiến thay đổi để dần phù hợp với quy định tại HP năm 2013.
1.2. Một số vấn đề cơ bản về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh
vực quản lý hành chính
1.2.1. Khái niệm cơ quan quản lý hành chính Nhà nước, hoạt động quản lý hành
chính Nhà nước, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực hành chính


quyền lực nhà nước vào thực tiễn quản lý nhà nước.Tính chất chấp hành thể hiện ở
mục đích của quản lý hành chính nhà nước là để đảm bảo thực hiện trên thực tế các
văn bản pháp luật của các cơ quan quyền lực nhà nước đều được tiến hành trên cơ sở
pháp luật và để thực hiện pháp luật. Tính chất điều hành của quản lý hành chính nhà
nước thể hiện ở chỗ để đảm bảo cho các văn bản pháp luật của cơ quan quyền lực nhà
nước được thực hiện trên thực tế, các chủ thể của quản lý hành chính nhà nước phải


25

tiến hành hoạt động tổ chức và chỉ đạo trực tiếp đối với các đối tượng quản lý thuộc
quyền.
Trong quá trình điều hành, cơ quan quản lý hành chính nhà nước có quyền nhân
danh Nhà nước ban hành các văn bản pháp luật để đặt ra các quy phạm pháp luật hay
các mệnh lệnh cụ thể bắt buộc các đối tượng quản lý có liên quan phải thực hiện. Như
vậy, chủ thể của quản lý hành chính nhà nước sử dụng quyền lực Nhà nước để tổ chức
và điều khiển hoạt động của các đối tượng quản lý. Qua đó, thể hiện mối quan hệ
“quyền lực - phục tùng” giữa chủ thể quản lý và đối tượng quản lý [17, Tr32].
Mặc dù hệ thống các cơ quan nhà nước thực hiện quyền lập pháp và tư pháp độc
lập với hệ thống các cơ quan quan quản lý hành chính nhà nước nhưng trong cơ chế
vận hành của nó cũng có các hoạt động hành chính như chế độ công vụ, công tác tổ
chức cán bộ... và những hoạt động này cũng phải tuân thủ những quy định thống nhất
của nền hành chính nhà nước.
Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quản lý đất nước
bằng pháp luật. Pháp luật chính là thể chế hoá đường lối chủ trương của Đảng, thể
hiện ý chí của nhân dân, phải được thực hiện thống nhất trong cả nước, tuân theo pháp
luật là chấp hành đường lối, chủ trương của Đảng. Có thể hiểu quản lý hành chính nhà
nước là hoạt động thực thi quyền hành pháp của Nhà nước, thực hiện những chức
năng và nhiệm vụ của Nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ
tổ quốc xã hội chủ nghĩa, do các cơ quan trong hệ thông quản lý hành chính từ Chính


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status