Xác định cha, mẹ, con và thực tiễn giải quyết tại tòa án (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quan hệ cha, mẹ, con là quan hệ thiêng liêng trong cuộc đời mỗi con
người. Sau khi xác lập quan hệ hôn nhân, việc sinh con không chỉ thỏa mãn
lợi ích của vợ chồng mà còn thỏa mãn lợi ích của gia đình, của dòng họ. Mỗi
người được sinh ra, lớn lên đều luôn hướng về cội nguồn, đó là bản năng gốc
rất tự nhiên của mỗi người. Thông qua việc xác định con chung của vợ chồng
sẽ chỉ ra được ai là chủ thể mang quyền và nghĩa vụ trong mối quan hệ cha,
mẹ, con. Đặc biệt, thông qua việc xác định con thì sẽ chỉ ra được ai sẽ là
người có trách nhiệm nuôi dưỡng đứa trẻ. Đồng thời việc xác định con chung
của vợ chồng tạo nên những mối quan hệ thiêng liêng trong gia đình, từ đó
xác định quyền và nghĩa vụ cụ thể của các chủ thể.
Mặt khác, việc xác định con chung không chỉ liên quan tới mối quan hệ
giữa hai thế hệ mà còn liên quan đến các mối quan hệ với các thành viên khác
trong gia đình. Do vậy, xác định quan hệ cha, mẹ, con còn là cơ sở để thực
hiện các quyền và nghĩa vụ giữa các chủ thể khác trong gia đình. Đồng thời,
xác định cha, mẹ, con là căn cứ pháp lý để cơ quan nhà nước có thẩm quyền
giải quyết các tranh chấp phát sinh như: chia tài sản thừa kế, thực hiện nghĩa
vụ cấp dưỡng…
Ngày nay, cùng với sự hội nhập quốc tế sâu rộng, đời sống xã hội có
nhiều thay đổi, quan hệ xã hội cũng trở nên phức tạp hơn. Quan niệm về tình
yêu, hôn nhân và các mối quan hệ gia đình như quan hệ cha, mẹ, con có nhiều
thay đổi. Khoa học kỹ thuật ngày càng phát triển và pháp luật trong nước
cũng ngày càng mở rộng theo hướng học tập những kinh nghiệm của các
nước trên thế giới, dẫn tới xuất hiện việc xác định cha, mẹ, con bằng phương
pháp giám định ADN, việc sinh con theo phương pháp khoa học, việc mang
thai hộ… theo đó việc xác định cha, mẹ, con cũng có nhiều thay đổi so với
truyền thống trước đây.


văn thạc sĩ Luật học và năm 2008 tiếp tục nghiên cứu đề tài Xác định cha,


3

mẹ, con trong pháp luật Việt Nam trong Luận án tiến sĩ Luật học. Năm 2012,
tác giả Nguyễn Thị Ngọc Hân cũng đã chọn đề tài Xác định cha, mẹ, con theo
pháp luật Việt Nam nghiên cứu cho Khóa luận tốt nghiệp của mình. Năm
2014, tác giả Trần Thị Xuân chọn đề tài Xác định cha, mẹ, con với việc đảm
bảo quyền trẻ em để nghiên cứu Luận văn thạc sĩ. Bên cạnh đó, vấn đề liên
quan tới xác định cha, mẹ, con còn được các tác giả nghiên cứu trong các bài
viết ngắn đăng trên tạp chí như Tiến sĩ Lê Thu Hà với bài viết Bàn về thẩm
quyền xác định cha, mẹ cho con năm 2006, …
Các công trình nghiên cứu của các tác giả trước đây đã làm rõ vấn đề lý
luận về xác định cha, mẹ, con theo Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, nhìn
nhận được những hạn chế còn tồn tại trong thực tiễn và đưa ra những kiến
nghị hoàn thiện pháp luật. Tuy nhiên, lý luận về xác định cha, mẹ, con cùng
thực tiễn giải quyết việc xác định cha, mẹ, con tại Tòa án trong giai đoạn hội
nhập quốc tế và đón chào sự ra đời với những thay đổi mới trong quy định
của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và các Luật khác có liên quan như
Luật hộ tịch năm 2014, Bộ luật dân sự năm 2015, Bộ luật tố tụng dân sự năm
2015… thì vẫn chưa được các tác giả nghiên cứu.
3. Phạm vi và mục tiêu nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là xác định cha, mẹ, con theo thủ tục sơ
thẩm (thủ tục chung) tại Tòa án nhân dân và thực tiễn xác định cha, mẹ, con
tại các Tòa án nhân dân trên địa bàn thành phố Hà Nội. Luận văn không đi
sâu nghiên cứu về xác định cha, mẹ, con tại Ủy ban nhân dân.
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là để làm sáng tỏ những lý luận cơ bản,
các quy định pháp luật về xác định cha, mẹ, con tại Tòa án. Thông qua phân
tích những Bản án, Quyết định giải quyết những vụ việc cụ thể về xác định

là Quốc Triều hình luật) và Luật Gia Long là hai bộ luật có giá trị nổi bật,
được đánh giá là đỉnh cao trong kỹ thuật lập pháp thời phong kiến.
Tuy nhiên, pháp luật phong kiến chưa có quy định nào đề cập đến vấn
đề xác định cha, mẹ, con.
Pháp luật thời kỳ này thấm nhuần tư tưởng Nho giáo. Trong mối quan
hệ cha, mẹ, con được xác định dựa trên phong tục tập quán và đạo đức truyền
thống. Những đứa con sinh ra từ cuộc hôn nhân phong kiến đương nhiên là
con chung của hai vợ chồng, không liên quan tới việc đứa con đó là con của
vợ cả hay vợ lẽ.
Do khuôn giáo khắt khe, người phụ nữ phải đoan chính, nếu không là
phạm vào tội ngoại tình (một trong bảy tội lớn), bị xã hội khinh rẻ, có thể bị
cạo đầu bôi vôi và người chồng có thể bỏ vợ hoặc “hành xử” vợ. Người đàn
ông nếu thông gian với vợ người khác thì sẽ bị xử tội rất nặng, ví dụ như theo
Điều 401 Bộ luật Hồng Đức thì gian dâm với vợ người khác sẽ bị xử tội lưu
đầy hoặc tội chết. Chính do tư tưởng khuôn giáo và việc xử phạt nghiêm khắc
như vậy mà đứa trẻ do vợ sinh ra đương nhiên được thừa nhận là con chung
của vợ chồng(1). Tuy nhiên, người chồng có thể không thừa nhận đứa trẻ đó
nếu phát hiện vợ mình thông gian với người khác. Theo phong tục tập quán
thì để chứng minh, trước các chức sắc trong làng sẽ tiến hành nhỏ máu của

Nguyễn Thị Lan (2008), Xác định cha, mẹ, con trong pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr62.
1


6

người chồng và đứa trẻ vào bát nước lã, nếu hai giọt máu không hòa vào nhau
thì đứa trẻ không phải con của người chồng.
Hoặc khi giữa hai bố mẹ không có tổ chức kết hôn theo phong tục

Kỳ thì không cho phép xác nhận một người là cha của đứa trẻ đó, và đứa trẻ
bị coi là con hoang. Tuy nhiên, dù là con hoang nhưng nếu sau này giữa mẹ
đứa trẻ và người đàn ông thừa nhận đứa trẻ là con có giá thú hợp pháp thì có
thể công nhận đứa trẻ là con chính thức.(2)
Bộ luật dân sự Trung Kỳ cũng quy định cởi mở là người đàn bà sau khi
thành hôn chưa đủ 180 ngày mà đã sinh con thì đứa con đó là con của người
chồng, trừ khi người chồng khởi kiện không nhận đứa con đó…(3) Bộ luật dân
sự Trung Kỳ cũng quy định rõ các trường hợp thừa nhận con sinh ra mà cha
mẹ chưa lập giá thú làm con chính thức khi: cha mẹ chưa lập giá thú nhưng
đã khai nhận đứa con; hoặc khi cha mẹ sinh con chưa thừa nhận thì khi lập
giá thú phải đồng thời khai giá thú và khai nhận con; hoặc sau khi khai giá
thú mới làm giấy khai nhận con thì vẫn được chấp nhận làm con chính thức
(Điều 166, 167, 170 Bộ luật dân sự Trung Kỳ).
1.1.2. Pháp luật từ Cách mạng tháng Tám đến nay
Sau Cách mạng tháng Tám, đất nước ta có một thời gian chia hai miền
Nam-Bắc.
Miền Nam từ năm 1954 đến năm 1975 dưới sự cai trị của đế quốc Mỹ
và chính phủ Ngụy quyền Sài Gòn đã thi hành các văn bản pháp luật về hôn
nhân và gia đình gồm: Luật gia đình ngày 02/01/1959 dưới chế độ Ngô Đình
Diệm; Sắc luật số 15/64 ngày 23/7/1964 về giá thú và tài sản cộng đồng; Bộ
dân luật ngày 20/12/1972 dưới chế độ Nguyễn Văn Thiệu. Các sắc luật này
cũng quy định về suy đoán pháp lý quan hệ cha, mẹ, con trong giá thú tương
tự như Bộ Dân luật Bắc Kỳ đó là con chính thức là con sinh ra từ đủ 180 ngày
lập hôn và không quá 300 ngày sau khi tiêu hôn, còn đối với con sinh ra chưa
Nguyễn Ngọc Quyên, Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong hệ thống pháp luật Việt Nam, (
http://text.123doc.org/document/2157810-xac-dinh-cha-me-cho-con-theo-phap-luat-viet-nam.htm,
truy cập ngày 19/7/ 2016)
3
Nguyễn Thị Lan (2008), Xác định cha, mẹ, con trong pháp luật Việt Nam, Luận án tiến sĩ Luật
học, Trường Đại học Luật Hà Nội, tr 63.


Nguyễn Ngọc Quyên, Nguyên tắc xác định cha, mẹ cho con trong hệ thống pháp luật Việt Nam, (
http://text.123doc.org/document/2157810-xac-dinh-cha-me-cho-con-theo-phap-luat-viet-nam.htm,
truy cập ngày 19/7/ 2016)
4


9

Điều 22: Người con ngoài giá thú được xin nhận cha hoặc mẹ trước
Toà án nhân dân. Người mẹ cũng có quyền xin nhận cha thay cho đứa trẻ
chưa thành niên. Người thay mặt cũng có quyền xin nhận cha hoặc mẹ thay
cho đưa trẻ chưa thành niên.”
Trong các quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 chưa dự
liệu về nội dung nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ, con trong giá
thú. Chưa có các quy định về xác định không phải quan hệ cha, mẹ, con hay
vấn đề xác định cha, mẹ, con khi người bị yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã
chết.
Có thể thấy rằng, Luật hôn nhân và gia đình năm 1959 mới chỉ quy định
một phần nhỏ trong vấn đề xác định cha, mẹ, con mà chưa bao quát được
những vấn đề có thể phát sinh trên thực tế.
- Luật hôn nhân và gia đình năm 1986:
Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 đã đưa ra được phương pháp suy
đoán pháp lý xác định quan hệ cha, mẹ, con, đồng thời vấn đề xem xét lại
quan hệ cha, mẹ, con cũng đã được đề cập đến tại Điều 28 Luật hôn nhân và
gia đình năm 1986:
“Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong
thời kì đó là con chung của vợ chồng. Trong trường hợp có yêu cầu xác định
lại vấn đề này thì phải có chứng cứ khác”.
Theo đó thì căn cứ để suy đoán quan hệ cha, mẹ, con đối với cha mẹ tồn

Trong điều luật này cũng đã đề cập đến trường hợp cha, mẹ đã chết thì
con ngoài giá thú cũng có quyền xin nhận lại. Tuy nhiên, Luật lại chưa quy
định về trường hợp xin nhận lại con ngoài giá thú đã chết.
- Luật hôn nhân và gia đình năm 2000:
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã quy định khá chi tiết và cụ thể
hơn so với Luật hôn nhân và gia đình năm 1986 về vấn đề xác định quan hệ
cha, mẹ, con.


11

Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 tiếp tục ghi nhận phương thức suy
đoán pháp lý, xác định con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc người vợ có
thai trong thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng. Khoản 1 Điều 63
Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định thêm:
“Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận
cũng là con chung của vợ chồng”.
Quy định này theo hướng mở rộng hơn so với pháp luật thời kỳ trước.
Như vậy thì dù sinh trước thời kỳ hôn nhân của cha mẹ nhưng được cha mẹ
thừa nhận thì đứa trẻ vẫn được suy đoán là con chung của vợ chồng. Việc
xem xét lại quan hệ cha, mẹ, con vẫn được ghi nhận nhưng cũng chưa có quy
định cụ thể về các tài liệu, chứng cứ chứng minh để yêu cầu xem xét lại quan
hệ này.
Tại Điều 66 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định thêm về vấn
đề ai là người có quyền yêu cầu xác định cha, mẹ, con cho người đã thành
niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự thay vì chỉ quy định những người có
quyền yêu cầu xác định cha, mẹ cho con vị thành niên như Luật hôn nhân và
gia đình năm 1986.
Đồng thời, để phù hợp với thực tế đất nước khi khoa học kỹ thuật phát
triển và hội nhập quốc tế, Điều 63 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 đã

về phương thức xác định quan hệ cha, mẹ, con đối với việc sinh con bằng kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản; và việc mang thai hộ cũng như cách xác định quan hệ
cha, mẹ, con trong trường hợp này cũng đã được đề cập tới tại các Điều 93,
96, 98, 99 Luật này.
Như vậy ở đây ta thấy rõ được những quy định pháp luật về xác định
cha, mẹ, con đã trở nên cụ thể, chi tiết hơn và bổ sung khá đầy đủ các trường
hợp có thể xảy ra trên thực tế, đáp ứng được yêu cầu phát sinh của xã hội.
Có thể thấy rằng pháp luật Việt Nam đang ngày càng hoàn thiện, các
quy định về nuôi con nuôi, xác định quan hệ cha, mẹ, con đẻ ngày càng được
quy định đầy đủ, chi tiết hơn.


13

1.2. Khái niệm xác định cha, mẹ, con và ý nghĩa của việc xác định
cha, mẹ, con
1.2.1. Khái niệm xác định cha, mẹ, con
Xác định cha, mẹ, con nhằm định rõ cha đẻ, mẹ đẻ, con đẻ trong quan
hệ pháp luật giữa cha, mẹ và con. Xác định cha, mẹ, con dựa trên sự kiện sinh
đẻ và quan hệ huyết thống.
Dưới góc độ sinh học, với các trường hợp sinh con tự nhiên (không áp
dụng các biện pháp hỗ trợ sinh sản) thì con sinh ra phải mang huyết thống,
mã gen của cha mẹ và cha mẹ phải là người trực tiếp sinh ra người con.
Tuy nhiên trong trường hợp sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì
có những ngoại lệ. Trong trường hợp có người cho tinh trùng, cho trứng, cho
phôi thì người con sinh ra trong trường hợp này được người mẹ trực tiếp sinh
ra nhưng có thể chỉ mang mã gen của cha hoặc của mẹ hoặc không mang mã
gen của cả cha và mẹ. Trường hợp cặp vợ chồng vô sinh không phải người
tạo nên phôi thai nhưng lại là người thể hiện ý chí muốn có đứa con đó ngay
từ khi người vợ được mang thai bằng việc cấy phôi. Như vậy chính họ là

mặt sinh học-xã hội có thể đã tồn tại quan hệ cha, mẹ và con, nhưng dưới góc
độ pháp lý thì tư cách cha, mẹ, con đẻ chỉ được thừa nhận thông qua những
thủ tục pháp lý nhất định và được ghi nhận bằng các quy định của cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền bằng các văn bản, giấy tờ do cơ quan có thẩm
quyền cấp. Việc định rõ cha, mẹ, con được thực hiện tại Ủy ban nhân dân gọi
là xác định cha, mẹ, con theo thủ tục hành chính. Đối với trường hợp định rõ
cha, mẹ, con tại Tòa án gọi là xác định cha, mẹ, con theo thủ tục tư pháp.
Xác định cha, mẹ, con là một quyền nhân thân được quy định trong Bộ
luật dân sự 2005 và nay là Bộ luật dân sự 2015 (có hiệu lực thi hành từ ngày
01/01/2017). Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về xác định cha,
mẹ, con tại Điều 88, Điều 89, Điều 92 và Điều 94. Theo đó, việc xác định
cha, mẹ, con là nhằm xây dựng mối quan hệ huyết thống giữa những người
có mối quan hệ cha-con, mẹ-con.


15

Huyết thống là mối quan hệ thiêng liêng luôn được chú ý tới từ trước
cho tới nay và là cơ sở truyền thống để xác định mối quan hệ cha, mẹ, con.
Tuy nhiên, trong tình hình xã hội thay đổi, khoa học kĩ thuật phát triển, pháp
luật cũng thay đổi cho phù hợp điều kiện thực tế, khiến cho việc xác định mối
quan hệ cha, mẹ, con cũng có những thay đổi so với truyền thống.
Nếu như trước đây, mối quan hệ huyết thống là cơ sở vững chắc nhất để
xác định cha, mẹ, con, thì tới nay, nhận thức về mối quan hệ cha, mẹ, con đã
có sự thay đổi khiến cho huyết thống không còn là cơ sở để xác định cha, mẹ,
con trong mọi trường hợp.
Có trường hợp, qua giám định quan hệ huyết thống xác định rõ ràng có
mối quan hệ huyết thống nhưng mối quan hệ cha, mẹ, con đẻ không phát sinh
(trường hợp cho trứng, cho tinh trùng, cho phôi thì giữa con và người cho
trứng, cho tinh trùng, cho phôi không phát sinh quan hệ cha, mẹ, con), có

để bổ sung, thay đổi, cải chính hộ tịch của những người được xác định là cha,
mẹ, con hoặc không phải là cha, mẹ, con và người thân của họ, qua đó xác
định quan hệ nhân thân giữa cha, mẹ, con, xác lập quyền và nghĩa vụ của các
thành viên trong gia đình như cấp dưỡng, chăm sóc, nuôi dưỡng,… và là một
trong những cơ sở pháp lý để giải quyết các tranh chấp khác (tranh chấp về
thừa kế, về cấp dưỡng,…).
1.3. Căn cứ xác định cha, mẹ, con
1.3.1. Xác định cha, mẹ, con khi người vợ sinh con hoặc có thai trong
thời kỳ hôn nhân (trừ trường hợp mang thai hộ)
Căn cứ pháp lý xác định cha, mẹ, con đó là thời kỳ hôn nhân, quy định
tại Điều 88 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014:
“1. Con sinh ra trong thời kỳ hôn nhân hoặc do người vợ có thai trong
thời kỳ hôn nhân là con chung của vợ chồng.
Con được sinh ra trong thời hạn 300 ngày kể từ thời điểm chấm dứt hôn
nhân được coi là con do người vợ có thai trong thời kỳ hôn nhân.
Con sinh ra trước ngày đăng ký kết hôn và được cha mẹ thừa nhận là
con chung của vợ chồng.


17

2. Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải có chứng cứ
và phải được Tòa án xác định.”
Thời kỳ hôn nhân được coi là một căn cứ quan trọng nhất để xác định
tính đương nhiên hoặc không đương nhiên trong việc xác định cha, mẹ, con.
Khi hai bên nam nữ xác lập quan hệ hôn nhân thì việc xác định cha, mẹ, con
được căn cứ trước hết trên cơ sở pháp lý, tức căn cứ thời kỳ hôn nhân. Trong
trường hợp này thì huyết thống không còn mang ý nghĩa quyết định trong
việc xác định cha, mẹ, con nữa(6).
Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại của quan hệ vợ chồng, tính

chung sống, xây dựng gia đình nên việc sinh con được suy đoán là đương
nhiên.
Do vậy, khi giữa nam nữ có mối quan hệ hôn nhân thì con sinh ra kể từ
ngày hai bên nam nữ đăng ký kết hôn cho đến 300 ngày sau ngày Bản án,
Quyết định công nhận thuận tình ly hôn của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì
được xác định suy đoán là con chung của hai vợ chồng.
Ngoài ra, pháp luật còn quy định: “Con sinh ra trước ngày đăng ký kết
hôn và được cha mẹ thừa nhận là con chung của vợ chồng”.
Khi hôn nhân của hai bên nam nữ được hình thành sau khi đứa con sinh
ra nhưng được vợ chồng thừa nhận thì để bảo vệ lợi ích của trẻ nhỏ, pháp luật
quy định đứa trẻ là con chung của vợ chồng.
Mặt khác, pháp luật cũng đặt ra nhiều cơ chế để đảm bảo cho việc xác
định cha, mẹ, con được chính xác. Pháp luật hôn nhân và gia đình đã quy
định nguyên tắc hôn nhân một vợ một chồng, quy định những chế tài đối với
việc kết hôn vi phạm nguyên tắc này, chế tài trong pháp luật hôn nhân và gia
đình, chế tài trong pháp luật hành chính, pháp luật hình sự… điều đó làm tăng
thêm ý thức trách nhiệm của vợ chồng đối với nhau và đối với gia đình.
Nguyên tắc suy đoán pháp lý xác định cha, mẹ con được đặt ra nhằm ổn
định mối quan hệ cha mẹ con cũng như quan hệ giữa các thành viên trong gia
đình. Do vậy, mỗi khi người vợ mang thai hoặc sinh con, người vợ không cần


19

phải chứng minh chồng mình là cha của đứa trẻ mà pháp luật mặc nhiên thừa
nhận đứa trẻ đó là con chung của hai vợ chồng.
Tuy nhiên, việc xác định thời điểm thụ thai và mang thai chỉ mang tính
tương đối.
Trong đời sống hiện đại ngày nay, với sự đa dạng và phức tạp của các
mối quan hệ xã hội nên thực tế có nhiều trường hợp người vợ có thai hoặc

người khác nhận nuôi đứa trẻ đó, sau này người mẹ đó mới xin nhận lại con
thì có nghĩa vụ phải chứng minh chính mình đã sinh ra đứa trẻ đó. Trường
hợp người con đã thành niên có yêu cầu Toà án xác định cha, mẹ của mình
hoặc theo Luật định, một người có yêu cầu Toà án xác định một người đã
chết là cha, mẹ, con của mình thì cũng cần phải có căn cứ chứng minh.
1.3.3. Xác định cha, mẹ, con trong trường hợp áp dụng kỹ thuật hỗ
trợ sinh sản
- Trường hợp thụ tinh trong ống nghiệm: người vợ trong cặp vợ
chồng vô sinh mang thai sinh con và người phụ nữ độc thân sinh con.
Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định tại Điều 93 như sau:
“1. Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản
thì việc xác định cha, mẹ được áp dụng theo quy định tại Điều 88 của Luật
này.
2. Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ
thuật hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra.
3. Việc sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản không làm phát sinh quan
hệ cha, mẹ và con giữa người cho tinh trùng, cho noãn, cho phôi với người
con được sinh ra.”
Trong trường hợp người vợ sinh con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản thì
việc xác định cha, mẹ được suy đoán theo thời kỳ hôn nhân của hai vợ chồng
tương tự như đã nêu ở trường hợp 1. Theo đó, đứa con sinh ra trong thời kỳ
hôn nhân hoặc sau khi thời kỳ hôn nhân kết thúc tối đa 300 ngày bằng kỹ


21

thuật hỗ trợ sinh sản dù không mang huyết thống của bố mẹ thì vẫn được xác
định là con đẻ của hai vợ chồng.
Trong trường hợp người phụ nữ sống độc thân sinh con bằng kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản thì người phụ nữ đó là mẹ của con được sinh ra ngay cả khi

pháp khoa học, hoặc trong trường hợp nhờ người mang thai hộ.
Đối người phụ nữ độc thân bắt đầu được áp dụng biện pháp hỗ trợ sinh
sản bắt buộc phải có sự tham gia của người cho tinh trùng. Trong trường hợp
này, căn cứ về mặt huyết thống không được coi là căn cứ để xác định cha,
mẹ, con. Thậm chí, căn cứ về mặt huyết thống hay việc trực tiếp sinh ra đứa
con không được dùng là căn cứ để xem xét lại quan hệ cha mẹ và con đã
được xác lập trước đó giữa người phụ nữ độc thân đối với đứa con được sinh
ra theo phương pháp khoa học.
- Trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo:
Điều 94 Luật hôn nhân và gia đình 2014 quy định:
“Con sinh ra trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo là
con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ kể từ thời điểm con được sinh ra”.
Mang thai hộ vì mục đích nhân đạo được thực hiện khi người vợ trong
cặp vợ chồng vô sinh không thể mang thai ngay cả khi áp dụng các kỹ thuật
hỗ trợ sinh sản như thụ tinh trong ống nghiệm. Noãn của người vợ và tinh
trùng của người chồng sẽ được tạo thành phôi trong ống nghiệm rồi đặt vào
tử cung của người mang thai hộ. Đứa trẻ mặc dù do người mang thai hộ trực
tiếp sinh ra nhưng mang mã gen của cặp vợ chồng nhờ mang thai hộ và theo
quy định pháp luật thì đứa trẻ là con chung của vợ chồng nhờ mang thai hộ.

1.4. Thẩm quyền và thủ tục giải quyết vụ việc xác định cha, mẹ, con
của Tòa án nhân dân


23

1.4.1. Thẩm quyền giải quyết các vụ việc xác định cha, mẹ, con của
Tòa án nhân dân
- Các trường hợp xác định cha, mẹ, con tại Tòa án :
Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:

định cha, mẹ, con thì thẩm quyền giải quyết thuộc về Tòa án nhân dân.
Theo quy định tại khoản 2 Điều 88, khoản 1, 2 Điều 89 Luật hôn nhân
và gia đình 2014 thì: Trong trường hợp cha, mẹ không thừa nhận con thì phải
có chứng cứ và phải được Tòa án xác định; Người không được nhận là cha,
mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định người đó là con mình;
Người được nhận là cha, mẹ của một người có thể yêu cầu Tòa án xác định
người đó không phải là con mình. Đây là trường hợp “tranh chấp khác về hôn
nhân và gia đình mà pháp luật có quy định” theo khoản 6 Điều 27 Bộ luật tố
tụng dân sự 2004, và tương tự như vậy thì các trường hợp này vẫn thuộc thẩm
quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 8 Điều 28 Bộ luật tố
tụng dân sự 2015.
Bên cạnh đó, trong trường hợp xác định không phải quan hệ cha, mẹ,
con hoặc người không được nhận là cha, mẹ yêu cầu xác định là cha, mẹ của
một người thì thẩm quyền thuộc về Tòa án theo quy định của Luật hôn nhân
và gia đình năm 2014 và khoản 11 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
* Trường hợp thứ hai: người được yêu cầu xác định là cha, mẹ, con đã
chết hoặc người yêu cầu xác định cha, mẹ, con chết mà người thân thích của
họ có yêu cầu.
Khoản 7 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 quy định Tòa án có
thẩm quyền giải quyết các yêu cầu khác về hôn nhân và gia đình mà pháp luật
có quy định. Như vậy thì trong trường hợp người được yêu cầu xác định là
cha, mẹ, con đã chết và trường hợp người yêu cầu xác định cha, mẹ, con chết
mà người thân thích của người đó có yêu cầu thì thẩm quyền giải quyết thuộc
về Tòa án nhân dân.


25

Từ ngày 01/7/2016, Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 có hiệu lực pháp
luật để thi hành, theo đó tại khoản 10 Điều 29 Bộ luật này quy định Tòa án có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status