BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN HỮU NAM
NGHĨA VỤ CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN HỮU NAM
NGHĨA VỤ CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ
VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Đặc điểm của nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự .......................... 10
1.2. Cơ sở của việc quy định và thực hiện nghĩa vụ của đƣơng sự trong tố tụng dân
sự……………. ............................................................................................................. 14
1.2.1. Cơ sở lý luận ...................................................................................................... 14
1.2.2. Cơ sở thực tiễn ................................................................................................... 16
Kết luận Chƣơng 1 ....................................................................................................... 19
Chƣơng 2THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN
HÀNH VỀ NGHĨA VỤ CỦA ĐƢƠNG SỰ TRONG TỐ TỤNG DÂN SỰ ................. 20
2.1. Thực trạng quy định về nghĩa vụ cung cấp chứng cứ,chứng minh cho Tòa án và
gửi cho các đƣơng sự khác hoặc ngƣời đại diện hợp pháp của họ bản sao tài liệu,
chứng cứ....................................................................................................................... 20
2.2. Thực trạng quy định về nghĩa vụ có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án và chấp
hành các quyết định của Tòa án trong thời gian giải quyết vụ án ............................... 28
2.3. Thực trạng quy định về nghĩa vụ tôn trọng Tòa án và chấp hành nghiêm chỉnh
nội quy phiên tòa.......................................................................................................... 36
2.4. Thực trạng quy định về nghĩa vụ nộp tiền tạm ứng án phí, tạm ứng lệ phí, án phí,
lệ phí và chi phí tố tụng khác ....................................................................................... 38
2.5. Thực trạng quy định về xử lý hành vi vi phạm nghĩa vụ của đƣơng sự gây cản trở
hoạt động tố tụng dân sự .............................................................................................. 41
Kết luận Chƣơng 2 ....................................................................................................... 44
Chƣơng 3THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH VỀ NGHĨA VỤ TỐ TỤNG
CỦA ĐƢƠNG SỰ VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................. 45
3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định về nghĩa vụ tố tụng của đƣơng sự ................... 45
3.1.1. Tổng quan tình hình thực hiện các quy định về nghĩa vụ tố tụng của đương sự
..................................................................................................................................... 45
3.1.2. Những vƣớng mắc, bất cập cụ thể từ thực tiễn thực hiện các quy định về nghĩa
vụ tố tụng của đƣơng sự............................................................................................... 46
BẢNG DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
- BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
- BLDS: Bộ luật dân sự
- BPKCTT: Biện pháp khẩn cấp tạm thời
- HĐXX: Hội đồng xét xử
- NVTT: Nghĩa vụ tố tụng
-NVDS: Nghĩa vụ dân sự
- PLTTDS: Pháp luật tố tụng dân sự
- TTDS: Tố tụng dân sự
- TAND: Tòa án nhân dân
- TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
-TƢAP: Tạm ứng án phí
- UBTVQH: Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội
- VADS: Vụ án dân sự
- VVDS: Vụ việc dân sự
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Đƣơng sự trong vụ án dân sự (VADS) là một trong những chủ thể không thể thiếu
trong quá trình giải quyết VADS. Không có đƣơng sự thì cũng không thể phát sinh VADS
tại Tòa án.Bởi vì lợi ích của họ là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng. Do đó
đƣơng sự có vai trò đặc biệt quan trọng trong tố tụng dân sự(TTDS). Để bảo đảm cho các
đƣơng sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình cũng nhƣ bảo đảm cho Tòa án có thể
thuận lợi trong việc thực hiện quyền lực Nhà nƣớc về tƣ pháp dân sự thì các đƣơng sự cần
thực hiện đúng và đầy đủ nghĩa vụ của mình. Việc Toà án tiến hành các hoạt động tố tụng
nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế
khu vực và thế giới.
Xuất phát từ thực trạng trên, việc nghiên cứu về nghĩa vụ của đƣơng sự trong
TTDS là vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đặc biệt quan trọng. Qua việc tìm hiểu về
nghĩa vụ của đƣơng sự trong TTDS giúp chúng ta có cái nhìn tổng quát, cụ thể hơn về
nghĩa vụ của đƣơng sự trong TTDS, đồng thời có ý nghĩa trong việc tìm ra các biện pháp
nhằm bảo đảm thực hiện tốt nghĩa vụ của đƣơng sự phục vụ cho quá trình giải quyết vụ
việc dân sự(VVDS), bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự. Từ đó, tìm ra
những điểm còn hạn chế, thiếu sót, bất cập trong việc áp dụng pháp luật để đƣa ra một số
kiến nghị để khắc phục vƣớng mắc và hoàn thiện pháp luật về vấn đề này cũng nhƣ để
thực hiện trên thực tế đạt hiệu quả tốt.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Có thể thấy BLTTDS 2015 đã đƣợc Quốc hội thông qua và ghi nhận những điểm
sửa đổi, bổ sung quan trọng về nghĩa vụ tố tụng của đƣơng sự mà cho đến nay chƣa có
một công trình khoa học nào nghiên cứu một cách đầy đủ và chi tiết về nghĩa vụ của
đƣơng sự trong TTDS. Hơn nữa đây là công trình nghiên cứu khoa học theo định hƣớng
ứng dụng đầu tiên đi sâu vào thực tiễn thực hiện về nghĩa vụ tố tụng của đƣơng sự tại Tòa
án.
Nghĩa vụ của đƣơng sự trong TTDS tuy đã đƣợc đƣợc đề cập đến trong một số bài
viết, đề tài nghiên cứu về đƣơng sự nhƣng chỉ là nghiên cứu về một nghĩa vụ cụ thể nào
đó của đƣơng sự có thể kể đến nhƣ: nghĩa vụ chứng minh của đƣơng sự có Khóa luận tốt
nghiệp năm 1997 với đề tài “ ghĩa vụ chứng minh của đương sự trong tố tụng dân sự”
của tác giả Lê Tiến Tý.v.v… hay chỉ nghiên cứu về bảo đảm sự có mặt của bị đơn nhƣ bài
viết “Bảo đảm sự có mặt của bị đơn và nh ng vấn đề liên quan khi giải quyết vụ án dân
sự” của tác giả Lê Xuân Trì đăng trên Tạp trí Tòa án nhân dân (TAND) số 1 năm
3
1998.v.v… Hay chỉ đƣợc đề cập tới một phần trong Khóa luận tốt nghiệp năm 2010 với
4
Do giới hạn luận văn không cho phép và muốn đề tài đi sâu hơn vào thực tiễn thực
hiện nghĩa vụ của đƣơng sự trong TTDS nênphạm vi nghiên cứu của đề tài là nghĩa vụ
của đƣơng sự trong TTDS và thực tiễn thực hiện nghĩa vụ của đƣơng sự trong quá trình
giải quyết VADS tại Tòa án cấp sơ thẩm.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu đƣợc thực hiện trên cơ sở phƣơng pháp luận của chủ nghĩa Mác –
Lênin. Quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà
nƣớc về xây dựng Nhà nƣớc pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Ngoài ra, quá trình nghiên cứu
đề tài luận văn, các phƣơng pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác cũng đƣợc sử
dụng nhƣ: phân tích, chứng minh, tổng hợp, so sánh, thống kê, diễn giải, quy nạp.v.v…
Trong đó, phƣơng pháp đƣợc sử dụng chủ yếu là phƣơng pháp phân tích, diễn giải, quy
nạp.
5. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Qua việc tìm hiểu về nghĩa vụ của đƣơng sự trong TTDS giúp chúng ta có cái nhìn
tổng quát, cụ thể hơn về nghĩa vụ của đƣơng sự trong TTDS, đồng thời có ý nghĩa trong
việc tìm ra các biện pháp nhằm bảo đảm thực hiện tốt nghĩa vụ của đƣơng sự phục vụ cho
quá trình giải quyết VVDS, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của đƣơng sự. Từ đó, tìm
ra những điểm còn hạn chế, thiếu sót, bất cập trong việc áp dụng pháp luật để đƣa ra một
số kiến nghị hoàn thiện pháp luật và thực hiện pháp luật về NVTT của đƣơng sự.
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là tìm hiểu những vấn đề lý luận cơ bản về
NVTT của đƣơng sự, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật TTDS Việt Nam hiện hành
về NVTT của đƣơng sự và thực tiễn thực hiện NVTT của đƣơng sự tại Tòa án; đề tài
nghiên cứu về các biện pháp xử lý đối với trƣờng hợp vi phạm nghĩa vụ TTDS nhằm đảm
bảo cho việc thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ của đƣơng sự, trên cơ sở đó tìm ra những
điểm còn hạn chế, thiếu sót, bất cập trong việc áp dụng pháp luật để đƣa ra một số kiến
nghị hoàn thiện giúp tăng cƣờng kỷ luật, kỷ cƣơng trong tố tụng, giáo dục mọi ngƣời chấp
hành nghiêm chỉnh pháp luật, phòng ngừa những vi phạm có thể xảy ra và nâng cao uy tín
sót, bất cập, hạn chế của các quy định pháp luật TTDS hiện hành, đánh giá thực tiễn thực
hiện các quy định pháp luật TTDS về nghĩa vụ của đƣơng sự để làm cơ sở thực tiễn cho
việc hoàn thiện quy định của pháp luật TTDS và thực hiện pháp luật TTDS trên thực tế có
hiệu quả.
6
Luận văn có thể đƣợc sử dụng để làm tài liệu tham khảo cho Thẩm phán, Thƣ ký
Tòa án, Kiểm sát viên trong công tác thực tiễn và có thể đƣợc sử dụng để đóng góp vào
việc sửa đổi, bổ sung các quy định của BLTTDS về nghĩa vụ của đƣơng sự và các biện
pháp xử lý đƣơng sự khi họ không thực hiện, thực hiện không đúng và đầy đủ NVTT của
mình.
7
Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc
kết cấu gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Khái quát chung về nghĩa vụ của đƣơng sự trong tố tụng dân sự Việt
Nam.
Chƣơng 2: Thực trạng pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về nghĩa vụ
của đƣơng sự trong tố tụng dân sự.
Chƣơng 3: Thực tiễn thực hiện các quy định về nghĩa vụ tố tụng của đƣơng sự và
kiến nghị.
8
“tố tụng” là vạch tội và đƣa ra cửa công để phân giải phải trái do chữ“tố” là vạch tội, chữ
“tụng” là thƣa kiện ở cửa công để xin phân phải trái.
1
Cornne Renautl – Brahinsky (2002), Đại cƣơng về pháp luật hợp đồng, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội tr. 11
Roger Resau, Jean Rondepierre, esdouard Bourrel, Michel Lerolle, Maurice Esmein, Paul Sumien (1951), Petit
Dictionnaire de Droit, Librairie Dalloz, Paris
3
https://websrv1.ctu.edu.vn/coursewares/luat/dansuvietnam/luatdansu/gioithieuchung4.htm ngày truy cập 12 tháng 4
năm 2017
4
Đào Duy Anh (1957), Từ điển Hán Việt, Trƣờng Thi xuất bản, Sài Gòn, tr. 302
2
9
Nhƣ vậy có thể hiểu “tố tụng” là việc thƣa kiện ở Tòa án và đƣợc Tòa án chấp
nhận việc thƣa kiện đó để giải quyết. “ ố tụng dân sự” là một trình tự hoạt động do pháp
luật quy định cho việc xem xét giải quyết vụ án dân sự và thi hành án dân sự. Mục đích
của tố tụng dân sự là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan tổ chức và
lợi ích của Nhà nƣớc5. Một định nghĩa tƣơng tự đã đƣợc TS. Nguyễn Công Bình khẳng
định tại trang 10 của Giáo trình luật tố tụng dân sự Việt Nam, Nxb Công an nhân dân năm
2012. Tuy nhiên, nếu xét theo nghĩa hẹp thì trình tự tố tụng là việc thực hiện các hành vi
tố tụng trƣớc Tòa án, từ khi bắt đầu có yêu cầu khởi kiện đến khi Tòa án ra phán quyết
cuối cùng về vụ việc và đƣơng sự phải thực hiện NVTT trong suốt quá trình giải quyết
VADS.
Nhƣ chúng ta đã biết, nghĩa vụ dân sự của một ngƣời bắt đầu có từ khi ngƣời đó
tham gia vào một giao dịch dân sự và kết thúc khi ngƣời đó thực hiện xong nghĩa vụ của
vụ việc dân sự được nhanh ch ng chính ác công minh đúng pháp uật.
1.1.2. Đặc điểm của nghĩa vụ của đương sự trong tố tụng dân sự
- ghĩa vụ tố tụng của đương sự có mối liên hệ mật thiết v i nhiệm vụ và quá trình giải
quyết vụ án dân sự của Tòa án
Các chủ thể của hoạt động TTDS rất đa dạng, bao gồm: Các cơ quan tiến hành tố
tụng, ngƣời tiến hành tố tụng và những ngƣời tham gia tố tụng, ngƣời liên quan. Tùy theo
mục đích, vai trò tham gia tố tụng (TGTT) dân sự của các chủ thể này mà pháp luật quy
định các quyền và nghĩa vụ pháp lý nhất định. Căn cứ vào mục đích tham gia tố tụng và
địa vị pháp lý của các chủ thể này có thể phân chia các chủ thể thành ba nhóm: Nhóm thứ
nhất bao gồm các chủ thể có nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết vụ việc dân sự, tổ chức thi
hành án dân sự, kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong quá trình tố tụng nhƣ tòa án, viện
kiểm sát.v.v… Nhóm thứ hai bao gồm các chủ thể tham gia tố tụng để bảo vệ quyền, lợi
ích hợp pháp của mình hay của ngƣời khác nhƣ đƣơng sự, ngƣời đại diện của đƣơng
sự.v.v… Nhóm thứ ba bao gồm các chủ thể tham gia tố tụng để hỗ trợ tòa án trong việc
giải quyết VVDS nhƣ ngƣời làm chứng, ngƣời giám định.v.v… và ngƣời liên quan7.
Trong các chủ thể đó thì đƣơng sự có một vai trò hết sức quan trọng trong TTDS vì lợi
ích của đƣơng sự là nguyên nhân và mục đích của quá trình tố tụng. Khi đƣơng sự thực
hiện nghĩa vụ của mình là cơ sở làm phát sinh quyền, nghĩa vụ pháp lý của các chủ thể
khác nhƣ Tòa án, Viện kiểm sát và những ngƣời tham gia tố tụng khác. Ví dụ nhƣ việc
đƣơng sự có nghĩa vụ cung cấp tài liệu, chứng cứ, chứng minh cho yêu cầu của mình là
hợp pháp và có căn cứthì Tòa án có trách nhiệm hỗ trợ đƣơng sự trong việc thu thập
chứng cứ và chỉ tiến hành thu thập, xác minh chứng cứ trong những trƣờng hợp pháp luật
quy định. Do đó ta có thể thấy đƣợc mối quan hệ rất rõ giữa nghĩa vụ tố tụng của đƣơng
sự có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụ và quá trình giải quyết vụ án dân sự của Tòa án.
Trong quá trình giải quyết VADS, chủ yếuNVTT của đƣơng sự là phải thực hiện đối với
các yêu cầu của Tòa án.Bên cạnh đó, đƣơng sự cũng phải thực hiện NVTT đối với các
7
Giáo trình luật Tố tụng dân sự Việt Nam (2017), Trƣờng Đại học luật Hà Nội, Nxb CAND tr. 33
NVTT của đƣơng sự là do PLTTDS quy định, bắt buộc các đƣơng sự phải thực hiện
khi tham gia vào quá trình giải quyết VADS. Các đƣơng sự đều phải thực hiện NVTT
bình đẳng nhƣ nhau, không phân biệt tƣ cách TGTT, không phân biệt dân tộc, giới tính,
tín ngƣỡng, tôn giáo, thành phần xã hội, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, địa vị xã hội. Cho
dù đƣơng sự là nguyên đơn, bị đơn, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì đều có
NVTT chung phải thực hiện nhƣ nhau nhƣ đều có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng
12
minh để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, đều phải tôn trọng Tòa án và chấp
hành nghiêm chỉnh nội quy phiên tòa .v.v… 8Nhƣng khi giải quyết từng yêu cầu cụ thể
của từng đƣơng sự và dựa vào từng kết quả giải quyết yêu cầu đó mà các đƣơng sự lại có
nghĩa vụ tố tụng khác nhau nhƣ nếu kết quả giám định chứng minh yêu cầu của nguyên
đơn là có căn cứ thì nguyên đơn không phải chịu chi phí giám định, còn bị đơn phải chịu
chi phí giám định.v.v…Chế tài áp dụng đối với các đƣơng sự khi không thực hiện nghĩa
vụ tố tụng là khác nhau, phụ thuộc vào tƣ cách tham gia tố tụngcủa từng đƣơng sự đó nhƣ
Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà nguyên đơn không có mặt mà không có ngƣời
đại diện tham gia phiên tòa thì Tòa án sẽ đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi
kiện của nguyên đơn, còn bị đơnkhông có yêu cầu phản tố, ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ
liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có ngƣời đại diện tham gia phiên
tòa thì Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ.v.v…
- ghĩa vụ tố tụng của đương sự có mối liên hệ mật thiết v i nghĩa vụ dân sự của
đương sự và quyền tố tụng của đương sự
NVTT của đƣơng sự có mối liên hệ mật thiết với NVDS của đƣơng sự. Trƣớc khi
tham gia vào một quan hệ TTDS cụ thể thì các đƣơng sự chính là chủ thể của quan hệ
pháp luật nội dung (quan hệ dân sự, hôn nhân gia đình, kinh doanh thƣơng mại, lao động).
Trong các quan hệ dân sự theo nghĩa rộng này thì các chủ thể có các quyền dân sự nhất
định và chỉ khi một trong các quyền dân sự của chủ thể bị xâm phạm thì chủ thể đó mới
có quyền tự bảo vệ hoặc yêu cầu Tòa án bảo vệ. Nhƣ vậy, chỉ có ngƣời có quyền dân sự
đến NVTT của đƣơng sự bên kia. Cơ quan tiến hành tố tụng hay ngƣời tiến hành tố tụng
thì quan tâm đến việc chấp hành NVTT của các đƣơng sự, còn các đƣơng sự chỉ quan tâm
đến quyền của mình khi TGTT. Bên cạnh đó, có một số nghĩa vụ của đƣơng sự cũng là
quyền của đƣơng sự khi tham gia TTDS nhƣ quyền và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và
chứng minh.9
- ghĩa vụ tố tụng của đương sự có thể được thực hiện thông qua người đại diện
và có thể được chuyển giao cho người khác
Trong TTDS, để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình các đƣơng sự thƣờng
tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình. Tuy vậy, trong một số trƣờng
hợp ngƣời khác có thể tham gia tố tụng thực hiện các NVTT của đƣơng sự. Vấn đề này
phụ thuộc vào NVDS, có những NVDS đƣợc chuyển giao cho ngƣời khác(nhƣ NVDS về
tài sản) thì NVTT của ngƣời đó mới đƣợc chuyển giao. Trong quá trình Tòa án giải quyết
VADS, đƣơng sự có thể trực tiếp hoặc thông qua ngƣời đại diện hợp pháp tham gia vào
bất kỳ giai đoạn nào của quá trình này để thực hiện các NVTT. Xuất phát từ tính đa dạng
của các quan hệ pháp luật tố tụng dân sự nên ngƣời đại diện của đƣơng sự trong TTDS
cũng rất đa dạng bao gồm: Ngƣời đại diện theo pháp luật và ngƣời đại diện theo ủy
9
Phạm Thị Hoàng Phúc (2013), Nghĩa vụ của đƣơng sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, Luận văn thạc sỹ Luật học
năm 2013 tr.10
14
quyền. Ngƣời đại diện theo pháp luật có phạm vi tố tụng không bị hạn chế trong các loại
việc do đó có đầy đủ tất cả các NVTT của đƣơng sự, trừ quyền hòa giải trong vụ án ly
hôn, còn ngƣời đại diện theo ủy quyền chỉ phải thực hiện NVTT trong phạm vi đƣợc ủy
quyền và đối với việc ly hôn, đƣơng sự không đƣợc ủy quyền cho ngƣời khác thay mặt
mình tham gia tố tụng.
Trong quá trình Tòa án đang giải quyết VADS có thể có một trong các đƣơng sự là
quy định cho các chủ thể này các quyền và NVTT khi TGTT trong việc giải quyết VADS.
Các quyền và nghĩa vụ TTDS của đƣơng sự, trong đó, quyền và NVDS của đƣơng sự và
nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết VADS của Tòa án là nền tảng để ghi nhận các quyền và
nghĩa vụ TTDS của đƣơng sự.Đồng thời việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ TTDS của
đƣơng sự là bảo đảm cho việc bảo vệ quyền và lợi ích về dân sự. Vì vậy, xét về mặt lý
luận việc ghi nhận nghĩa vụ TTDS của đƣơng sự phải dựa trên cơ sở, phù hợp với
quyềnNVDS và nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết VADS của Tòa án và VKS, cụ thể đƣợc
thể hiện nhƣ sau10:
- Khi TGTT tại Tòa án để giải quyết VADS, đƣơng sự có quyền về dân sự phải có
NVTT là chứng minh rằng họ là chủ thể có quyền, lợi ích về dân sự bị xâm phạm. Đồng
thời họ có nghĩa vụ chứng minh đƣơng sự kia là ngƣời có nghĩa vụ về dân sự.
- Các chủ thể trong quan hệ dân sựbình đẳng với nhau về địa vị pháp lý, tức là bình
đẳng trong việc hƣởng quyền và bình đẳng trong việc thực hiện nghĩa vụ, cũng nhƣ chịu
trách nhiệm trong các quan hệ dân sự mà mình tham gia. Các đƣơng sự có vị trí tố tụng
nhƣ nhau có quyền, nghĩa vụ tố tụng nhƣ nhau. Trƣờng hợp các đƣơng sự có vị trí tố tụng
khác nhau (chẳng hạn nhƣ vị trí nguyên đơn và vị trí bị đơn), các đƣơng sự vẫn có cơ hội
và khả năng bình đẳng nhƣ nhau trong việc thực hiện các quyền tố tụng để bảo vệ quyền,
lợi ích hợp pháp của mình trƣớc Toà án, nhƣ quyền đƣa ra yêu cầu, quyền phản đối yêu
cầu, quyền kháng cáo, khiếu nại, xuất trình chứng cứ, tranh luận, quyền tự bảo vệ hoặc
nhờ ngƣời khác bảo vệ.v.v… Đồng thời, các đƣơng sự cũng bình đẳng với nhau trong
việc thực hiện các nghĩa vụ tố tụng, nhƣ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ, nghĩa vụ tôn trọng
Toà án, chấp hành các quyết định của Toà án trong thời gian giải quyết vụ án.v.v…Xét
một cách tổng thể thì các đƣơng sự TGTT với tƣ cách khác nhau nhƣng bình đẳng với
nhau về điều kiện để TGTT, điều kiện thực hiện NVTT.
- Việc quy định NVTT của đƣơng sự phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa giữa
việc ghi nhận NVTT của đƣơng sự với nhiệm vụ, quyền hạn giải quyết VADS của Tòa án
và Viện kiểm sát nhƣ quyền và NVTT của các chủ thể tố tụng khác nhƣ ngƣời làm chứng,
ngƣời giám định, ngƣời phiên dịch.v.v…đúng với vai trò của mỗi chủ thể này trong
TTDS. Bởi vì, cùng với việc quy định quyền của đƣơng sự thì đồng thời phải xác định
của Tòa án.
Một trong những nguyên nhân đó là trình độ dân trí của ngƣời dân vẫn còn thấp, sự
chênh lệch giữa các vùng miền, ở một số nơi thì ngƣời dân đã có kiến thức về pháp luật
nhƣng một số nơi thì pháp luật còn là một điều gì đó xa vời, không gắn với thực tiễn cuộc
sống, họ thờ ờ trƣớc pháp luật và vì lợi ích riêng cho mình mà có nhiều hành động trái với
pháp luật ảnh hƣởng tới hoạt động của đƣơng sự khác cũng nhƣ Tòa án nên đã xảy ra tình
trạng đƣơng sự không thực hiện NVTT, có hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án.
Với tình trạng đó, đòi hỏi PLTTDS phải quy định rõ ràng NVTT của đƣơng sự nhƣ phải
quy định rõ đâu là quyền, đâu là nghĩa vụ tố tụng của đƣơng sự khi TGTT tại Tòa án, để
17
họ dễ nhận biết và thực hiện, đồng thời phải có chế tài xử lý nghiêm khắc và kịp thời
những hành vi vi phạm NVTT của đƣơng sự gây cản trở cho hoạt động tố tụng của Tòa
án.
Bên cạnh đó, tình trạng sai lầm trong quá trình giải quyết VADS dẫn đến án bị hủy
đi hủy lại nhiều lần làm mất lòng tin của đƣơng sự, dẫn đến sự chống đối của họ gây cản
trở hoạt động tố tụng của Tòa án trong việc giải quyết VADS. Sự sai lầm xuất phát từ
nhiều nguyên nhân có cả nguyên nhân khách quan và chủ quan.Sự độc lập, khách quan và
tinh thần trách nhiệm của Tòa án là một trong những điều kiện quan trọng đảm bảo thực
hiện quyền tố tụng của đƣơng sự. Trên thực tế có nhiều trƣờng hợp những ngƣời tiến
hành tố tụng đã chịu sự tác động, chi phối từ nhiều phía, có thể từ cơ quan, tổ chức hữu
quan ở địa phƣơng, từ cơ quan quản lý cấp trên, từ những ngƣời thân thích hoặc quen biết
họ dẫn đến sự không công tâm khi giải quyết VADS. Hơn nữa,lãnh đạo của một số Tòa
án nhân dân địa phƣơng chƣa phát huy đầy đủ tinh thần trách nhiệm; năng lực quản lý và
điều hành trong công tác còn hạn chế nên phần nào cũng ảnh hƣởng tới hiệu quả công tác
của đơn vị. Vẫn còn một số Thẩm phán, cán bộ Toà án hạn chế về năng lực, trình độ,
thiếu nhiệt huyết; tinh thần trách nhiệm, thái độ phục vụ nhân dân và việc chấp hành kỷ
luật công vụ chƣa tốt nên hiệu quả công tác thấp, thậm chí có trƣờng hợp sa sút về phẩm
VADS đƣợc nhanh chóng, hiệu quả và đúng đắn. Việc các đƣơng sự thực hiện NVTT nhƣ
thế nào sẽ có ý nghĩa nhất định đối với quá trình giải quyết VADS. Do vậy, trong quá
trình tố tụng các đƣơng sự phải thực hiện nghiêm chỉnh NVTT của mình theo quy định
của pháp luật.
19
Kết luận Chƣơng 1
Kết quả nghiên cứu Chƣơng 1 đã làm rõ đƣợc khái niệm, đặc điểm của nghĩa vụ tố
tụng của đƣơng sự. Theo đó, nghĩa vụ của đƣơng sự trong tố tụng dân sự là quan hệ pháp
luật tố tụng dân sự, trong đó đƣơng sự bắt buộc phải thực hiện các bổn phận của mình
theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự đối với cơ quan tiến hành tố tụng dân sự, với
đƣơng sự khác và với cơ quan, tổ chức, cá nhân khác trong quá trình giải quyết vụ việc
dân sự tại Tòa án, nếu không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ thì sẽ bị áp
dụng chế tài theo quy định của pháp luật nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp của các chủ
thể tham gia tố tụng và bảo đảm cho việc giải quyết các vụ việc dân sự của Tòa án đƣợc
nhanh chóng, chính xác, đúng pháp luật.
NVTT của đƣơng sự mang tính bắt buộc và đƣơng sự phải chịu hậu quả pháp lý
nếu không thực hiện, có mối liên hệ mật thiết với nhiệm vụ và quá trình giải quyết VADS
của Tòa án, với NVDS của đƣơng sự và quyền tố tụng của đƣơng sự và có thể thực hiện
thông qua ngƣời đại diện và có thể đƣợc chuyển giao cho ngƣời khác.Việc xây dựng và
thực hiện các quy định về NVTT của đƣơng sự đƣợc dựa trên cơ sở lý luận và thực tiễn tố
tụng tại Tòa án.
Các kết quả nghiên cứu tại Chƣơng 1 sẽ là tiền đề quan trọng để đánh giá về thực
trạng pháp luật về nghĩa vụ tố tụng của đƣơng sự và thực tiễn thực hiện chúng tại các Tòa
án.