Bảo đảm quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp trong bộ luật dân sự năm 2015 (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH TRANG

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG CỦA DOANH
NGHIỆP TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGUYỄN THỊ THANH TRANG

TÊN ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG

Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô trong hội đồng chấm
luận văn đã cho tôi những đóng góp quý báu để hoàn chỉnh luận văn này.
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2016
Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Trang


4

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ
trợ từ Giáo viên hướng dẫn là PGS. TS Dương Đăng Huệ. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực. Những số liệu phục vụ
cho việc phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các
nguồn khác nhau có ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài
còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như số liệu của các tác giả, cơ
quan tổ chức khác và cũng thể hiện trong phần tài liệu tham khảo. Nếu phát
hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm trước hội
đồng cũng như kết quả luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 15 tháng 12 năm 2016
Tác giả

Nguyễn Thị Thanh Trang

MỤC LỤC


5



7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

8

8. Kết cấu của luận văn

9

6
7

1.1. Khái niệm và vai trò của quyền tự do hợp đồng đối với hoạt động của
doanh nghiệp
10
1.1.1. Khái niệm và nội dung quyền tự do hợp đồng
10
1.1.2. Vai trò của quyền tự do hợp đồng đối với hoạt động của doanh nghiệp
19
1.2. Quan hệ giữa quyền tự do hợp đồng và quyền tự do kinh doanh
22
1.3. Vai trò chủ đạo của pháp luật dân sự trong việc bảo đảm quyền tự do
hợp đồng
23
1.3.1. Khái niệm bảo đảm quyền tự do hợp đồng
23
1.3.2. Vai trò của các luật chuyên ngành
24
1.3.3. Vai trò chủ đạo của Bộ luật dân sự
28

49
2.4.4. Tự do quyết định việc thay đổi, hủy bỏ hợp đồng khi hoàn cảnh thay
đổi một cách cơ bản
52
2.4.5. Bộ luật Dân sự năm 2015 hạn chế sự can thiệp của cơ quan công
quyền vào hoạt động ký kết, thực hiện hợp đồng
58
Kết luận Chương 2:
62
CHƯƠNG 3: NHỮNG GIẢI PHÁP CẦN ÁP DỤNG ĐỂ GÓP PHẦN BẢO
ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP

64

3.3. Cần có những sửa đổi, bổ sung các quy định trong các văn bản pháp luật
chuyên ngành để đảm bảo thống nhất so với Bộ luật Dân sự 2015
64
3.4. Tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung các quy định còn chưa hợp lý
trong Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến việc bảo đảm thực hiện quyền
tự do hợp đồng của doanh nghiệp
67
3.3. Tuyên truyền trong giới doanh nhân nội dung cơ bản của các quy định
trong Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến chế định hợp đồng
70
3.4. Tăng cường công tác giải thích pháp luật
71
Kết luận Chương III:
72
KẾT LUẬN



8

thống pháp luật tư (pháp luật điều chỉnh các quan hệ tài sản được thiết lập trên
nguyên tắc bình đẳng, tự do, tự nguyện và tự chịu trách nhiệm của các chủ thể
tham gia quan hệ).
Doanh nghiệp là nhân vật chủ yếu của nền kinh tế thị trường nên có thể
khẳng định rằng, không một ai trong xã hội quan tâm đến BLDS, đặc biệt là
phần quy định về hợp đồng như các doanh nghiệp. Thông qua việc thiết lập và
thực hiện các hợp đồng, các chủ thể kinh doanh có thể tiến hành các hoạt động
kinh doanh một cách chủ động, sáng tạo và đạt hiệu quả cao. Về mặt lý luận,
quyền tự do hợp đồng được coi là một bộ phận cấu thành quan trọng, là biểu
hiện sinh động nhất của quyền tự do kinh doanh. Việc ghi nhận quyền tự do
hợp đồng có tác động lớn tới quyền tự do kinh doanh của các chủ thể kinh
doanh.
Có thể nói, không có tự do hợp đồng thì sẽ không có tự do kinh doanh.
Mặt khác tự do kinh doanh nói chung và tự do hợp đồng nói riêng cũng chỉ là
khẩu hiệu, lời nói suông nếu như sau tuyên bố đó Nhà nước không thông qua
cả hệ thống pháp luật của mình để ghi nhận các cơ chế, chính sách nhằm tạo
điều kiện cho các quyền tự do đó được thực thi trong thực tiễn. Vì vậy, việc
nghiên cứu các cơ chế bảo đảm quyền tự do hợp đồng cũng chính là một giải
pháp góp phần bảo đảm quyền tự do kinh doanh – một quyền kinh tế cơ bản
nhất mà Hiến pháp 2013 đã ghi nhận.
Trên quan điểm như vậy, tôi cho rằng, việc nghiên cứu để phát hiện và
vận dụng các quy định trong BLDS 2015 có liên quan đến việc bảo đảm quyền
tự do hợp đồng là rất cần thiết và bổ ích trong giai đoạn hiện nay và đó là lý do
để tôi chọn vấn đề: “Bảo đảm quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp trong


9

pháp luật Việt Nam, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
- Nguyễn Thị Trang (2013), Hình thức hợp đồng dân sự - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà
Nội, Hà Nội;
- Thái Thị Hải Yến (2013), Thực hiện hợp đồng dân sự những vấn đề
lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội;
- Lê Thị Yến (2013), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự
- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội, Hà Nội;
- Hoàng Trung Hiếu (2013), Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng dân
sự (2013), Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;…
Mặc dù đã được nghiên cứu tương đối đầy đủ và sâu sắc nhưng do
đối tượng nghiên cứu của các công trình này là các đạo luật (trong đó có BLDS
2005) đã được ban hành trước khi Nhà nước ta thông qua BLDS 2015 nên có
thể nói rằng, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề bảo đảm
quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp trong BLDS 2015. Tuy vậy, các công
trình nói trên là những tài liệu rất quý giá cho tác giả tham khảo, phục vụ việc
nghiên cứu của mình.
Hiện nay, sau khi BLDS 2015 đã được ban hành và mặc dù chưa có
hiệu lực nhưng đã có một số bài viết nghiên cứu về BLDS 2015 nói chung và
phần thứ ba: “Nghĩa vụ và hợp đồng” nói riêng. Trong số các bài viết đó đáng
lưu ý nhất là:


11

- Bài nghiên cứu “Những sửa đổi, bổ sung quy định về đại diện trong
Bộ luật dân sự năm 2015 có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp” của
ThS. Bùi Thị Thanh Hằng – Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội;

2.2.

Phạm vi nghiên cứu

Quyền tự do hợp đồng được bảo đảm thực hiện bởi nhiều biện pháp;
ngoài biện pháp pháp luật còn cần có các biện pháp khác như biện pháp chính
trị, kinh tế, xã hội… Trong biện pháp pháp luật thì có thể khẳng định rằng, cả
hệ thống pháp luật Việt Nam từ Hiến pháp đến các văn bản quy phạm pháp luật
có giá trị thấp nhất đều phải có nhiệm vụ tạo ra các cơ chế, biện pháp, công cụ
về mặt pháp lý để các tổ chức, cá nhân thực hiện được quyền tự do hợp đồng
đã được ghi nhận trong chính sách của Đảng và trong Hiến pháp năm 2013 của
Nhà nước ta.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ cho phép của một luận văn, đề tài chỉ tập
trung nghiên cứu về vai trò của BLDS 2015 trong việc bảo đảm quyền tự do
hợp đồng mà thôi. Các đạo luật khác, ví dụ như Luật Thương mại, Luật Kinh
doanh bảo hiểm, Luật Xây dựng, Luật Các Tổ chức tín dụng, Luật Đất đai…
nếu có được nhắc tới thì cũng chỉ có vai trò là công cụ so sánh, minh họa để
làm sâu sắc thêm vai trò quan trọng của BLDS 2015 trong việc bảo đảm quyền
tự do hợp đồng nói chung và quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp nói riêng
mà thôi.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1.

Mục tiêu

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là thông qua việc phân tích các quy
định mới trong BLDS 2015 liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng,
tác giả muốn chứng minh rằng, BLDS này là một bước phát triển mới trong



14

5. Phương pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm của
Đảng và Nhà nước ta về xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Luận văn vận dụng các nguyên tắc phương pháp luận
của triết học Mác – Lênin, của lý luận nhà nước và pháp luật để làm cơ sở
nghiên cứu các vấn đề cụ thể liên quan đến đối tượng nghiên cứu của luận văn.
Ngoài ra, luận văn có sử dụng một hệ thống các phương pháp nghiên
cứu cụ thể tiêu biểu như: phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp so
sánh, phương pháp diễn dịch và quy nạp, phương pháp xã hội học, phương
pháp lịch sử - cụ thể,…
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Luận văn có ý nghĩa khoa học và thực tiễn vì đã làm rõ được một số
vấn đề chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, luận văn đã cho thấy, tự do hợp đồng là vấn đề rất quan trọng
đối với doanh nghiệp nhưng vấn đề làm sao để bảo đảm được quyền này trên
thực tế còn là vấn đề quan trọng hơn.
Thứ hai, luận văn đã làm rõ mối quan hệ giữa tự do hợp đồng và bảo
đảm quyền tự do hợp đồng. Đây là hai vấn đề khác nhau, tuy có quan hệ chặt
chẽ với nhau. Không có tự do hợp đồng thì đương nhiên sẽ không đặt ra vấn đề
bảo đảm quyền tự do hợp đồng. Nhưng nếu có tự do hợp đồng mà không có cơ
chế bảo đảm cho tự do hợp đồng được thực hiện trong thực tiễn thì quyền tự do
hợp đồng ấy cũng chẳng có giá trị gì.


15

Thứ ba, luận văn đã nghiên cứu khái quát về quyền tự do hợp đồng,
phân tích một cách hệ thống các quy định có tác dụng bảo đảm quyền tự do

được lập ra một cách tự do mà không được thi hành một cách bình thường2. Vì
vậy, dù ở hệ thống pháp luật nào, người ta cũng đều thừa nhận nền tảng của
luật hợp đồng là tự do ý chí.
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng hiện nay có nguồn gốc từ thuyết tự
do ý chí trong giao kết hợp đồng từ thế kỷ XVIII và nằm trong hệ thống các
quan điểm của nền triết học ánh sáng. Theo nguyên tắc tự do giao kết hợp
đồng, các bên chủ thể giao kết hợp đồng được quyết định mọi vấn đề liên quan
đến hợp đồng.
1 Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2. Contrat, TroisiÌme Ðdition, Litec, 1989, p. 3, trích trong tài
liệu: Ngô Huy Cương (2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”,
Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (2), tr.11.
2Edward
Younkins,
Freedom
to
contract,
Liberty
Free
Press,
June
15,
2000,[http://www.quebecoislibre.org/younkins25.html], 2/2/2008, trích trong tài liệu: Ngô Huy Cương
(2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nghiên cứu lập
pháp, (2), tr.11.


17

Học thuyết tự do hợp đồng đã phát triển mạnh mẽ ở Pháp vào thế kỷ
XVIII, theo đó, cá nhân chỉ có thể bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình được

hưởng lớn tới Bộ luật Dân sự Đức 1900. Như vậy cả hai Bộ luật Dân sự (Bộ
luật Dân sự Pháp 1804 và Bộ luật Dân sự Đức 1900) làm hình mẫu cho các Bộ
luật Dân sự khác đều bị ảnh hưởng sâu sắc bởi học thuyết tự do ý chí.
Với Common Law, tự do hợp đồng là một học thuyết trung tâm của luật
hợp đồng cổ điển. Học thuyết này nở rộ và phát triển đầy đủ vào khoảng nửa
cuối thế kỷ XIX. Tại đây, pháp luật được tạo ra bởi các thẩm phán và các học
thuyết pháp lý bị ảnh hưởng bởi: (1) Ý tưởng khế ước xã hội từ thời của Locke;
(2) Tư tưởng kinh tế cổ điển; và (3) Quan niệm về sự liên kết tự nguyện giữa
các chủ thể của quan hệ hợp đồng6. Học thuyết này có nguồn gốc từ Thời đại
Khai sáng với tư tưởng của Locke được thể hiện trong công trình Hai luận
thuyết về chính quyền chống lại quyền lực tối thượng thần thánh của các nhà
vua. Theo ông, xã hội vận hành tốt nhất khi các khế ước xã hội đã được định rõ
điều chỉnh hành vi của con người, và là cách thức tốt nhất để bảo vệ đời sống,
tự do và tài sản của cá nhân họ được gọi là các quyền tự nhiên7.
Các lý thuyết gia về hợp đồng ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX đã tiến hành
các quá trình trừu tượng hoá, khái quát hoá và hệ thống hoá các vấn đề liên
quan tới hợp đồng để xây dựng nên một lý thuyết duy nhất dựa trên các giá trị
đạo đức thay thế cho các tín ngưỡng truyền thống có nền tảng là đạo đức đang
bị xói mòn. Kết quả là việc xem hợp đồng như luật giữa các cá nhân. Điều đó

6Lee Boldeman, The Cult of the Market: Economic Fundamentalism and its Discontents,
[http://epress.anu.edu.au/cotm/mobile_devices/index.html], 2/7/2008, trích trong tài liệu: Ngô Huy
Cương (2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”, Tạp chí nghiên
cứu lập pháp, (2), tr.12.
7Wikipedia,
the
free
encyclopedia,
Freedom
of

8 Boris Starck, Droit Civil, Obligations, 2. Contrat, Troisième édition, Litec, 1989, p. 4, trích trong tài
liệu: Ngô Huy Cương (2008), “Tự do ý chí và sự tiếp nhận ý chí trong pháp luật Việt Nam hiện nay”,
Tạp chí nghiên cứu lập pháp, (2), tr.13.


20

1991 quy định “hợp đồng dân sự được giao kết trên nguyên tắc tự nguyện,
bình đẳng nhưng không được trái pháp luật và đạo đức xã hội” (Điều 4). Quy
định này cho thấy pháp luật dân sự trước đây đã không phản ánh được quyền tự
do giao kết hợp đồng của các chủ thể vốn là thuộc tính tất yếu phải có khi tham
gia ký kết hợp đồng dân sự, là nguyên tắc cốt lõi, quan trọng nhất của hợp đồng.
BLDS 2015 của Việt Nam định ra nguyên tắc: “Quyền tự do cam kết,
thoả thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm,
nếu cam kết, thoả thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái
đạo đức xã hội” (Điều 4).
Luật Thương mại 2005 của Việt Nam cũng có nguyên tắc: “Các bên có
quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật mỹ tục và
đạo đức xã hội để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động
thương mại và bảo hộ các quyền đó” (Điều 11, khoản 1).
Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 quy
định tại Điều 1.1 rằng: “Các bên được tự do giao kết hợp đồng và thỏa thuận
nội dung của hợp đồng”. Cũng như vậy, nhưng có phần thận trọng hơn, các
nguyên tắc của Luật hợp đồng châu Âu quy định: “Các bên được tự do giao kết
hợp đồng và xác định nội dung của hợp đồng phụ thuộc vào các yêu cầu về
thiện chí và công bằng và các quy tắc bắt buộc được thiết lập bởi các Nguyên
tắc này” (Điều 1.02).
Qua các quy định này, chúng ta có thể nhận thấy tự do hợp đồng là một
nguyên tắc hết sức quan trọng của luật hợp đồng mà nếu không có nó thì các
thỏa thuận sẽ trở nên vô nghĩa vì không một quan hệ nghĩa vụ nào có thể được



22

Hai là, quyền tự do hợp đồng là quyền luôn được đặt trong khuôn khổ
pháp luật và bị ràng buộc bởi những giới hạn nhất định. Giới hạn này được thể
hiện trên hai phương diện, bao gồm: (i) mức độ ghi nhận của pháp luật về
quyền tự do của các tổ chức, cá nhân trong hoạt động kinh tế và (ii) những bảo
đảm pháp lý (khả năng bảo vệ của pháp luật) cho việc thực thi những quyền đó.
Tóm lại, quyền tự do hợp đồng là quyền của công dân, pháp nhân, là
một bộ phận của quyền tự do kinh doanh. Quyền này mang tính chất tự nhiên
(tức là không do Nhà nước ban phát) nhưng để trở thành “thực quyền” thì
quyền tự do hợp đồng phải được pháp luật Nhà nước ghi nhận và bảo đảm thực
hiện trên thực tế. Chính vì vậy, quyền tự do kinh doanh dù ở bất cứ nơi đâu
cũng phải nằm trong khuôn khổ và trong những giới hạn nhất định của pháp
luật. Các khuôn khổ, giới hạn này sẽ được “nới” dần theo đà phát triển của xã hội.
Cũng như các quyền khác, quyền tự do hợp đồng có nội dung rất cụ thể.
Nội dung của quyền này cũng không bất biến mà luôn có sự bổ sung theo
hướng ngày càng đầy đủ, toàn diện hơn do sự hoàn thiện không ngừng của các
điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước ta. Quyền tự do hợp đồng bao
gồm các quyền cơ bản:
(1) Quyền lựa chọn đối tác;
Các bên có quyền tự do giao kết hợp đồng hoặc tự do không giao kết
hợp đồng với chủ thể nhất định mà không một tổ chức, cá nhân nào được ngăn
cản hay can thiệp vào quyền này một cách bất hợp pháp. Theo đó, các bên có
quyền tự quyết định việc đưa ra đề nghị hay không đưa ra đề nghị giao kết hợp
đồng cũng như nội dung của đề nghị giao kết. Khi nhận được đề nghị, các bên
có quyền tự quyết định chấp nhận hay không chấp nhận đề nghị. Việc quyết



đúng, không đầy đủ hoặc không thực hiện nghĩa vụ theo thoả thuận gây thiệt
hại cho bên còn lại. Để đảm bảo tính bắt buộc thực hiện đúng hợp đồng và tôn
trọng sự thoả thuận của các bên khi giao kết hợp đồng, hạn chế rủi ro cho các
bên, pháp luật quy định nhiều biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp
đồng. Theo đó, khi thoả thuận giao kết hợp đồng, các bên có quyền lựa chọn
các biện pháp trách nhiệm pháp lý như phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, các
bên có quyền tự quyết định về mức phạt, mức bồi thường thiệt hại mà không ai
có thể can thiệp được.
(5) Quyền tự do lựa chọn hình thức hợp đồng;
Hình thức hợp đồng là phương thức ký kết, phương tiện ghi nhận nội dung
thoả thuận của các bên. Nó có thể là thủ tục ký kết hợp đồng hoặc hình thức thể
hiện thoả thuận của các bên, bằng lời nói, hành vi hoặc bằng văn bản, trừ
trường hợp do pháp luật quy định “cứng” thì các bên phải tuân theo. Hình thức
hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng. Nó là chứng cứ xác
nhận các quan hệ hợp đồng đã, đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định trách
nhiệm khi có vi phạm hợp đồng xảy ra. Các bên có quyền xác lập hợp đồng
dưới bất cứ hình thức nào, theo cách mà họ muốn, chỉ cần đạt được sự thoả
thuận, thống nhất ý chí của các bên là coi như hợp đồng đã hình thành. Sự thoả
thuận hợp đồng không phải theo một công thức nào. Các bên có thể lập hợp
đồng bằng cách trao đổi văn bản, thư từ truyền thống, bằng điện tín, bằng điện
thoại, qua mạng internet và các phương tiện điện tử khác… Các bên có quyền
tự do lựa chọn hình thức hợp đồng dưới dạng: bằng lời nói, cử chỉ, hành vi hay
bằng văn bản…
(6) Quyền tự do quyết định phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng;


25

Sau khi hợp đồng được giao kết hợp pháp, các bên có trách nhiệm nghiêm
túc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status