Pháp luật về bảo đảm quyền tự do cạnh tranh cho doanh nghiệp - Pdf 48

PHẠM VĂN SONG

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
LUẬT KINH TẾ

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

PHÁP LUẬT VỀ BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO
CẠNH TRANH CHO DOANH NGHIỆP

PHẠM VĂN SONG

2014 - 2016

HÀ NỘI – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn này là công trình nghiên cứu độc lập
của riêng tôi. Các số liệu, tài liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn trích

LUẬN VĂN THẠC SỸ

dẫn đầy đủ, trung thực. Kết quả nêu trong luận văn chưa từng được công bố
trong bất cứ công trình khoa học nào khác.

Phạm Văn Song


BẢNG TỪ VIẾT TẮT
QPPL

Quy phạm pháp luật

CNTT

Công nghệ thông tin

TTHC

Thủ tục hành chính

QLCT

Quản lý cạnh tranh

CSDLQG

Cơ sở dữ liệu Quốc gia

PAKN

Phản ánh kiến nghị

DNNN


2.3. Chống cạnh tranh không lành mạnh để bảo vệ tự do cạnh tranh. ......... 32
2.4. Cải cách thủ tục hành chính góp phần thúc đẩy doanh nghiệp thực hiện
quyền tự do cạnh tranh ................................................................................... 40
2.5. Phải có chế tài xử lý vi phạm pháp luật cạnh tranh nhằm bảo vệ quyền
tự do cạnh tranh .............................................................................................. 47
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP ........................................................... 54
3.1. Đánh giá khái quát về thực trạng của việc bảo đảm thực hiện quyền tự
do cạnh tranh cho doanh nghiệp .................................................................... 54


3.1.1. Thành tựu đạt được trong việc bảo đảm quyền tự do cạnh tranh cho
doanh nghiệp................................................................................................ 54
3.1.2. Những hạn chế trong việc bảo đảm quyền tự do cạnh tranh của
doanh nghiệp................................................................................................ 66
3.2. Giải pháp đảm bảo thực hiện quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp
.......................................................................................................................... 76
3.2.1. Đảm bảo sự bình đẳng thực sự giữa các loại hình doanh nghiệp ..... 76
3.2.2. Tiếp tục Cải cách thủ tục hành chính nhằm loại bỏ những rào cản
của tự do cạnh tranh .................................................................................... 79
3.2.3. Minh bạch hóa chính sách, pháp luật ................................................ 83
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 87
CHÚ THÍCH........................................................................................................ 88
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 91


LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong bất cứ nền kinh tế hàng hóa nào cũng tồn tại nhu cầu tự do kinh doanh
nói chung, tự do cạnh tranh nói riêng. Tuy nhiên, trong các xã hội khác nhau và ở

hướng người kinh doanh chuyển nguồn lực từ nơi sử dụng có hiệu quả thấp hơn
sang nơi sử dụng có hiệu quả cao hơn. Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan
trọng nhất để huy động nguồn lực của xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ còn thiếu, qua đó nâng cao năng lực sản xuất của toàn xã hội. Trong cạnh
tranh, các doanh nghiệp yếu kém bị đào thải, doanh nghiệp mới xuất hiện. Doanh
nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và phát triển, nhờ đó nguồn lực xã hội
được sử dụng hợp lý. Cạnh tranh tạo ra sự đa dạng của sản phẩm và dịch vụ cũng
chính là tạo ra nhiều lựa chọn cho khách hàng và người tiêu dùng. Để cạnh tranh
tồn tại và duy trì thì bản thân các doanh nghiệp trực tiếp thực hiện các hoạt động
kinh tế phải được tự do thực hiện các hoạt động nhằm kinh doanh, cạnh tranh với
các chủ thể khác trong nền kinh tế, cũng vì vậy mà quyền tự do cạnh tranh được
hình thành và ghi nhận.
Nhận thức được ý nghĩa cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường cũng như
tầm quan trọng của quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp được thực thi trên
thực tế, mà hiện nay quyền tự do cạnh tranh đã được nhà nước ghi nhận và cụ thể
hóa trong các Văn bản QPPL. Tuy nhiên, trên thực tế không phải mọi doanh nghiệp
đều có thể thực hiện được quyền tự do cạnh tranh của mình, nếu không có các biện
pháp đảm bảo, cơ chế thực thi phù hợp thì quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp
chỉ tồn tại trên giấy và không thể đi vào đời sống. Do đó, vấn đề bảo đảm thực hiện
quyền tự do cạnh tranh được đặt ra bức thiết hơn bao giờ hết. Quyền đã có nhưng để
hiện thực hóa đưa quyền tự do cạnh tranh vào cuộc sống thì cần có những biện pháp
đảm bảo thực hiện. Chính vì thế việc nghiên cứu, tìm hiểu pháp luật bảo đảm quyền
tự do cạnh tranh của doanh nghiệp, để từ đó đưa ra những giải pháp nhằm đảm bảo
cho quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp được thực thi trên thực tế là hết sức
cần thiết. Đó cũng là lý do tác giả lựa chọn đề tài: "Pháp luật bảo đảm quyền tự do
cạnh tranh cho doanh nghiệp" làm đề tài Luận văn tốt nghiệp cao học của mình.

2



tranh cho doanh nghiệp là một công trình nghiên cứu độc lập thì chưa có công trình
nào nghiên cứu về vấn đề này.
Do đó, có thể nói đề tài của tác giả là công trình nghiên cứu về quyền tự do
cạnh tranh của doanh nghiệp và pháp luật bảo đảm quyền tự do cạnh tranh cho
doanh nghiệp. Tác giả hy vọng việc nghiên cứu đề tài này để mở đường cho các
công trình nghiên cứu khác về quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp sau này.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về
quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp, những biện pháp pháp lý bảo đảm quyền
tự do cạnh tranh cho doanh nghiệp, phát hiện và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn
thiện pháp luật bảo đảm quyền tự do cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Để đạt được mục đích trên, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Phải trả lời câu hỏi thế nào là quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp
- Quyền tự do sanh tranh của doanh nghiệp được hình thành trên cơ sở nào
- Những yếu tố đảm bảo quyền tự do cạnh tranh cho doanh nghiệp
- Pháp luật hiện hành ở Việt nam đã có những biện pháp gì để đảm bảo
quyền tự do cạnh tranh cho các doanh nghiệp
- Đánh giá khái quát về thực trạng pháp luật bảo đảm quyền tự do cạnh tranh
cho doanh nghiệp và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực này.
4. Phạm vi nghiên cứu
Quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp có thể được nghiên cứu, tiếp cận ở
nhiều góc độ khác nhau. Tuy nhiên, trong phạm vi luận văn này, tác giả chỉ nghiên
cứu, những quy định pháp luật hiện hành của Việt nam đảm bảo quyền tự do cạnh
tranh của doanh nghiệp. Trong đó tác giả luận văn chủ yếu tập trung nghiên cứu
Luật cạnh tranh năm 2004, Luật doanh nghiệp 2014, Luật đầu tư 2014. Khi nghiên

4


cứu Luật cạnh tranh tác giả chỉ tiếp cận ở góc độ bảo đảm quyền tự do cạnh tranh

sở đó chỉ ra những điểm còn bất cập hạn chế trong việc bảo đảm thực thi quyền tự
do cạnh tranh của doanh nghiệp trên thực tế.
Luận văn đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm đảm bảo thực thi quyền tự do
cạnh tranh cho doanh nghiệp.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3
chương:
Chương 1. Những vấn đề lý luận về quyền tự do cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Chương 2. Các biện pháp pháp lý bảo đảm quyền tự do cạnh tranh cho doanh
nghiệp.
Chương 3. Thực trạng và giải pháp đảm bảo quyền tự do cạnh tranh cho
doanh nghiệp.

6


CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN TỰ DO
CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP
1.1. Quan niệm về quyền tự do cạnh tranh
Cùng với sự thay đổi của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử phát triển
của xã hội loài người, con người luôn đi tìm động lực phát triển trong các hình thái
kinh tế xã hội. Với đặc trưng của nền kinh tế chuyển đổi, Việt Nam đã thực thi
những nguyên lý của cơ chế thị trường mà trước đó chưa từng được biết đến trong
nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung. Chúng ta đã dần quen với việc vận dụng một
động lực mới của sự phát triển đó là cạnh tranh.
Trong nền kinh tế thị trường, lợi nhuận vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc
đẩy các chủ thể kinh doanh. Mỗi nhà sản xuất hay thương gia luôn vận dụng những
ưu thế và tiềm năng của mình để tối đa hóa lợi nhuận. Cạnh tranh vì thế đã trở thành
quy luật kinh tế phổ biến, đem lại diện mạo và sắc thái riêng cho nền kinh tế thị

xuất, tiêu thụ sản phẩm, cung cấp dịch vụ kinh doanh dưới những hình thức thích
hợp với khả năng vốn, khả năng quản lý của mình nhằm thu lợi nhuận. [4]. Quyền
tự do kinh doanh là hệ thống các quyền gắn với chủ thể kinh doanh, trong đó có
quyền tự do cạnh. Trong hệ thống các quyền tự do đó thì quyền tự do cạnh tranh
của doanh nghiệp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Giá trị to lớn của quyền tự do
cạnh tranh thể hiện ở chỗ nó là tự do trong hoạt động kinh tế, là động lực thúc đẩy
việc thực hiện các quyền sở hữu tư liệu sản xuất, tự do hợp đồng...
Thừa nhận các doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh, cũng có nghĩa là
nhà nước phải thừa nhận các chủ thể được làm những gì mà pháp luật không cấm để
thực hiện tốt hoạt động kinh doanh của mình, trong đó có quyền tự do cạnh tranh.
Thế nhưng phải hiểu rằng, quyền tự do cạnh tranh của các nhà kinh doanh là cạnh
tranh lành mạnh. Đó là hình thức cạnh tranh tích cực, trong sáng, các doanh nghiệp
có thể sử dụng bất cứ chiêu thức nào để phát triển doanh nghiệp của mình, nếu
không trái pháp luật và làm ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội.
Quan niệm về quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp phải được nhìn
nhận, xem xét một cách toàn diện trên những khía cạnh cơ bản sau:

8


Một là, quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp trước hết phải được nhìn
nhận như là một giá trị tự thân của doanh nghiệp, mà nhà nước phải thừa nhận và
bảo vệ. Quyền này là của bản thân mỗi doanh nghiệp (mang tính khách quan),
không phải là sự ban phát hay trao tặng của nhà nước. Nó là một phần hợp thành và
đóng vai trò quan trọng trong hệ thống các quyền tự do kinh doanh của doanh
nghiệp.
Hai là, quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp có trở thành hiện thực và
phát huy tác dụng trong thực tiễn hay không, tùy thuộc vào việc nhà nước có đáp
ứng được những đòi hỏi mà quyền tự do cạnh tranh đặt ra để kịp thời thể chế hóa và
bảo vệ bằng pháp luật.

trường. Chính vì thế, cạnh tranh được coi là một trong những động lực thúc đẩy của
sự phát triển kinh tế - xã hội, trong nền kinh tế có sự điều tiết của nhà nước.
Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển ở trình độ xã hội hóa cao.
Nó là hình thức, phương thức vận hành kinh tế, trong đó các quy luật của thị trường
chi phối việc phân bổ các tài nguyên, quy định: sản xuất cái gì? sản xuất như thế
nào? và sản xuất cho ai?
Xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế thị trường: nơi mà cung cầu là cốt vật
chất, giá cả là diện mạo và cạnh tranh là linh hồn sống của thị trường. Thị trường là
nơi gặp gỡ giữa sở thích của người tiêu dùng và khả năng đáp ứng về trình độ công
nghệ của người sản xuất. Trong cơ chế thị trường các doanh nghiệp gia nhập thị
trường theo ý muốn và tồn tại bằng việc tạo ra lợi nhuận và phải cạnh tranh nhau.
Với sự ganh đua để đáp ứng nhu cầu của thị trường, các doanh nghiệp tìm mọi cách
để cạnh tranh với nhau bằng cách nâng cao chất lượng sản phẩm, hạ giá thành sản
phẩm... Để các doanh nghiệp thực hiện các hành vi cạnh tranh của mình, pháp luật
cần ghi nhận cho họ quyền được cạnh tranh, quyền tự do thực hiện các hành vi
nhằm phát triển doanh nghiệp, duy trì sự cạnh tranh bền vững với các doanh nghiệp
khác.
Cạnh tranh là sản phẩm riêng có của nền kinh tế thị trường, là linh hồn và là
động lực cho sự phát triển của thị trường. Kinh tế thị trường đòi hỏi phải có sự tồn
tại của tự do, có như thế các nguồn lực thị trường mới có thể vận hành tốt và đem

10


lại hiệu quả cho sự phát triển. Chỉ có trong nền kinh tế thị trường với những đặc
trưng cơ bản của nó quyền tự do cạnh tranh mới được hình thành:
Một là, tính tự chủ của các chủ thể kinh tế rất cao. Các chủ thể kinh tế tự bù
đắp những chi phí và tự chịu trách nhiệm đối với kết quả sản xuất và kinh doanh
của mình. Các chủ thể kinh tế được tự do liên kết, liên doanh, tự do tổ chức quá
trình sản xuất theo luật định. Đây là đặc trưng rất quan trọng của nền kinh tế thị

nhiều lợi nhuận các đơn vị sản xuất và kinh doanh phải đua nhau cải tiến kỹ thuật,
áp dụng kỹ thuật mới vào sản xuất để nâng cao năng suất lao động cá biệt, giảm hao
phí lao động cá biệt nhằm thu lợi nhuận siêu ngạch.
Xuất phát từ đặc điểm của nền kinh tế thị trường mà cạnh tranh là một trong
những quy luật vận động cũng vì thế các chủ thể trực tiếp kinh doanh cạnh tranh với
nhau cần thiết phải được quy định quyền tự do cạnh tranh. Có như vậy, thì trong
nền kinh tế thị trường các chủ thể mới có thể có đủ điều kiện thực hiện kinh doanh
và cạnh tranh với nhau. Việc ghi nhận quyền tự do cạnh tranh của các doanh nghiệp
trong nền kinh tế thị trường là một tất yếu khách quan.
1.2.2. Động lực phát triển kinh tế -thôi thúc cạnh tranh hình thành, phát triển
Sau vài thế kỷ thăng trầm của kinh tế thị trường và với sự chấm dứt của cơ
chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, con người ngày càng nhận thức đúng hơn về bản
chất và ý nghĩa của cạnh tranh đối với sự phát triển chung của đời sống kinh tế. Với
ý nghĩa là động lực thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, cạnh tranh luôn là đối
tượng được pháp luật và các chính sách kinh tế quan tâm. Xuất phát từ ý nghĩa to
lớn mà cạnh tranh mang lại cho nền kinh tế và xã hội, cạnh tranh cần phải được bảo
vệ và duy trì. Để cạnh tranh có thể tồn tại và phát huy được giá trị to lớn của mình
đối với xã hội, nhà nước và pháp luật cần ghi nhận quyền tự do cạnh tranh cho các
doanh nghiệp - các chủ thể trực tiếp thực hiện các hành vi cạnh tranh. Có thể nói,
với những ý nghĩa mà cạnh tranh mang lại chính là một trong những cơ sở quan
trọng góp phần hình thành quyền tự do cạnh tranh của doanh nghiệp.
Cạnh tranh là cơ chế vận hành chủ yếu của kinh tế thị trường, là động lực
thúc đẩy phát triển kinh tế. Cạnh tranh có thể đưa đến lợi ích cho người này và thiệt

12


hại cho người khác, song xét dưới góc độ toàn xã hội, cạnh tranh có ý nghĩa xã hội
lớn lao.
Đối với nền kinh tế, cạnh tranh làm sống động nền kinh tế, thúc đẩy tăng

tự do trong kinh doanh và sự độc lập trong sở hữu của hoạt động doanh nghiệp. Khi
sự tự do kinh doanh bị tiêu diệt thì mọi sự thi đua chỉ là những cuộc tụ họp theo
phong trào,không thể là động lực đích thực thúc đẩy sự phát triển. Cạnh tranh đòi
hỏi nhà nước và pháp luật phải tôn trọng tự do trong kinh doanh, tự do cạnh tranh.
Trong sự tự do cạnh tranh, quyền được sáng tạo trong khuôn khổ tôn trọng lợi ích
của chủ thể khác và của xã hội luôn được đề cao như một kim chỉ nam của sự phát
triển. Sự sáng tạo làm cho cạnh tranh diễn ra liên tục theo chiều hướng gia tăng của
quy mô và nhịp độ tăng trưởng của nền kinh tế. Sự sáng tạo không mệt mỏi của con
người trong cuộc cạnh tranh nhằm đáp ứng những nhu cầu luôn thay đổi qua nhiều
thế hệ liên tiếp là cơ sở thúc đẩy sự phát triển liên tục và đổi mới không ngừng. Sự
đổi mới trong đời sống kinh tế được thể hiện thông qua những thay đổi trong cơ cấu
thị trường, hình thành những ngành nghề mới đáp ứng những nhu cầu của đời sống
hiện đại, sự phát triển liên tục của khoa học kỹ thuật là sự tiến bộ trong nhận thức
của tư duy con người về các vấn đề liên quan đến kinh tế - xã hội.
Đối với xã hội, cạnh tranh là động lực quan trọng nhất để huy động nguồn
lực của xã hội vào sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ còn thiếu, qua đó nâng
cao năng lực sản xuất của toàn xã hội. Trong cạnh tranh các doanh nghiệp yếu kém
bị đào thải, doanh nghiệp mới xuất hiện. Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp
tục tồn tại và phát triển, nhờ đó nguồn lực xã hội được sử dụng một cách hợp lý.
Cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hóa trên thị trường. Khi cung một hàng
hóa nào đó thấp hơn cầu, hàng hóa đó trở nên khan hiếm thị trường, giá cả tăng lên
tạo ra lợi nhuận cao hơn mức bình quân. Khi đó, người kinh doanh sẽ đầu tư vốn
xây dựng thêm cơ sở sản xuất mới hoặc nâng cao năng lực sản xuất của những cơ
sở sản xuất sẵn có. Đó là động lực quan trọng nhất làm tăng thêm lượng vốn đầu tư
cho sản xuất, kinh doanh, nâng cao năng lực sản xuất trong toàn xã hội.

14


Cạnh tranh tạo ra sự đa dạng của sản phẩm và dịch vụ cũng chính là tạo ra


nói nhu cầu và sở thích của người tiêu dùng có vai trò định hướng cho hoạt động
kinh doanh của doanh nghiệp.
Đối với mỗi chủ thể kinh doanh, cạnh tranh tạo áp lực buộc họ phải thường
xuyên tìm tòi sáng tạo, cải tiến phương pháp sản xuất và tổ chức quản lý kinh
doanh, đổi mới công nghệ, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, phát triển sản phẩm
mới, tăng năng suất lao động, hạ giá thành sản phẩm. Qua đó nâng cao trình độ của
công nhân và các nhà quản lý các cấp trong doanh nghiệp. Mặt khác, cạnh tranh
sàng lọc khách quan đội ngũ những người thực sự không có khả năng thích ứng với
sự thay đổi của thị trường.
Cạnh tranh với các tín hiệu giá cả và lợi nhuận sẽ hướng người kinh doanh
chuyển nguồn lực từ nơi sử dụng có hiệu quả thấp hơn sang nơi sử dụng có hiệu quả
cao hơn. Cạnh tranh đảm bảo việc sử dụng các nguồn lực kinh tế một cách hiệu quả
nhất. Những nỗ lực giảm chi phí để từ đó giảm giá thành của hàng hóa, dịch vụ đã
buộc các doanh nghiệp phải tự đặt mình vào những điều kiện kinh doanh tiết kiệm
bằng cách sử dụng một cách hiệu quả nhất các nguồn lực mà họ có được. Mọi sự
lãng phí hoặc tính toán sai lầm trong sử dụng nguyên vật liệu đều có thể dẫn đến
những thất bại trong kinh doanh. Nhìn ở tổng thể của nền kinh tế, cạnh tranh là
động lực cơ bản giảm sự lãng phí trong kinh doanh, giúp cho mọi nguồn nguyên,
nhiên, vật liệu được sử dụng tối ưu.
Cạnh tranh có tác dụng thúc đẩy việc ứng dụng các tiến bộ khoa học, kỹ
thuật trong kinh doanh. Cạnh tranh điều chỉnh cung cầu hàng hóa trên thị trường.
Khi cùng một hàng hóa nào đó lớn hơn cầu, cạnh tranh giữa những người bán làm
cho giá cả thị trường giảm xuống, chỉ những cơ sở kinh doanh nào đủ khả năng cải
tiến công nghệ, trang bị kỹ thuật, phương thức quản lý và hạ được giá sản phẩm mới
có thể tồn tại. Với ý nghĩa đó, cạnh tranh là nhân tố quan trọng đòi hỏi việc ứng
dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong sản xuất. Nhu cầu tìm kiếm lợi nhuận đã
thúc đẩy các doanh nghiệp không ngừng áp dụng các tiến bộ khoa học, kỹ thuật tiên
tiến nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí sản xuất để đáp ứng ngày


sau đây phải được đảm bảo:

17


1.3.1. Bảo đảm sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh doanh
Cơ sở pháp lý quan trọng tạo điều kiện và bảo đảm cho cạnh tranh tồn tại là
các quy định về tự do kinh doanh và quyền được tồn tại bình đẳng của các doanh
nghiệp. Chỉ khi nào được tự do gia nhập thị trường, tự do hợp đồng và bảo đảm
quyền sở hữu thì lúc đó các chủ thể tham gia thị trường mới có đủ năng lực để quyết
định phương thức kinh doanh. Lúc đó, cạnh tranh mới có đất để tồn tại và phát huy
tác dụng. Sự bình đẳng giữa các chủ thể kinh tế được đảm bảo như sau:
Trong thị trường tự do và lành mạnh, các doanh nghiệp tự quyết định việc
cung cấp hàng hóa và dịch vụ mà không chịu bất cứ sự chi phối nào từ phía nhà
nước và các doanh nghiệp khác. Người tiêu dùng mua những hàng hóa mà họ cần.
Thị trường đưa các doanh nghiệp và người tiêu dùng đến với nhau. Cơ chế thị
trường trong đó giá cả thay đổi theo sự vận động của cung cầu quyết định hành vi
của các doanh nghiệp và nhu cầu của người tiêu dùng.
Trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp gia nhập thị trường theo ý muốn,
tồn tại bằng việc tạo ra lợi nhuận, và phải cạnh tranh nhau. Kết quả là trong khi một
vài doanh nghiệp thành công thì sẽ có những doanh nghiệp phải gánh chịu tổn thất,
thậm chí là phải rời bỏ thị trường. Đây là quy tắc tự chịu trách nhiệm của các doanh
nghiệp và được tuân thủ theo nguyên tắc của thị trường.
Pháp luật bảo đảm loại trừ những hành vi phản cạnh tranh trong việc đua
tranh giành lợi nhuận trên thị trường. Từ đó, việc bảo vệ quyền tự do cạnh tranh của
các thành viên thị trường, bảo vệ môi trường cạnh tranh, bảo vệ sự lành mạnh của
quan hệ thị trường là yêu cầu tất yếu hiện nay.
Trong nền kinh tế thị trường tồn tại nhiều doanh nghiệp thuộc các thành phần
kinh tế khác nhau, song chúng phải được đối xử bình đẳng. Nói cách khác bình
đẳng chính là nền tảng cho cạnh tranh, nếu không có sự bình đẳng thì không thể

tế thị trường, các doanh nhân phần lớn hoạt động vì lợi nhuận của chính mình, cần
phải có cạnh tranh giữa các đơn vị kinh tế. Thông qua cạnh tranh người mua là
người được hưởng lợi và xã hội cũng phát triển. Mọi doanh nghiệp luôn nỗ lực cung
cấp các sản phẩm có ích, hiệu quả, tiết kiệm nhất, giá thành rẻ nhất và chất lượng
tốt nhất nhằm được người tiêu dùng lựa chọn. Tuy nhiên, sự nỗ lực của một doanh
nghiệp chân chính sẽ trở nên vô nghĩa nếu như có những hiện tượng không tuân thủ

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status