Bộ luật dân sự 2015 nền tảng pháp lý bảo đảm quyền tự do hợp đồng trong lĩnh vực thương mại - Pdf 50

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ

BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 - NỀN TẢNG PHÁP LÝ
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG
LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI

TRỊNH CÔNG HOAN

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SỸ
BỘ LUẬT DÂN SỰ 2015 - NỀN TẢNG PHÁP LÝ
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG TRONG
LĨNH VỰC THƯƠNG MẠI

TRỊNH CÔNG HOAN

CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107

Người hướng dẫn khoa học: TS. VŨ PHƯƠNG ĐÔNG

HÀ NỘI - 2017


Hà Nội, ngày 05 tháng 11 năm 2017
TÁC GIẢ

Trịnh Công Hoan


MỤC LỤC
Trang
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
1

MỞ ĐẦU

Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỰ DO HỢP ĐỒNG VÀ
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG

9

1.1. Khái niệm và vai trò của quyền tự do hợp đồng trong hoạt động
thương mại

9

1.1.1. Khái niệm và nội dung quyền tự do hợp đồng

9

VIỆC THỰC THI QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG CỦA DOANH
NGHIỆP VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP CẦN ÁP DỤNG ĐỂ GÓP PHẦN
BẢO ĐẢM QUYỀN TỰ DO HỢP ĐỒNG CỦA DOANH NGHIỆP Ở
NƯỚC TA

26

2.1. Bộ luật Dân sự 2015 – Cơ sở pháp lý mới cho việc thực thi quyền
tự do hợp đồng của doanh nghiệp ở nước ta

26

2.1.1. Bộ luật Dân sự năm 2015 - văn bản pháp luật quy định toàn diện
các vấn đề liên quan đến ký kết, thực hiện hợp đồng
2.1.2. Bộ luật Dân sự 2015 giải quyết triệt để, chính thức mối quan hệ

26
28


giữa Bộ luật Dân sự và các luật chuyên ngành, qua đó bảo đảm tốt
hơn quyền tự do hợp đồng của các doanh nghiệp
2.1.3. Bộ luật Dân sự 2015 ghi nhận nhiều quy định mới nhằm tạo điều
kiện thuận lợi hơn cho việc giao kết, thực hiện hợp đồng

32

2.1.4. Bộ luật Dân sự năm 2015 mở rộng quyền tự quyết định nội dung
hợp đồng


2.2.1. Tuyên truyền trong giới doanh nhân nội dung cơ bản của các
quy định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến chế
định hợp đồng
2.2.2. Tăng cường công tác giải thích pháp luật

52
53

2.2.3. Cần có những sửa đổi, bổ sung các quy định trong các văn
bản pháp luật chuyên ngành để đảm bảo thống nhất so với Bộ
luật Dân sự 2015

53

2.2.4. Tiếp tục nghiên cứu để sửa đổi, bổ sung các quy định còn
chưa hợp lý trong Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến việc
bảo đảm thực hiện quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp
Kết luận chương 2

55
58

KẾT LUẬN

60

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

61


- Nguyễn Thúy Hiền (2006), "Những quy định nghĩa vụ dân sự và hợp
đồng trong BLDS 2005", Tạp chí Dân chủ và pháp luật, (14);
- Mễ Lương (2010), Hợp đồng dân sự trong pháp luật của Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam và pháp luật của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa, Luận
án Tiến sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
- Vũ Đức Lịch (2010), Một số vấn đề về giao kết hợp đồng dân sự trong
pháp luật Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
- Nguyễn Thị Trang (2013), Hình thức hợp đồng dân sự - Một số vấn đề lý luận
và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
- Nguyễn Thị Hải Yến (2013), Thực hiện hợp đồng dân sự những vấn đề lý luận
và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội;
- Lê Thị Yến (2013), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng dân sự Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học
Luật Hà Nội, Hà Nội;
3


- Hoàng Trung Hiếu (2013), Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng dân sự
(2013), Khóa luận tốt nghiệp, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội,...
Mặc dù đã được nghiên cứu tương đối đầy đủ và sâu sắc nhưng do đối
tượng nghiên cứu của các công trình này là các đạo luật (trong đó có BLDS
2005) đã được ban hành trước khi Nhà nước ta thông qua BLDS 2015 nên có thể
nói rằng, hiện nay chưa có công trình nào nghiên cứu về vấn đề bảo đảm quyền
tự do hợp đồng trong BLDS 2015. Tuy vậy, các công trình nói trên là những tài
liệu rất quý giá cho tác giả tham khảo, phục vụ việc nghiên cứu của mình.
Hiện nay, sau khi BLDS 2015 đã được ban hành và mặc dù mới có hiệu
lực từ ngày 01/01/2017 nhưng đã có một số bài viết nghiên cứu về BLDS 2015.
Trong số các bài viết đó đáng lưu ý nhất là:
- Bài nghiên cứu "Những sửa đổi, bổ sung quy định về đại diện trong Bộ
luật Dân sự năm 2015 có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp" của ThS.
Bùi Thị Thanh Hằng - Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội;

tế, xã hội... Trong biện pháp pháp luật thì có thể khẳng định rằng, cả hệ thống
pháp luật Việt Nam từ Hiến pháp đến các văn bản quy phạm pháp luật có giá trị
thấp nhất đều phải có nhiệm vụ tạo ra các cơ chế, biện pháp, công cụ về mặt
pháp lý để các tổ chức, cá nhân thực hiện được quyền tự do hợp đồng đã được
pháp luật ghi nhận.
Tuy nhiên, trong khuôn khổ cho phép của một luận văn, đề tài chỉ tập
trung nghiên cứu về vai trò của BLDS 2015 trong việc bảo đảm quyền tự do hợp
đồng. Các đạo luật khác, ví dụ như Luật Thương mại, Luật Kinh doanh bảo
hiểm, Luật Xây dựng, Luật Các tổ chức tín dụng, Luật Đất đai... nếu có được
nhắc tới thì cũng chỉ có vai trò là công cụ so sánh, minh họa để làm sâu sắc thêm
vai trò quan trọng của BDLD 2015 trong việc bảo đảm quyền tự do hợp đồng
trong hoạt động thương mại của doanh nghiệp nói riêng mà thôi.
5


4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4.1. Mục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là thông qua việc phân tích các quy
định mới trong BLDS 2015 liên quan đến việc ký kết và thực hiện hợp đồng, tác
giả muốn chứng minh rằng, BLDS này là một bước phát triển mới trong pháp
luật dân sự của nước ta, đóng vai trò rất quan trọng trong việc bảo đảm thực thi
quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại ở nước ta.
4.1. Nhiệm vụ
Để thực hiện được mục tiêu nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ chủ yếu
sau đây:
- Nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về tự do hợp đồng và bảo đảm
quyền tự do hợp đồng;
- Nhận diện, phân tích nội dung các quy định của BLDS 2015 có tác dụng
bảo đảm cho quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại.
- Đề xuất các giải pháp để thúc đẩy việc triển khai các quy định mới trong

trong hoạt động thương mại đối với doanh nghiệp nhưng vấn đề làm sao để bảo
đảm được quyền này trên thực tế còn là vấn đề quan trọng hơn.
Thứ hai, luận văn đã làm rõ mối quan hệ giữa tự do hợp đồng và bảo đảm
quyền tự do hợp đồng. Đây là hai vấn đề khác nhau, tuy có quan hệ chặt chẽ với
nhau. Không có tự do hợp đồng thì đương nhiên sẽ không đặt ra vấn đề bảo đảm
quyền tự do hợp đồng. Nhưng nếu có tự do hợp đồng mà không có cơ chế bảo
đảm cho tự do hợp đồng được thực hiện trong thực tiễn thì quyền tự do hợp đồng
ấy cũng chẳng có giá trị gì.
Thứ ba, luận văn đã nghiên cứu khái quát về quyền tự do hợp đồng, phân
tích một cách hệ thống các quy định có tác dụng bảo đảm quyền tự do hợp đồng
7


trong BLDS 2015. Vì vậy, Luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho bất cứ cơ quan,
tổ chức, cá nhân nào quan tâm đến vấn đề tự do hợp đồng và bảo đảm quyền tự
do hợp đồng ở Việt Nam hiện nay.
Thứ tư, từ việc phân tích các quy định của BLDS 2015, tác giả đã đề xuất
các giải pháp cần phải triển khai để bảo đảm quyền tự do hợp đồng nói chung và
quyền tự do hợp đồng trong hoạt động thương mại của doanh nghiệp nói riêng.
Vì vậy, kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa nhất định về mặt thực tiễn, nhất
là thực tiễn thi hành pháp luật - một lĩnh vực còn đang có nhiều yếu kém ở nước
ta hiện nay.
8. Kết cấu của luận văn
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tự do hợp đồng và bảo đảm quyền tự
do hợp đồng.
Chương 2: Bộ Luật Dân sự 2015 - Cơ sở pháp lý mới cho việc thực thi
quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp và những giải pháp cần áp dụng để góp
phần bảo đảm quyền tự do hợp đồng của doanh nghiệp ở nước ta.

8


hợp với lợi ích chung và dung hòa với các lợi ích đối lập. Như vậy, theo thuyết
tự do ý chí thì quyền tự do cá nhân là một quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm.
Thái độ tôn trọng của pháp luật đối với sự thỏa thuận, lựa chọn đối tác, xác lập,
thực hiện, thay đổi hay chấm dứt cho thấy biểu hiện rõ nét của nguyên tắc này
trên thực tế [11]. Học thuyết này nhằm tới mục đích công bằng giữa các cá nhân
thông qua tự do thương thuyết, và phát triển kinh tế thông qua tự do cạnh tranh
(laisser faire) [4, tr.12], có nghĩa là "để cho muốn làm gì thì làm". Tư tưởng này
ngày nay được hiểu rằng, chủ nghĩa tự do kinh tế thời đó là một chế độ tự do
không giới hạn mà sự công bằng là kết quả tự nhiên có được từ luật nghĩa vụ
thích hợp được xây dựng trên nền tảng đặc biệt của sự bình đẳng thích hợp. Hệ
quả là các lý thuyết về luật tư ở thế kỷ XIX đều lấy tiền đề từ sự thống trị của
quyền tự do cá nhân vô giới hạn [4, tr.12]. Các tư tưởng đó đã ảnh hưởng lớn tới
Bộ luật Dân sự Đức 1900. Như vậy cả hai Bộ luật Dân sự (Bộ luật Dân sự Pháp
1804 và Bộ luật Dân sự Đức 1900) làm hình mẫu cho các Bộ luật Dân sự khác
đều bị ảnh hưởng sâu sắc bởi học thuyết tự do ý chí.
Với Common Law, tự do hợp đồng là một học thuyết trung tâm của luật
hợp đồng cổ điển. Học thuyết này nở rộ và phát triển đầy đủ vào khoảng nửa
cuối thế kỷ XIX. Tại đây, pháp luật được tạo ra bởi các thẩm phán và các học
thuyết pháp lý bị ảnh hưởng bởi: (1) Ý tưởng khế ước xã hội từ thời của Locke;
(2) Tư tưởng kinh tế cổ điển; và (3) Quan niệm về sự liên kết tự nguyện giữa các
chủ thể của quan hệ hợp đồng [4, tr.12]. Học thuyết này có nguồn gốc từ Thời
đại Khai sáng với tư tưởng của Locke được thể hiện trong công trình Hai luận
thuyết về chính quyền chống lại quyền lực tối thượng thần thánh của các nhà
vua. Theo ông, xã hội vận hành tốt nhất khi các khế ước xã hội đã được định rõ
điều chỉnh hành vi của con người, và là cách thức tốt nhất để bảo vệ đời sống, tự
do và tài sản của cá nhân họ được gọi là các quyền tự nhiên [4, tr.12].
Các lý thuyết gia về hợp đồng ở thời kỳ cuối thế kỷ XIX đã tiến hành các
quá trình trừu tượng hóa, khái quát hóa và hệ thống hóa các vấn đề liên quan tới
10



thấy pháp luật dân sự trước đây đã không phản ánh được quyền tự do giao kết
hợp đồng của các chủ thể vốn là thuộc tính tất yếu phải có khi tham gia ký kết
hợp đồng dân sự, là nguyên tắc cốt lõi, quan trọng nhất của hợp đồng.
BLDS 2015 của Việt Nam định ra nguyên tắc: "Quyền tự do cam kết, thỏa
thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu
cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo
đức xã hội" (Điều 4).
Luật Thương mại 2005 của Việt Nam cũng có nguyên tắc: "Các bên có
quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật mỹ tục và đạo
đức xã hội để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương
mại và bảo hộ các quyền đó" (Điều 11, khoản 1).
Bộ nguyên tắc của Unidroit về hợp đồng thương mại quốc tế 2004 quy
định tại Điều 1.1 rằng: "Các bên được tự do giao kết hợp đồng và thỏa thuận
nội dung của hợp đồng". Cũng như vậy, nhưng có phần thận trọng hơn, các
nguyên tắc của Luật Hợp đồng Châu Âu quy định: "Các bên được tự do giao
kết hợp đồng và xác định nội dung của hợp đồng phụ thuộc vào các yêu cầu
về thiện chí và công bằng và các quy tắc bắt buộc được thiết lập bởi các
Nguyên tắc này" (Điều 1.02).
Qua các quy định này, chúng ta có thể nhận thấy tự do hợp đồng là một
nguyên tắc hết sức quan trọng của luật hợp đồng mà nếu không có nó thì các
thỏa thuận sẽ trở nên vô nghĩa vì không một quan hệ nghĩa vụ nào có thể được
tạo thành [4, tr.13].
Theo Adam Smith và Thomas Hobbes thì: "Tự do hợp đồng là một tư
tưởng mà theo đó các cá nhân được quyền tự do thỏa thuận giữa họ với nhau về
các điều kiện của hợp đồng, không có sự can thiệp của chính quyền. Bất kể
những gì khác hơn các quy định tối thiểu và thuế có thể xem là sự vi phạm
nguyên tắc. Nó là trụ cột của học thuyết kinh tế tự do (the theory of laisez - faire
12



hợp các bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng do thực hiện nghĩa vụ không đúng,
không đầy đủ hoặc không thực hiện nghĩa vụ theo thỏa thuận gây thiệt hại cho
bên còn lại. Để đảm bảo tính bắt buộc thực hiện đúng hợp đồng và tôn trọng sự
thỏa thuận của các bên khi giao kết hợp đồng, hạn chế rủi ro cho các bên, pháp
luật quy định nhiều biện pháp trách nhiệm pháp lý do vi phạm hợp đồng. Theo
đó, khi thỏa thuận giao kết hợp đồng, các bên có quyền lựa chọn các biện pháp
trách nhiệm pháp lý như phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại, các bên có quyền
tự quyết định về mức phạt, mức bồi thường thiệt hại mà không ai có thể can
thiệp được.
(5) Quyền tự do lựa chọn hình thức hợp đồng;
Hình thức hợp đồng là phương thức ký kết, phương tiện ghi nhận nội
dung thỏa thuận của các bên. Nó có thể là thủ tục ký kết hợp đồng hoặc hình
thức thể hiện thỏa thuận của các bên, bằng lời nói, hành vi hoặc bằng văn bản,
trừ trường hợp do pháp luật quy định "cứng" thì các bên phải tuân theo. Hình
thức hợp đồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong tố tụng. Nó là chứng cứ xác
nhận các quan hệ hợp đồng là đang tồn tại giữa các bên, từ đó xác định trách
nhiệm khi có vi phạm hợp đồng xảy ra. Các bên có quyền xác lập hợp đồng
dưới bất cứ hình thức nào, theo cách mà họ muốn, chỉ cần đạt được sự thỏa
thuận, thống nhất ý chí của các bên là coi như hợp đồng đã hình thành. Sự thỏa
thuận hợp đồng không phải theo một công thức nào. Các bên có thể lập hợp
đồng bằng cách trao đổi văn bản, thư từ truyền thống, bằng điện tín, bằng điện
thoại, qua mạng internet và các phương tiện điện tử khác... Các bên có quyền tự
do lựa chọn hình thức hợp đồng dưới dạng: bằng lời nói, cử chỉ, hành vi hay
bằng văn bản...
(6) Quyền tự do quyết định phương thức giải quyết tranh chấp hợp đồng;
Sau khi hợp đồng được giao kết hợp pháp, các bên có trách nhiệm nghiêm
túc thực hiện các nghĩa vụ đã cam kết. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng
15



lý của các giao dịch dân sự, thương mại. Do đó, không có hợp đồng thì không có
quan hệ kinh tế và do đó không thể có bất cứ hoạt động sản xuất, kinh doanh nào
và cuối cùng thì cũng chẳng có bất cứ nền sản xuất xã hội nào. Khi đề cập đến
vai trò của hợp đồng, Lê Thị Bích Thọ cho rằng "hợp đồng là hình thức pháp lý
thích hợp và có hiệu quả trong việc đảm bảo sự vận động của hàng hóa - tiền tệ.
Thực tiễn của các nền kinh tế thị trường trên thế giới từ xưa đến nay đã khẳng
định giá trị, vai trò của hợp đồng" [21, tr.10].
Nghiên cứu về hợp đồng trong kinh doanh cho thấy việc bảo đảm quyền
tự do hợp đồng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh có ý nghĩa quan trọng đối
với sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Ý nghĩa quan trọng này được
thể hiện ở những điểm sau đây:
Thứ nhất, với tính cách là một công cụ điều chỉnh các quan hệ tài sản, lợi
ích kinh tế giữa các chủ thể kinh doanh trong nền kinh tế, hợp đồng trước hết là
công cụ để các chủ thể thiết lập và thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình.
Trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, hợp đồng được các doanh nghiệp sử dụng
như công cụ pháp lý để thực hiện các hoạt động kinh doanh. Thông qua hợp
đồng, các bên có thể thỏa thuận với nhau bất cứ điều gì, với bất cứ điều kiện nào,
bất cứ hình thức gì, miễn là pháp luật không cấm, để phục vụ việc thực hiện các
hoạt động kinh doanh. Vì vậy, khi có được quyền tự do hợp đồng thì doanh
nghiệp mới có quyền tự do hành động, tự do xác lập quan hệ kinh tế với bên
ngoài, tự do quyết định nội dung giao dịch và các khả năng hành động theo ý chí
khác của doanh nghiệp. Tóm lại, không có tự do hợp đồng thì doanh nghiệp
không có điều kiện để hoạt động nhằm tìm kiếm lợi nhuận và khi đó, doanh
nghiệp sẽ không còn là doanh nghiệp nữa. Nói cách khác, doanh nghiệp sinh ra
là để tìm kiếm lợi nhuận mà lợi nhuận chỉ có thể có được qua các hoạt động sản
xuất, kinh doanh (đầu tư, mua bán, trao đổi hàng hóa, cung cấp dịch vụ để kiếm
lời), do đó, không có tự do hợp đồng thì không có điều kiện và phương tiện để
17




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status