BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGÔ THÙY DƯƠNG
HỆ THỐNG VẬT QUYỀN
TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các nội dung
trích dẫn từ các tài liệu tham khảo được trích ghi nguồn đầy đủ và hoàn toàn
trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong
bất kì công trình nào khác.
TÁC GIẢ CỦA LUẬN VĂN
Ngô Thùy Dương
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. Bộ luật dân sự : BLDS
2. Bất động sản: BĐS
12
1.3. Phân loại vật quyền
14
1.3.1. Phân loại vật quyền trong pháp luật La Mã
14
1.3.2. Phân loại vật quyền trong pháp luật dân sự của một số quốc gia 16
trên thế giới
1.4. Sự cần thiết và việc áp dụng lý thuyết vật quyền trong hoàn thiện các 21
quy định về quyền tài sản trong Luật dân sự Việt Nam
1.4.1. Sự cần thiết của việc áp dụng lý thuyết vật quyền trong hoàn 21
thiện các quy định về quyền tài sản trong Luật dân sự Việt Nam
1.4.2. Việc áp dụng lý thuyết vật quyền trong xây dựng Bộ luật dân sự 22
Việt Nam năm 2015
Chương 2: Phân tích và đánh giá hệ thống vật quyền trong Bộ luật dân sự 27
năm 2015
2.1. Quyền sở hữu
2.1.1. Quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về quyền sở hữu
27
27
2.1.2. Đánh giá quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về quyền sở hữu 33
2.2. Các loại vật quyền khác (vật quyền hạn chế)
65
3.2. Kiến nghị hoàn thiện chế định các loại vật quyền hạn chế
67
3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền chiếm hữu của người 67
không phải là chủ sở hữu tài sản
3.2.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền đối với bất động sản liền 69
kề
3.2.3. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền hưởng dụng
72
3.2.4. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền bề mặt
74
3.3. Kiến nghị hoàn thiện các quy định về các biện pháp bảo đảm mang 77
tính chất vật quyền
KẾT LUẬN
79
6
LỜI MỞ ĐẦU
vật quyền vào việc xây dựng, hoàn thiện các quy định về quyền tài sản. Nhất là
thời điểm tiến hành xây dựng BLDS năm 2015, nhiều chuyên gia, các nhà luật
học đã có những bài viết thể hiện quan điểm về việc cần thiết áp dụng học thuyết
vật quyền trong xây dựng BLDS năm 2015 cũng như những bài viết góp ý hoàn
thiện từng loại quyền tài sản dưới góc độ vật quyền. Ta có thể kể đến một số bài
viết nghiên cứu như:
1.“Lợi ích của việc xây dựng chế định vật quyền đối với việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật tài sản” của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Điện (Tạp chí nghiên cứu
lập pháp điện tử): bài viết này nghiên cứu về việc áp dụng vật quyền trong xây
dựng lại một số vấn đề pháp lý như định nghĩa tài sản của Luật dân sự Việt Nam,
chế độ pháp lý về bất động sản trong quan hệ láng giềng, các biện pháp bảo đảm
nghĩa vụ bằng tài sản đặc định.
2.“Một số góp ý về vật quyền trong Dự thảo BLDS” của PGS.TS. Bùi
Đăng Hiếu (Tạp chí Luật học, Số đặc biệt góp ý hoàn thiện dự thảo BLDS (sửa
đổi)): bài viết đưa ra một số góp ý về các quy định về vật quyền trong Dự thảo
BLDS năm 2015 như: Cân nhắc sự cần thiết của quy định về chiếm hữu; Dự thảo
sử dụng khái niệm “địa dịch” hay “quyền địa dịch” mới chuẩn xác; Cần làm rõ
một số nội dung của quyền hưởng dụng; Nên phân biệt rõ “quyền bề mặt” với
“quyền sở hữu vật trên đất”. Có thể thấy là bài viết này được tác giả Bùi Đăng
Hiếu viết trong bối cảnh góp ý cho Dự thảo BLDS năm 2015 và thời điểm bấy
giờ Dự thảo này thực sự bộc lộ nhiều vấn đề và sai sót trong xây dựng các quy
định về các quyền tài sản được xác định là vật quyền.
3. “Áp dụng nguyên tắc vật quyền nhằm khắc phục những hạn chế của chế
định tài sản và quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự” của TS. Vũ Thị Hồng Yến
8
(Tạp chí Luật học, Số đặc biệt góp ý hoàn thiện dự thảo BLDS (sửa đổi)): bài
viết phân tích những hạn chế trong quy định về chế định tài sản và quyền sở hữu
Để thực hiện mục tiêu đó, luận văn đã tập trung nghiên cứu những vấn đề
cụ thể sau:
- Khái niệm, đặc điểm và phân loại vật quyền;
- Ý nghĩa và việc áp dụng lý thuyết vật quyền trong xây dựng Bộ luật dân
sự Việt Nam năm 2015;
- Phân tích và đánh giá hệ thống vật quyền trong Bộ luật dân sự năm
2015 (bao gồm: Quyền sở hữu, Các vật quyền hạn chế, Các biện pháp bảo đảm
mang tính chất vật quyền);
- Kiến nghị hoàn thiện hệ thống vật quyền trong bộ luật dân sự năm 2015.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Vật quyền là gì? Đặc điểm của các loại quyền tài sản là vật quyền?
- Tại sao phải áp dụng lý thuyết vật quyền vào việc xây dựng Bộ luật dân
sự Việt Nam? BLDS năm 2015 đã áp dụng lý thuyết vật quyền trong việc xây
dựng các quy định về quyền tài sản như thế nào?
- Hệ thống vật quyền của BLDS năm 2015 gồm những quyền nào? Quy
định của BLDS năm 2015 về các quyền này có khác gì so với BLDS năm 2005
khi lý thuyết vật quyền chưa được áp dụng hoàn toàn? Những quy định trong
BLDS năm 2015 đã phù hợp chưa? Những vướng mắc cần sửa đổi, hoàn thiện?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên phương pháp luận khoa
học của chủ nghĩa Mac - Lenin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan
điểm của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế, định hướng hoàn thiện pháp
luật trong thời gian tới để đánh giá, luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn.
Trong phạm vi nghiên cứu và mục đích nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng
10
các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như: liệt kê, diễn giải, phân
tích, so sánh, logic để chỉ ra những điểm khác biệt của BLDS năm 2015 so với
Trong tiếng Việt, “vật” được hiểu là cái có hình khối, có thể nhận biết được.
Trong tiếng Anh, ‘things” (vật) được hiểu là những đối tượng của sự chiếm hữu
hoặc được hiểu là tài sản. Từ điển Luật học Black định nghĩa: “vật-things” là
những đối tượng ổn định có thể nhìn thấy, có thể cảm nhận được qua giác quan.
Vật được chia làm ba loại: vật bất động (immovable things); vật lưu động
(movable things); và vật hỗn hợp (mixed things), tức là những vật mang đặc
trưng của hai loại trên, ví dụ như văn tự xác nhận quyền (title- deed)1. Do lý
thuyết vật quyền được xây dựng xuất phát từ Luật La Mã nên để hiểu khái niệm
“vật quyền” ta phải đi từ cách hiểu của các luật gia La Mã về “vật”. Thuật ngữ
“vật” (res) được sử dụng trong ngôn ngữ pháp lý Latin để chỉ một vật tồn tại theo
tính chất của nó, một vật có biểu hiện vật chất và cụ thể. Mặt khác, “res” cũng
được hiểu như một quyền trừu tượng mà con người có được đối với vật2. Nếu
vật là đối tượng của quyền thì con người là chủ thể của quyền. Chính trong quan
hệ đó mà vật được coi là tài sản. Do vậy, hiểu theo cách cắt nghĩa từ chung nhất
thì vật quyền chính là quyền đối với tài sản.
Trong khoa học pháp lý, vật quyền được hiểu theo hai góc độ khác nhau:.
- Góc độ thứ nhất: Vật quyền (jus in re), theo định nghĩa được chấp nhận
trong học thuyết pháp lý ở các nước chịu ảnh hưởng của luật La Mã, là quyền
được thực hiện trực tiếp và ngay lập tức trên một vật. Người có vật quyền thực
1 Black Law Dictionary, Sixth Edition (1990), St Paul, Minn, West Publishing Co., tr 1216.
2 Nguyễn Ngọc Điện (2009), Giáo trình Luật La Mã, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, tr 11.
12
hiện các quyền của mình mà không cần sự hợp tác của người khác3. Nói đến
khái niệm vật quyền thì phải bắt đầu từ Luật La Mã. Mặc dù trong Luật La Mã
không đưa ra khái niệm vật quyền cũng như các luật gia La Mã không phân biệt
quyền tài sản thành vật quyền và trái quyền, tuy nhiên lý thuyết vật quyền lại
được xây dựng từ kết quả phân tích các đặc điểm của quyền sở hữu trong Luật
sự đồng ý, cho phép và phải có hành vi giao xe đạp của chủ sở hữu chiếc xe đạp
thì người này mới sử dụng được. Việc sử dụng chiếc xe đạp lúc này cũng hoàn
toàn theo thỏa thuận với chủ sở hữu (mục đích, thời gian sử dụng…). Vì vậy,
người ta còn xem vật quyền là một trong những quyền chủ quan của chủ sở hữu5
.
- Góc độ thứ hai: Vật quyền là toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về
vật với tư cách là đối tượng của vật quyền, nội dung của các loại vật quyền, căn
cứ phát sinh, chấm dứt các loại vật quyền, nguyên tắc thực hiện, bảo vệ vật
quyền, các hạn chế mà người có vật quyền phải tuân thủ khi thực hiện các quyền
năng của mình… Nói cách khác, theo góc độ này thì vật quyền chính là pháp luật
về vật, về các quyền của chủ sở hữu và người không phải là chủ sở hữu đối với
vật. Dưới góc độ này, người ta xem vật quyền là một trong những quyền khách
quan của chủ sở hữu – là những quy định của pháp luật.
Khái niệm “vật quyền” đã được sử dụng rộng rãi trong hệ thống pháp luật
dân sự của những nước thuộc hệ thống Civil Law. Tại Bộ luật Napoléon (1804)
– Bộ luật dân sự đầu tiên trên thế giới thì phần thứ hai trong Bộ luật chính là vật
quyền (quyền trên vật). Trong BLDS của Nhật Bản cũng quy định vật quyền tại
phần hai (trái quyền tại phần ba). Bộ luật dân sự của Đức gồm 5 quyển và những
quy định về vật quyền nằm ở Quyền thứ ba. BLDS Cộng hòa Liên bang Nga
năm 1995 có bốn phần, trong đó Phần thứ hai được gọi là “Quyền sở hữu và các
loại vật quyền khác” và hiện nay sau 20 năm tồn tại, trong Dự thảo mới nhất của
BLDS Nga, tên gọi này đã được dự kiến thay bằng “Vật quyền” để đảm bảo tính
ngắn gọn, đồng thời phù hợp hơn với thông lệ quốc tế6. Mặc dù BLDS của Cộng
5 Quyền chủ quan được hiểu là quyền của một chủ thể trong một quan hệ nghĩa vụ. Nó khác với quyền khách
quan là quyền do pháp luật quy định.
6 Dương Đăng Huệ (2015), Nên sử dụng khái niệm vật quyền trong Bộ luật dân sự, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp
(Số chuyên đề Góp ý hoàn thiện Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi), Số 13 (293) Tháng 07/2015), tr 4.
15
Quyền đối nhân có hiệu lực trong mối quan hệ giữa người có quyền yêu cầu
và người có nghĩa vụ, nhưng, trên nguyên tắc, không làm bận tâm người thứ ba;
trong khi đó, quyền đối vật có hiệu lực đối với tất cả mọi người và phải được
mọi người tôn trọng bởi xét ở một khía cạnh nào đó thì đây cũng chỉ là mối quan
hệ giữa chủ thể có quyền với tài sản. Đây chính là tính chất tuyệt đối (theo tiếng
Latinh là “erga omnes”) của học thuyết vật quyền. Vật quyền là quyền chi phối
trực tiếp đối với vật cho nên không thể xác lập cùng lúc cùng một vật quyền có
cùng nội dung với cùng một vật (tính loại trừ của vật quyền)7.
Ví dụ điển hình nhất cho đặc điểm này của vật quyền đó là việc pháp luật
của tất cả các nước trên thế giới đều có quy định về việc bảo vệ quyền sở hữu
của chủ sở hữu tài sản trong trường hợp tài sản bị một người thứ ba lấy khỏi chủ
sở hữu (không theo ý chí và mong muốn của chủ sở hữu) bằng phương thức trái
pháp luật (như trộm, cướp, lừa đảo…).
Tất nhiên, để đối kháng được với người thứ ba, thì điều cần thiết là vật
quyền phải được người thứ ba nhận biết rõ ràng, chứ không thể tồn tại một cách
mập mờ, lúc ẩn, lúc hiện. Để công bố sự tồn tại của vật quyền, luật của các nước
thiết lập hệ thống đăng ký. Ví dụ ở các quốc gia đều xây dựng hệ thống đăng ký
bất động sản nhằm công khai hóa quyền và qua đó bảo vệ hữu hiệu quyền và lợi
ích của các bên. Trong pháp luật dân sự của một số quốc gia thì đăng ký vật
quyền là điều kiện để đối kháng với người thứ ba (theo quan điểm của luật dân
sự Cộng hòa Pháp, Nhật Bản…). Nhật Bản thực hiện đăng ký với 9 loại vật
quyền (quyền sở hữu, quyền trên mặt đất - 2 quyền, quyền địa dịch, đặc quyền
lấy trước, quyền cầm cố, quyền thế chấp, quyền thuê mướn, quyền đối với bất
động sản). Ở Nhật Bản, mọi thông tin về tình trạng pháp lý của bất động sản đều
7 Vũ Thị Hồng Yến (2015), Áp dụng nguyên tắc vật quyền nhằm khắc phục những hạn chế của chế định tài sản và
quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự, Tạp chí Luật học (số đặc biệt góp ý hoàn thiện dự thảo BLDS (sửa đổi)), tr 83.
17
sản của chủ nợ nhận thế chấp; chủ sở hữu bất động sản chịu địa dịch về lối đi
qua phải tôn trọng quyền về lối đi qua của người hưởng địa dịch... Từ chính
quyền theo đuổi mà pháp luật tố tụng dân sự của các nước trên thế giới ghi nhận
chủ thể của vật quyền có quyền đòi vật từ sự chiếm hữu của bất cứ ai (thậm chí
trong một số trường hợp được đòi vật từ chính sự chiếm hữu của chủ sở hữu như
trường hợp chủ nợ nhận thế chấp đòi tài sản nhận thế chấp để xử lý khi người thế
chấp không trả nợ đúng thỏa thuận).
-
Quyền ưu tiên
Vật quyền cho phép người có quyền thực hiện quyền của mình đối với vật
nhằm thoả mãn lợi ích theo đuổi trước những người khác, đặc biệt là những
người theo đuổi cùng lợi ích đó. Luật gọi đó là quyền ưu tiên. Người có quyền
đối vật được ưu tiên trước những người có quyền đối nhân (và cả những người
có quyền đối vật xếp sau mình trong thứ tự đăng ký) trong việc thực hiện các
quyền đối với tài sản liên quan.
Ví dụ: Người mua tài sản, sau khi quyền sở hữu tài sản mua đã được
chuyển mà tài sản chưa được giao, có quyền ưu tiên đối với tài sản so với các
chủ nợ của người bán trong trường hợp người bán lâm vào tình trạng phá sản:
nếu người mua tuyên bố nhận tài sản, thì các chủ nợ của người bán không có
quyền yêu cầu kê biên tài sản đó. Quyền ưu tiên của người có quyền đối vật phát
huy tác dụng rõ nét nhất trong trường hợp quyền đối vật mang tính chất của một
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: ngườì nhận thế chấp hoặc cầm cố có
quyền ưu tiên được thanh toán bằng số tiền bán tài sản thế chấp hoặc cầm cố so
với các chủ nợ không có bảo đảm của người thế chấp hoặc cầm cố.
1.2. Sự khác nhau giữa vật quyền và trái quyền
Thông tin pháp luật dân sự tại địa chỉ: https://thongtinphapluatdansu.com/2008/04/30/08745/, ngày truy cập:
13/6/2016).
19
Các vật quyền được nhận ra nhờ hai đặc điểm cơ bản mà, trên nguyên tắc,
trái quyền không có: thứ nhất, thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa chủ thể và đối
tượng của quyền mà không cần có vai trò của người thứ ba; thứ hai, được người
thứ ba tôn trọng và sự tôn trọng ấy được pháp luật bảo đảm bằng những biện
pháp bảo vệ đặc biệt. Từ điển pháp luật của Pháp định nghĩa: “Trái quyền là
quyền đối với một người xác định mà là người thụ trái trong quan hệ nghĩa vụ”;
còn “Vật quyền là quyền có thể được thực hiện chống lại tất cả mọi người”.
Trong quan hệ vật quyền, chủ thể có quyền được quyền thực hiện quyền của
mình đối với vật, bất kể vật đang nằm trong sự chiếm hữu của người nào (quyền
theo đuổi) và người có quyền cũng được thực hiện quyền của mình đối với vật
nhằm thoả mãn lợi ích theo đuổi trước những người khác, đặc biệt là những
người theo đuổi cùng lợi ích đó (quyền ưu tiên). Trái quyền là một loại quyền
tương đối, khác với vật quyền là một loại quyền tuyệt đối, có nghĩa là trái quyền
không có hiệu lực đối với người thứ ba (có một số ngoại lệ) mà trái chủ chỉ có
quyền yêu cầu người thụ trái, và chỉ trái chủ mới có được quyền như vậy. Các
vật quyền có tính cách hạn định hay phải do pháp luật qui định; còn trái quyền có
thể do ý chí của các bên xác lập.
1.3. Phân loại vật quyền
1.3.1. Phân loại vật quyền trong pháp luật La Mã
Từ thời La Mã, các luật gia La Mã đã chia vật quyền thành hai loại là quyền
trên tài sản của mình (tức là quyền sở hữu – jus in re propria) và quyền trên tài
sản của người khác (tức là vật quyền khác ngoài quyền sở hữu – jus in re aliena).
Những vật quyền khác ngoài quyền sở hữu là các vật quyền không đầy đủ bằng
quyền sở hữu và các quyền này làm cắt giảm bớt quyền của chủ sở hữu tài sản
10 Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Luật La Mã, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 67-68.
21
* Dịch quyền thuộc vật hay địa dịch là một quan hệ mà trong đó một bất
động sản gánh chịu dịch quyền hay dịch lụy vì lợi ích của một bất động sản
khác. Từ thời La Mã cổ đại có lẽ người ta đã xét đến việc bất động sản có thể bị
chuyển nhượng và quyền trên bất động sản đối kháng hay loại trừ tất cả những
người khác, do đó đã chia hai bất động sản liên hệ thành bất động sản gánh chịu
dịch quyền và bất động sản được hưởng dịch quyền. Bất kể ai có quyền đối với
các bất động sản đó đều phải gánh chịu hoặc được hưởng dịch quyền tương ứng,
có nghĩa là dịch quyền hay mối quan hệ dịch quyền được gắn trực tiếp vào các
bất động sản liên hệ. Kỹ thuật pháp lý này rất quan trọng để bảo đảm sự ổn định
và trật tự của các quan hệ hàng xóm. Dịch quyền ở đây có thể là quyền có lối đi
lại; quyền chăn dắt gia súc đi qua; quyền dẫn nước, thoát nước; quyền được lấy
ánh sáng, không khí; quyền được sang đất của người khác để thu lượm hoa
quả…
* Dịch quyền thuộc người là một quan hệ mà trong đó, một tài sản tự gánh
chịu dịch quyền hay dịch lụy vì lợi ích của một người. Nó lại được chia nhỏ nữa
thành các vật quyền cụ thể. Trong số các vật quyền cụ thể này quyền hưởng
dụng (usufruct) là vật quyền lớn nhất11.
1.3.2. Phân loại vật quyền trong pháp luật dân sự của một số quốc
gia trên thế giới
Có nhiều cách để phân loại vât quyền được thực hành trong luật học của
các nước, trong đó, hai cách đáng chú ý nhất là: một cách dựa vào quyền sở hữu
(xác định xem đối tượng của vật quyền có thuộc sở hữu của người có quyền hay
không), cách còn lại dựa vào tính chất của mối quan hệ tác động giữa người có
quyền và đối tượng của quyền (tức là xác định người có quyền tác động lên đối
11 Ngô Huy Cương (2010), Ý tưởng về chế định quyền hưởng dụng trong Bộ luật dân sự tương lai của Việt Nam,
12 Báo cáo tổng hợp kinh nghiệm nước ngoài về xây dựng Bộ luật dân sự (tài liệu đăng trên duthaoonline.quochoi.vn,
địa chỉ truy cập: duthaoonline.quochoi.vn/DuThao/Lists/DT_TAILIEU_COBAN/.../1622/11.doc, ngày truy cập:
16/4/2016).
23
người tạo ra); quyền tạo lối ra do con người; quyền thuê đất dài hạn... Suy cho
cùng, các vật quyền chính khác đều chỉ là những phần không trọn vẹn của quyền
sở hữu. Tách ra từ quyền sở hữu để trở thành một quyền độc lập, các vật quyền
chính không phải là quyền sở hữu đều có tính tạm thời: đến lúc nào đó, các
quyền này phải biến mất hoặc gia nhập trở lại vào quyền sở hữu. Nếu không thừa
nhận điều này, thì quyền sở hữu sẽ không giữ được các thuộc tính của nó – độc
nhất, tuyệt đối và lâu dài13.
Vật quyền phụ bao gồm những quyền cho phép người có quyền tác động
không phải vào bản thể của tài sản mà vào giá trị kinh tế của tài sản. Các vật
quyền này còn gọi là vật quyền bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, chỉ có tác dụng tạo
ra sự an toàn cho người có quyền trong quá trình tham gia vào một quan hệ
nghĩa vụ với tư cách trái chủ. Quyền của chủ nợ nhận thế chấp, nhận cầm cố là
những ví dụ tiêu biểu cho các vật quyền thuộc nhóm này. Trong chừng mực nào
đó, người ta nói rằng vật quyền được gọi là phụ bởi vì tài sản đối tượng của
quyền được coi như một thứ “dự trữ giá trị” (value reserve)14. Dự trữ đó sẽ được
và chỉ được mang ra sử dụng một khi người có quyền không cò sự lựa chọn khác
cho việc thực hiện trái quyền của mình. Lúc đó, thay vì phải lệ thuộc vào vai trò
chủ động của thụ trái (trong pháp luật Việt Nam hiện hành gọi là người có nghĩa
vụ) để có được sự thực hiện nghĩa vụ thoả đáng, người có vật quyền có thể tác
động vào giá trị kinh tế của tài sản (chủ nợ có thể xử lý tài sản bảo đảm bằng
cách tổ chức kê biên và bán, rồi nhận tiền thanh toán trước các chủ nợ khác của
người mắc nợ). Vật quyền phụ không trao cho người có quyền những công cụ
giao quyền ban hành và một số Luật của các bang điều chỉnh vật quyền hình
thức15.
15 Nguyễn Thị Hạnh (2012), Một số vấn đề về cấu trúc, vật quyền và trái quyền trong Bộ luật Dân sự Đức mà
Việt Nam có thể tham khảo trong quá trình sửa đổi Bộ luật Dân sự năm 2005, Bài viết trên trang web Bộ Tư
pháp, tại địa chỉ: http://moj.gov.vn/qt/tintuc/Pages/nghien-cuu-trao-doi.aspx?ItemID=1520 , ngày truy cập
13/4/2016.
25
Theo tác giả có sự phân loại như vậy bởi một trong các nguyên tắc quan
trọng về vật quyền mà pháp luật Đức ghi nhận đó là nguyên tắc công khai. Đối
với động sản, thỏa thuận chuyển giao vật được cụ thể hóa bằng hành vi giao vật.
Đối với bất động sản, thời điểm đăng ký vào sổ địa bạ được coi là thời điểm giao
vật. Đó là cách thức công khai hoá về chuyển dịch thực tế quyền sở hữu. Bởi
vậy, ngoài các quy định về vật quyền nội dung (tức là nội dung của các vật
quyền được pháp luật ghi nhận) thì còn có các quy định về vật quyền hình thức
(như các quy định về việc đăng ký chuyển giao bất động sản, thủ tục định đoạt
bất động sản…).
1.3.2.3. Phân loại vật quyền trong pháp luật dân sự Trung Quốc
Năm 2007, Trung Quốc đã ban hành Luật về Vật quyền (gồm 5 phần, 19
chương, 247 điều). Nếu nhìn vào bố cục các phần trong Luật này, ta có thể thấy
các nhà làm luật Trung Quốc đã phân loại vật quyền theo cách dựa vào quyền sở
hữu. Theo đó, dựa vào việc tài sản là đối tượng của vật quyền có thuộc về người
có vật quyền hay không, vật quyền được phân biệt thành hai nhóm: quyền sở
hữu thuộc về một nhóm, tất cả các vật quyền khác thuộc về nhóm còn lại.
Phần 2 của Luật về Vật quyền của Trung Quốc thiết kế dành riêng cho
Quyền sở hữu (trong đó bao gồm cả các loại hình sở hữu (nhà nước, tập thể…)).
Quyền sở hữu được coi là vật quyền thứ nhất, tuyệt đối, trọn vẹn nhất. Nó có tác