BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ ……
HÖ thèng vËt quyÒn trong Bé luËt d©n sù n¨m 2015
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số : 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ……………..
1
HÀ NỘI – NĂM 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các nội dung
trích dẫn từ các tài liệu tham khảo được trích ghi nguồn đầy đủ và hoàn toàn
trung thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong
bất kì công trình nào khác.
TÁC GIẢ CỦA LUẬN VĂN
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
2.1. Quyền sở hữu 27
2.1.1. Quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về quyền sở hữu 27
2.1.2. Đánh giá quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về quyền sở hữu 33
2.2 . Các loại vật quyền khác (vật quyền hạn chế) 38
2.2.1. Quyền chiếm hữu của người không phải là chủ sở hữu tài sản 38
2.2.2. Quyền đối với bất động sản liền kề 45
2.2.3. Quyền hưởng dụng 52
2.2.4. Quyền bề mặt 56
2.3. Các biện pháp bảo đảm mang tính chất vật quyền 60
2.3.1. Quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về các biện pháp bảo đảm
mang tính chất vật quyền60
2.3.2. Đánh giá quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về các biện
pháp bảo đảm mang tính chất vật quyền63
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện hệ thống vật quyền trong bộ luật dân sự
năm 201565
3.1. Kiến nghị hoàn thiện chế định quyền sở hữu 65
3.2. Kiến nghị hoàn thiện chế định các loại vật quyền hạn chế 67
3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền chiếm hữu của người
không phải là chủ sở hữu tài sản67
3.2.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền đối với bất động sản liền
kề69
3.2.3. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền hưởng dụng 72
3.2.4. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền bề mặt 74
5
3.3. Kiến nghị hoàn thiện các quy định về các biện pháp bảo đảm mang
tính chất vật quyền
KẾT LUẬN 79
vật quyền vào việc xây dựng, hoàn thiện các quy định về quyền tài sản. Nhất là
thời điểm tiến hành xây dựng BLDS năm 2015, nhiều chuyên gia, các nhà luật
học đã có những bài viết thể hiện quan điểm về việc cần thiết áp dụng học thuyết
vật quyền trong xây dựng BLDS năm 2015 cũng như những bài viết góp ý hoàn
thiện từng loại quyền tài sản dưới góc độ vật quyền. Ta có thể kể đến một số bài
viết nghiên cứu như:
1.“Lợi ích của việc xây dựng chế định vật quyền đối với việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật tài sản” của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Điện (Tạp chí nghiên cứu
lập pháp điện tử): bài viết này nghiên cứu về việc áp dụng vật quyền trong xây
dựng lại một số vấn đề pháp lý như định nghĩa tài sản của Luật dân sự Việt Nam,
chế độ pháp lý về bất động sản trong quan hệ láng giềng, các biện pháp bảo đảm
nghĩa vụ bằng tài sản đặc định.
2.“Một số góp ý về vật quyền trong Dự thảo BLDS” của PGS.TS. Bùi
Đăng Hiếu (Tạp chí Luật học, Số đặc biệt góp ý hoàn thiện dự thảo BLDS (sửa
đổi)): bài viết đưa ra một số góp ý về các quy định về vật quyền trong Dự thảo
BLDS năm 2015 như: Cân nhắc sự cần thiết của quy định về chiếm hữu; Dự thảo
7
sử dụng khái niệm “địa dịch” hay “quyền địa dịch” mới chuẩn xác; Cần làm rõ
một số nội dung của quyền hưởng dụng; Nên phân biệt rõ “quyền bề mặt” với
“quyền sở hữu vật trên đất”. Có thể thấy là bài viết này được tác giả Bùi Đăng
Hiếu viết trong bối cảnh góp ý cho Dự thảo BLDS năm 2015 và thời điểm bấy
giờ Dự thảo này thực sự bộc lộ nhiều vấn đề và sai sót trong xây dựng các quy
định về các quyền tài sản được xác định là vật quyền.
3. “Áp dụng nguyên tắc vật quyền nhằm khắc phục những hạn chế của chế
định tài sản và quyền sở hữu trong Bộ luật dân sự” của TS. Vũ Thị Hồng Yến
(Tạp chí Luật học, Số đặc biệt góp ý hoàn thiện dự thảo BLDS (sửa đổi)): bài
viết phân tích những hạn chế trong quy định về chế định tài sản và quyền sở hữu
của BLDS năm 2005 và đưa ra kiến nghị áp dụng nguyên tắc vật quyền vào sửa
- Khái niệm, đặc điểm và phân loại vật quyền;
- Ý nghĩa và việc áp dụng lý thuyết vật quyền trong xây dựng Bộ luật dân
sự Việt Nam năm 2015;
- Phân tích và đánh giá hệ thống vật quyền trong Bộ luật dân sự năm
2015 (bao gồm: Quyền sở hữu, Các vật quyền hạn chế, Các biện pháp bảo đảm
mang tính chất vật quyền);
- Kiến nghị hoàn thiện hệ thống vật quyền trong bộ luật dân sự năm 2015.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Vật quyền là gì? Đặc điểm của các loại quyền tài sản là vật quyền?
9
- Tại sao phải áp dụng lý thuyết vật quyền vào việc xây dựng Bộ luật dân
sự Việt Nam? BLDS năm 2015 đã áp dụng lý thuyết vật quyền trong việc xây
dựng các quy định về quyền tài sản như thế nào?
- Hệ thống vật quyền của BLDS năm 2015 gồm những quyền nào? Quy
định của BLDS năm 2015 về các quyền này có khác gì so với BLDS năm 2005
khi lý thuyết vật quyền chưa được áp dụng hoàn toàn? Những quy định trong
BLDS năm 2015 đã phù hợp chưa? Những vướng mắc cần sửa đổi, hoàn thiện?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả dựa trên phương pháp luận khoa
học của chủ nghĩa Mac - Lenin về duy vật biện chứng và duy vật lịch sử; các quan
điểm của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế, định hướng hoàn thiện pháp
luật trong thời gian tới để đánh giá, luận giải những vấn đề lý luận và thực tiễn.
Trong phạm vi nghiên cứu và mục đích nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng
các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như: liệt kê, diễn giải, phân
tích, so sánh, logic để chỉ ra những điểm khác biệt của BLDS năm 2015 so với
BLDS năm 2005 khi quy định về các quyền tài sản mang tính chất vật quyền.
Bên cạnh đó, phương pháp so sánh, logic cũng được tác giả sử dụng khi xây
dựng kiến nghị để hoàn thiện các quy định của BLDS Việt Nam trong sự tham
Trong tiếng Anh, ‘things” (vật) được hiểu là những đối tượng của sự chiếm hữu
hoặc được hiểu là tài sản. Từ điển Luật học Black định nghĩa: “vật-things” là
những đối tượng ổn định có thể nhìn thấy, có thể cảm nhận được qua giác quan.
Vật được chia làm ba loại: vật bất động (immovable things); vật lưu động
(movable things); và vật hỗn hợp (mixed things), tức là những vật mang đặc
trưng của hai loại trên, ví dụ như văn tự xác nhận quyền (title- deed)1. Do lý
thuyết vật quyền được xây dựng xuất phát từ Luật La Mã nên để hiểu khái niệm
“vật quyền” ta phải đi từ cách hiểu của các luật gia La Mã về “vật”. Thuật ngữ
“vật” (res) được sử dụng trong ngôn ngữ pháp lý Latin để chỉ một vật tồn tại theo
tính chất của nó, một vật có biểu hiện vật chất và cụ thể. Mặt khác, “res” cũng
được hiểu như một quyền trừu tượng mà con người có được đối với vật2. Nếu
vật là đối tượng của quyền thì con người là chủ thể của quyền. Chính trong quan
12
hệ đó mà vật được coi là tài sản. Do vậy, hiểu theo cách cắt nghĩa từ chung nhất
thì vật quyền chính là quyền đối với tài sản.
Trong khoa học pháp lý, vật quyền được hiểu theo hai góc độ khác nhau:.
- Góc độ thứ nhất: Vật quyền (jus in re), theo định nghĩa được chấp nhận
trong học thuyết pháp lý ở các nước chịu ảnh hưởng của luật La Mã, là quyền
được thực hiện trực tiếp và ngay lập tức trên một vật. Người có vật quyền thực
hiện các quyền của mình mà không cần sự hợp tác của người khác3. Nói đến
khái niệm vật quyền thì phải bắt đầu từ Luật La Mã. Mặc dù trong Luật La Mã
không đưa ra khái niệm vật quyền cũng như các luật gia La Mã không phân biệt
quyền tài sản thành vật quyền và trái quyền, tuy nhiên lý thuyết vật quyền lại
được xây dựng từ kết quả phân tích các đặc điểm của quyền sở hữu trong Luật
La Mã. Các luật gia La Mã xác định: một chủ thể có thể tạo ra một tài sản hoặc
mua một tài sản, trên cơ sở đó họ là chủ sở hữu đối với tài sản đã tạo ra, đã mua
và khi đã trở thành chủ sở hữu thì họ có toàn quyền đối với tài sản đó; được thực
hiện tất cả hành vi tác động lên tài sản để thỏa mãn yêu cầu của mình và không
năng của mình… Nói cách khác, theo góc độ này thì vật quyền chính là pháp luật
về vật, về các quyền của chủ sở hữu và người không phải là chủ sở hữu đối với
vật. Dưới góc độ này, người ta xem vật quyền là một trong những quyền khách
quan của chủ sở hữu – là những quy định của pháp luật.
Khái niệm “vật quyền” đã được sử dụng rộng rãi trong hệ thống pháp luật
dân sự của những nước thuộc hệ thống Civil Law. Tại Bộ luật Napoléon (1804)
– Bộ luật dân sự đầu tiên trên thế giới thì phần thứ hai trong Bộ luật chính là vật
14
quyền (quyền trên vật). Trong BLDS của Nhật Bản cũng quy định vật quyền tại
phần hai (trái quyền tại phần ba). Bộ luật dân sự của Đức gồm 5 quyển và những
quy định về vật quyền nằm ở Quyền thứ ba. BLDS Cộng hòa Liên bang Nga
năm 1995 có bốn phần, trong đó Phần thứ hai được gọi là “Quyền sở hữu và các
loại vật quyền khác” và hiện nay sau 20 năm tồn tại, trong Dự thảo mới nhất của
BLDS Nga, tên gọi này đã được dự kiến thay bằng “Vật quyền” để đảm bảo tính
ngắn gọn, đồng thời phù hợp hơn với thông lệ quốc tế6. Mặc dù BLDS của Cộng
hòa Pháp hiện hành không có qui định nào ghi nhận trực tiếp thuật ngữ vật
quyền nhưng trên thực tế luật tài sản của Cộng hòa Pháp được xây dựng dựa trên
cơ sở sự phân biệt giữa vật quyền và trái quyền.
1.1.2. Đặc điểm của vật quyền
Lý thuyết vật quyền được xây dựng dựa trên quan điểm của các luật gia La
Mã về việc thực hiện quyền trực tiếp và ngay lập tức trên một vật mà không cần
sự hợp tác của người khác, do đó vật quyền mang các đặc điểm sau:
- Thứ nhất: vật quyền được thực hiện trực tiếp trên đối tượng
Nếu như trái quyền là quyền có thể yêu cầu bên đối tác thực hiện hành vi
nhất định (còn gọi là quyền tương đối) thì vật quyền được xây dựng với bản chất
là quyền được thực hiện trực tiếp và ngay lập tức trên một vật, do đó không cần
đến sự hợp tác hoặc trợ lực của chủ thể khác, và mọi chủ thể khác đều phải tôn
trọng quyền này (quyền tuyệt đối). Tính chất trực tiếp của việc thực hiện vật
16
quyền phải được người thứ ba nhận biết rõ ràng, chứ không thể tồn tại một cách
mập mờ, lúc ẩn, lúc hiện. Để công bố sự tồn tại của vật quyền, luật của các nước
thiết lập hệ thống đăng ký. Ví dụ ở các quốc gia đều xây dựng hệ thống đăng ký
bất động sản nhằm công khai hóa quyền và qua đó bảo vệ hữu hiệu quyền và lợi
ích của các bên. Trong pháp luật dân sự của một số quốc gia thì đăng ký vật
quyền là điều kiện để đối kháng với người thứ ba (theo quan điểm của luật dân
sự Cộng hòa Pháp, Nhật Bản…). Nhật Bản thực hiện đăng ký với 9 loại vật
quyền (quyền sở hữu, quyền trên mặt đất - 2 quyền, quyền địa dịch, đặc quyền
lấy trước, quyền cầm cố, quyền thế chấp, quyền thuê mướn, quyền đối với bất
động sản). Ở Nhật Bản, mọi thông tin về tình trạng pháp lý của bất động sản đều
được cung cấp cho người dân, doanh nghiệp khi có nhu cầu tìm hiểu. Việc công
khai vật quyền nhằm đảm bảo bên thứ ba có thể nhận biết được rõ ràng đời sống
pháp lý của vật quyền, tức là biết được sự tồn tại của vật quyền cũng như sự dịch
chuyển của vật quyền trong giao lưu dân sự (nguyên tắc này tránh rủi ro cho các
bên thứ ba).
- Thứ ba: Vật quyền phải do luật quy định
Do vật quyền là quyền tuyệt đối, có tính loại trừ, có tính chi phối, nên luật
phải quy định cụ thể các loại vật quyền, nội dung, hiệu lực của vật quyền và
cách thức công bố công khai vật quyền. Vật quyền phải do luật quy định; nếu
không được luật quy định thì không được công nhận là vật quyền để đảm bảo
trật tự giao dịch không bị xáo trộn. Pháp luật dân sự của nhiều nước trên thế giới
cũng đã quy định cụ thể về vấn đề này như Điều 175 BLDS Nhật Bản không
thừa nhận vật quyền ngoài quy định của luật hay Luật dân sự của Liên bang Nga
17
cũng quy định tất cả các vật quyền đều được luật (văn bản do cơ quan lập pháp
chuyển mà tài sản chưa được giao, có quyền ưu tiên đối với tài sản so với các
chủ nợ của người bán trong trường hợp người bán lâm vào tình trạng phá sản:
nếu người mua tuyên bố nhận tài sản, thì các chủ nợ của người bán không có
quyền yêu cầu kê biên tài sản đó. Quyền ưu tiên của người có quyền đối vật phát
huy tác dụng rõ nét nhất trong trường hợp quyền đối vật mang tính chất của một
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ: ngườì nhận thế chấp hoặc cầm cố có
quyền ưu tiên được thanh toán bằng số tiền bán tài sản thế chấp hoặc cầm cố so
với các chủ nợ không có bảo đảm của người thế chấp hoặc cầm cố.
1.2. Sự khác nhau giữa vật quyền và trái quyền
Vật quyền từ lâu đã được xây dựng như là một đối trọng với trái quyền (còn
gọi là quyền đối nhân) là obligatio. Người La Mã thiết lập sự phân biệt giữa vật
quyền và trái quyền trước hết là để phân loại tài sản. Theo đó, một quyền có giá
trị tài sản chỉ có thể là vật quyền hoặc là trái quyền. Khái niệm vật quyền được
hình dung theo cách của người La Mã là quyền được thực hiện trực tiếp trên một
vật cụ thể và xác định, những tài sản nào không được gọi là vật quyền thì là trái
quyền. Cuốn từ điển pháp luật của Pháp mang tên “Petit Dictionnaire de Droit”
định nghĩa: “Trái quyền là một mối quan hệ pháp lý theo đó một người, được gọi
là trái chủ, có thể sử dụng phương cách cưỡng chế của quyền lực công theo sự
lựa chọn của anh ta để buộc người khác, người thụ trái xác định, chuyển giao tài
19
sản, làm hoặc không làm việc gì đó”8. Nói cách khác trái quyền là quyền cho
phép một người gọi là trái chủ đòi hỏi một người khác, gọi là thụ trái, thực hiện
một việc để thỏa mãn quyền của trái chủ hoặc của người khác. Điều đó có nghĩa
rằng, để quan hệ trái quyền vận hành hoàn hảo, nhất thiết phải có sự hợp tác của
cả trái chủ và thụ trái điều này là khác với quan hệ vật quyền. Họ là những người
xác định trong từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể mà trong đó trái chủ là loại chủ thể
tích cực có quyền yêu cầu người thụ trái phải thi hành một nghĩa vụ nào đó; còn
người thụ trái là loại chủ thể tiêu cực phải thi hành nghĩa vụ vì quyền lợi của trái
sản của người khác (tức là vật quyền khác ngoài quyền sở hữu – jus in re aliena).
Những vật quyền khác ngoài quyền sở hữu là các vật quyền không đầy đủ bằng
quyền sở hữu và các quyền này làm cắt giảm bớt quyền của chủ sở hữu tài sản
bởi các vật quyền khác ngoài quyền sở hữu có được là do chủ sở hữu cho một
người hưởng lợi ích trên tài sản của mình9.
- Quyền sở hữu: Trong Luật dân sự La Mã thì quyền sở hữu được xác định
là một dạng quyền tuyệt đối và phạm vi rất rộng. Các luật gia La Mã không đưa
ra khái niệm đồng nhất về quyền sở hữu cũng như nội dung của quyền sở hữu
nhưng họ đã chỉ ra các quyền năng cơ bản của chủ sở hữu. Những quyền năng đó
bao gồm10:
+ Quyền sử dụng vật (Jus Utendi): là quyền khai thác những lợi ích kinh tế
từ vật phù hợp với tính năng, tác dụng của vật đó;
21
+ Quyền thu nhận thành quả và lợi nhuận (Jus Fruendi): là quyền của chủ sở
hữu được hưởng thành quả và lợi nhuận từ tài sản thuộc sở hữu của mình
mang lại;
+ Quyền chiếm hữu tài sản (Jus Possidendi): là quyền của chủ sở hữu được
nắm giữ, kiểm soát và chi phối vật.
+ Quyền định đoạt vật (Jus abutendi): là quyền của chủ sở hữu được định
đoạt số phận thực tế cũng như số phận pháp lý của vật;
+ Quyền đòi lại vật (Jus Vidicandi): là quyền của chủ sở hữu được đòi lại
vật đang bị người thứ ba chiếm hữu bất hợp pháp.
- Quyền trên tài sản của người khác (jus in re aliena) là quyền của chủ thể
không phải là chủ sở hữu của tài sản nhưng có quyền sử dụng và hưởng những
lợi ích mà tài sản đó mang lại. Quyền trên tài sản của người khác đầu tiên xuất
phát từ khái niệm Servitius (Quyền dụng ích). Quyền trên tài sản của người khác
có hai nhánh lớn là địa dịch (dịch quyền thuộc vật - predial servitude or real
servitude) và dịch quyền thuộc người (personal servitude).
nhận trực tiếp thuật ngữ vật quyền, nhưng trên thực tế luật tài sản của Cộng hòa
Pháp được xây dựng dựa trên cơ sở sự phân biệt giữa vật quyền và trái quyền.
Các nhà làm luật Pháp phân loại vật quyền theo cách dựa vào đối tượng tác động
của quyền là bản thể vật lý của tài sản hay là giá trị kinh tế của tài sản. Theo đó,
nhóm các vật quyền có thể được phân chia thành hai tiểu nhóm: vật quyền chính
23
(những quyền trực tiếp tác động lên bản thể vật lý của tài sản) và vật quyền phụ
(những quyền cho phép người có quyền tác động không phải vào bản thể của tài
sản mà vào giá trị kinh tế của tài sản)12.
Vật quyền chính bao gồm những quyền trực tiếp tác động lên bản thể vật
lý của tài sản và chỉ bằng cách tác động lên chính tài sản thì chủ thể mới thu
được tất cả những tiện ích do tài sản mang lại. Đứng đầu nhóm này là quyền sở
hữu – vật quyền chính đầy đủ, hoàn hảo nhất. Các vật quyền chính khác có mức
độ hoàn hảo của quyền năng thấp hơn quyền sở hữu, ví dụ như quyền hưởng hoa
lợi chỉ cho phép người có quyền thu hoa lợi từ việc khai thác tài sản, chứ không
cho phép định đoạt tài sản; quyền hữu dụng là quyền được ở và cho thuê để
hưởng hoa lợi, nhưng không có quyền định đoạt (nó có tính tạm thời, chỉ sau một
thời gian thì phải hoàn trả lại tài sản cho chủ sở hữu); quyền sử dụng (nếu tài sản
là BĐS thì chỉ được ở, không cho thuê để hưởng hoa lợi. Như trong luật thừa kế
của Cộng hòa Pháp: người vợ hay người chồng còn sống được ở ngôi nhà thừa
kế cho đến khi chia, chứ không được cho thuê hay bán)…Trong danh sách vật
quyền chính khác còn có: quyền địa dịch (có địa dịch tự nhiên và địa dịch do con
người tạo ra); quyền tạo lối ra do con người; quyền thuê đất dài hạn... Suy cho
cùng, các vật quyền chính khác đều chỉ là những phần không trọn vẹn của quyền
sở hữu. Tách ra từ quyền sở hữu để trở thành một quyền độc lập, các vật quyền
chính không phải là quyền sở hữu đều có tính tạm thời: đến lúc nào đó, các
quyền này phải biến mất hoặc gia nhập trở lại vào quyền sở hữu. Nếu không thừa
nhận điều này, thì quyền sở hữu sẽ không giữ được các thuộc tính của nó – độc