LỜI MỞ ĐẦU
Tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và
quan hệ pháp luật nói riêng. Khái niệm tài sản đã được đề cập rất lâu
trong trong thực tiễn cũng như trong khoa học pháp lý. Tài sản trên thực
tế tồn tại ở rất nhiều dạng khác nhau, vô cùng phong phú và đa dạng.
Tuy nhiên, mỗi loại tài sản lại có những đặc tính khác biệt cần thiết phải
có quy chế pháp lí điều chỉnh riêng. Chính vì vậy, việc phân loại tài sản
là cần thiết không chỉ có ý nghĩa trong hoạt động lập pháp mà còn có ý
nghĩa thực tiễn trong việc áp dụng pháp luật. Tuy nhiên, ở mỗi góc độ
khác nhau, một sự vật được nhìn nhận và đánh giá một cách khác nhau.
Bởi vậy, ở mỗi tiêu chí khác nhau, tài sản cũng sẽ được phân thành các
loại cụ thể khác nhau. Do đó, Điều 105_BLDS năm 2015 quy định:
“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.
Đây là cách phân loại cũng đồng thời là cách định nghĩa về tài sản của
Bộ luật. Theo quy định này thì tài sản được liệt kê khép kín chỉ tồn tại ở
một trong bốn loại: Vật, tiền, giấy tờ có giá hoặc quyền tài sản. Bài viết
dưới đây nhằm phân tích những loại tài sản đã được đề cập và một số
vấn đề lí luận và thực tiễn về tài sản theo quy định tại điều 105_BLDS
năm 2015 để góp phần hoàn thiện hơn nữa về cách hiểu tài sản trong
luật dân sự Việt Nam.
NỘI DUNG
Một số vấn đề lý luận về tài sản
Khái quát về sự hình thành và phát triển của Tài sản và pháp luật về tài
sản
Tài sản là công cụ của đời sống xã hội. Từ hàng nghìn năm nay, pháp
luật về tài sản của các quốc gia đã hình thành dựa trên các tập quán, lối
suy nghĩ và hành động khác nhau. Luật tài sản Phương Tây có khởi
Khái niệm tài sản theo Bộ luật dân sự 2015
Tài sản có thể được hiểu là bất cứ thứ gì có giá trị nằm trong sự chiếm
hữu của một chủ thể, một khái niệm rộng và không có giới hạn, luôn
được bồi đắp thêm bởi những giá trị mới mà con người nhận thức ra.
Tuy nhiên, theo cách hiểu chung nhất thì tài sản chính là của cải vật chất
được sử dụng vào mục đích sản xuất hoặc tiêu dùng có dụng ích, luôn
luôn được con người hướng tới làm chủ: chiếm hữu, sử dụng và định
đoạt. Dưới góc độ pháp lí, tài sản là một chế định quan trọng của của
Luật dân sự. Trong bối cảnh hệ thống pháp luật Việt Nam đang có nhiều
thay đổi để theo kịp với tiến trình hội nhập quốc tế, các khảo cứu mang
tính lí luận về tài sản về cơ bản đã bao quát và tương đối. Điều
105_BLDS năm 2015 quy định:
“1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản
có thể là tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai”.
Để hiểu rõ hơn về quy định này của pháp luật dân sự ta đi vào phân tích,
nghiên cứu từng loại tài sản theo quy định này:
1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản
Vật
Vật là bộ phận của thế giới vật chất, tồn tại khách quan mà con người có
thể cảm nhận được bằng các giác quan của mình. Vật chỉ có ý nghĩa khi
nó trở thành đối tượng trong quan hệ pháp luật nên nếu bộ phận của thế
giới vật chất mà con người không thể kiểm soát, chiếm hữu được nó thì
cũng đồng nghĩa với việc con người không thể tác động được vào nó.
Hơn nữa, là đối tượng trong quan hệ pháp luật nên vật phải đáp ứng
được lợi ích của các bên chủ thể trong quan hệ. Bộ luật Dân sự năm
1995 và Bộ luật dân sự năm 2005 đều quy định tài sản gồm có vật. Tuy
nhiên, Điều 105_BLDS 2015 quy định tài sản là “vật” mà không quy
Vật xét theo quan niệm xã hội : vật được nhiều người sử dụng và vật
được số ít người sử dụng, vật mang giá trị kinh tế lớn, giá trị tinh thần
cao và vật mang giá trị kinh tế thấp, giá trị tinh thần không cao, Vật còn
được xét theo nhiều tiêu chuẩn khác tùy thuộc vào tâm lí, thẩm mĩ và
văn hóa sử dụng của mỗi cá nhân và toàn xã hội trong từng thời kì phát
triển lịch sử nhất định và phần lớn phụ thuộc vào trình độ, chuyên môn
sản xuất vật chất và lưu thông hàng hóa của thời kỳ lịch sử đó
Vậy vật khi nào là tài sản ? Để giải quyết vấn đề đặt ra cần căn cứ vào
những tiêu chí của quan hệ pháp luật dân sự cụ thể để xác định. Điều
105 BLDS năm 2015 quy định về vật phải được hiểu như thế nào cho
đúng? Không phải bất kì vật nào của thế giới vật chất cũng đều được coi
là tài sản. Xét theo quan hệ này thì một vật nhất định được coi là tài sản
nhưng nếu xét theo quan hệ cụ thể khác thì vật đó không thể được coi là
tài sản. Để xác định một vật có được coi là tài sản hay không phải đặt
vật đó trong từng quan hệ cụ thể và không thể lập luận theo một chiều,
có vật là có tài sản được. Bởi vậy, vật là tài sản khi thỏa mãn các điều
kiện sau:
Vật đó phải tồn tại khách quan hoặc vật đó chắc chắn được hình thành
trong tương lai xác định được;
Vật đó con người phải chi phối được, phải kiểm soát được, phải chiếm
hữu được;
Vật đó phải xác định được giá trị thanh toán hay giá trị trao đổi, vật đó
phải khai thác được về tài sản (thương mại, dân sự, tiêu dùng), đáp ứng
nhu cầu vật chất và tinh thần của con người;
Vật đó là vật được phép lưu thông dân sự và mang giá trị tài sản, có thể
trao đổi được cho nhau dưới dạng vật chất hay quy đổi được bằng tiền.
Như vậy, vật được hiểu theo khía cạnh vật lí khác về ý nghĩa so với vật
được hiểu theo góc độ pháp lí. Vật được hiểu theo góc độ pháp lí là
biệt giữa vật và tiền như sau:
Đối với vật, chúng ta có thể khai thác công dụng hữu ích từ chính vật
đó( dùng nhà để ở, dùng xe mấy để đi,) còn đối với tiền thì không thể
khai thác công dụng hữu ích từ chính tờ tiền hay đồng tiền xu đó. Tiền
thực hiện ba chức năng chính là : công cụ thanh toán đa năng, công cụ
tích lũy tài sản và công cụ định giá các loại tài sản khác. Khái niệm
“quyền sử dụng” chỉ được áp dụng một cách trọn vẹn cho vật chứ không
áp dụng được cho tiền.
Các vật thông thường có thể do rất nhiều chủ thể khác nhau tạo ra nhưng
tiền chỉ do nhà nước độc quyền phát hành. Việc phát hành tiền được coi
là một trong những chủ quyền của mỗi quốc gia.
Vật được xác định số lượng bằng những đơn vị đo lường thông dụng còn
tiền lại được xác định số lượng thông qua mệnh giá của nó.
Chủ sở hữu vật được toàn quyền tiêu hủy vật thuộc sở hữu của mình,
còn chủ sở hữu của tiền thì lại không được tiêu hủy tiền ( không được
xé, đốt, sửa chữa, thay đổi kích thước, hình dạng, làm giả )
Như vậy, từ việc so sánh trên, có thể thấy rõ được một số điểm khác biệt
về mặt pháp lí giữa vật và tiền. Dưới góc độ kinh tế thì việc sử dụng tiền
được hiểu thông qua hành vi đầu tư tiền vào các loại hoạt động kinh
doanh ( mua bán thiết bị, cho vay lấy lãi, góp vốn) hay tiêu dùng nhưng
dưới góc độ luật dân sự thì các hành vi hay tiêu dùng đó lại phải được
hiểu là các hành vi thực hiện quyền định đoạt tiền (chuyển giao quyền sở
hữu tiền cho chủ thể khác) chứ không phải là quyền sử dụng. Dưới góc
độ kinh tế, việc gửi tiền vào các tổ chức tín dụng ( gửi tiền vào tài khoản
của mình trong ngân hàng ) thường được coi là hành vi cất giữ tiền, còn
dưới góc độ luật dân sự thì việc gửi tiền vào ngân hàng hay các tổ chức
tín dụng khác lại phải luôn được hiểu là hợp đồng cho vay tài sản. Bởi
lẽ, sau khi gửi vào ngân hàng thì chính ngân hàng là chủ sở hữu khoản
tiền. Chính tại các kim loại quý,… đó chỉ có giá trị tương ứng với tiền
tại một thời điểm xác định vì các kim loại quý, đá quý thường xuyên
biến động theo thị trường nhưng cái pháp luật muốn hướng tới là những
quy định có tính ổn định dài vì việc xác định tiền chỉ là tiền giấy (hiện
tại ở Việt Nam) còn kim loại quý là vật có ý nghĩa quan trọng đối với
các nghành luật khác. Ví dụ như luật hình sự, khi vận dụng để xác định
hành vi chiếm đoạt vẫn phải tách riêng tiền và các loại tài sản khác vì
thời điểm chiếm đoạt có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định có hay
không có tội phạm xảy ra. Ví dụ, đối với hành vi trộm cắp mà đối tượng
tác động là một chỉ vàng 9999 thì có thời điểm nó đủ yếu tố định lượng
để xác định tội danh, nhưng ở thời điểm khác lại không đủ điều kiện về
định lượng.
Giấy tờ có giá
Giấy tờ có giá là lọai tài sản rất phổ biến trong giao lưu dân sự hiện nay,
đặc biệt là trong ngân hàng và trong các tổ chức tín dụng khác. Nhưng
trong Bộ luật dân sự năm 2015 chỉ quy định nó là một loại tài sản mà
không có quy định cụ thể về cách hiểu đối với giấy tờ có giá. Vậy phải
hiểu Giấy tờ có giá là như thế nào cho đúng với ý nghĩa là một loại tài
sản trong quan hệ pháp luật dân sự? Theo thông tư 34/2013/TT-NHNN
giấy tờ có giá được hiểu là bằng chứng xác nhận nghĩa vụ trả nợ giữa tổ
chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phát hành với người
mua giấy tờ có giá trong một thời hạn nhất định, điều kiện trả lãi và các
điều kiện khác. Giấy tờ có giá ngắn hạn được hiểu là giấy tờ có giá cờ
thời hạn dưới 1 năm bao gồm: kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi
ngắn hạn và các giấy tờ có giá ngắn hạn khác. Giấy tờ có giá dài hạn là
giấy tờ có thời hạn 1 năm trở nên kể từ khi phát hành đến khi hết hạn
bao gồm: trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn và các giấy tờ có giá dài
hạn khác. Giấy tờ có giá ghi danh là giấy tờ có giá phát hành theo hình
nhượng với điều kiện chuyển nhượng toàn bộ, một lần, việc chuyển
nhượng một phần giấy tờ có giá là vô hiệu.
Ngoài ra còn có thể kể thêm một số đặc điểm khác như có tính thời hạn,
tính có thể đưa ra yêu cầu, tính rủi ro.
Giấy tờ có giá hiện nay tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau như séc, cổ
phiếu, tín phiếu, trái phiếu, hối phiếu, công tráikhác với tiền chỉ do cơ
quan duy nhất là Ngân hàng nhà nước ban hành thì giấy tờ có giá có thể
do rất nhiều các cơ quan khác ban hành như Chính phủ, Kho bạc, các
công ty cổ phần. Nếu tiền luôn có mệnh giá nhất định thể hiện thước đo
gía trị của những loại tài sản khác, luôn lưu hành không có thời hạn,
không ghi danh thì giấy tờ có giá có thể có mệnh giá hoặc không có
mệnh giá, có thể có thời hạn sử dụng hoặc không có thời hạn sử dụng, có
thể ghi danh hoặc không ghi danh và việc thực hiện quyền định đoạt về
số phận thực tế đối với giấy tờ có giá không thể xác định bằng những
đơn vị đo lường thông dụng mà nó được xác định giá trị thông qua giá
trị ghi trên loại giấy tờ đó ( ví dụ như hối phiếu nhận nợ, hối phiếu đòi
nợ, séc,…) nhưng có loại giấy tờ giá trị của nó có thể cao hơn hoặc thấp
hơn giá trị bề mặt của nó ( chẳng hạn như cổ phiếu)…và ta không thể
khai thác công dụng hữu ích từ chính loại giấy tờ có giá đó. Và một điều
quan trọng là giấy tờ có giá không chỉ trị giá được bằng tiền mà còn
chuyển giao được trong giao lưu dân sự. Nó là một tài sản hữu hình và
đối với loại tài sản này ta có thể thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng và
định đoạt chúng.
Cần lưu ý là các loại gấy tờ xác nhận quyền sở hữu, quyền sử dụng đối
với tài sản như giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, giấy chứng nhận sở
hữu nhà, giấy đăng kí ô tô, sổ tiết kiệm,…không phải là giấy tờ có giá.
Nếu cần phải xem xét thì đó chỉ đơn thuần được coi là một vật và thuộc
sở hữu của người đứng tên trên giấy tờ đó.
là tiền hoặc giấy tờ có giá ví dụ như hợp đồng thuê, hợp đồng mượn.
Hơn nữa, khi đối tượng của giao dịch là các loại tài sản khác nhau thì
phương thức thực hiện cũng sẽ được áp dụng khác nhau ( ví dụ: phương
thức thực hiện nghĩa vụ giao vật khác với thực hiện nghĩa vụ có đối
tượng là tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Đối với tiền khi thực hiện
chậm sẽ bị tính lãi tương ứng với thời gian chậm trả còn đối với vật chỉ
có thể là buộc phải giao vật và/hoặc bồi thường thiệt hại. Đối với quyền
tài sản thì vấn đề cung cấp thông tin và chuyển giao giấy tờ là yêu cầu
bắt buộc ). Trong luật hình sự, việc xác định được đúng loại tài sản theo
Điều 163 BLDS năm 2005 sẽ có ý nghĩa trong việc xác định đúng một
số tội danh như tội vận chuyển trái phép hang hóa, tiền tệ qua biên giới;
tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả
khác; tội hợp pháp hóa tiền, tài sản do phạm tội mà có…