Hệ thống vật quyền trong bộ luật dân sự năm 2015 - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ THÙY DƯƠNG

HỆ THỐNG VẬT QUYỀN
TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

NGÔ THÙY DƯƠNG

HỆ THỐNG VẬT QUYỀN
TRONG BỘ LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Dân sự

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Đinh Văn Thanh


1.1. Khái niệm và đặc điểm vật quyền

6

1.1.1. Khái niệm “vật quyền”

6

1.1.2. Đặc điểm của vật quyền

9

1.1.3. Hệ quả

11

1.2. Sự khác nhau giữa vật quyền và trái quyền

12

1.3. Phân loại vật quyền

14

1.3.1. Phân loại vật quyền trong pháp luật La Mã

14

1.3.2. Phân loại vật quyền trong pháp luật dân sự của một số quốc gia 16

2.2.3. Quyền hưởng dụng

52

2.2.4. Quyền bề mặt

56

2.3. Các biện pháp bảo đảm mang tính chất vật quyền

60

2.3.1. Quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về các biện pháp bảo đảm 60
mang tính chất vật quyền
2.3.2. Đánh giá quy định của Bộ luật dân sự năm 2015 về các biện 63
pháp bảo đảm mang tính chất vật quyền
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện hệ thống vật quyền trong bộ luật dân sự 65
năm 2015
3.1. Kiến nghị hoàn thiện chế định quyền sở hữu

65

3.2. Kiến nghị hoàn thiện chế định các loại vật quyền hạn chế

67

3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền chiếm hữu của người 67
không phải là chủ sở hữu tài sản
3.2.2. Kiến nghị hoàn thiện quy định về quyền đối với bất động sản liền 69
kề

2015 đã vận dụng lý thuyết vật quyền vào việc xây dựng các quy định như thế
nào? Hệ thống các quyền tài sản trong pháp luật dân sự Việt Nam nếu nhìn nhận
dưới góc độ vật quyền thì bao gồm những quyền gì? Quy định của BLDS năm
2015 về các quyền này có khác gì so với BLDS năm 2005 là vấn đề cần làm rõ
sau khi BLDS năm 2015 đã được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10, Quốc
hội khóa XIII (sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2017). Với lý do trên, tác giả đã lựa
chọn vấn đề “Hệ thống vật quyền trong Bộ luật dân sự năm 2015” làm đề tài
nghiên cứu để hoàn thành luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Sự phân biệt quyền tài sản thành vật quyền và trái quyền có thể nói là sự
phân biệt kinh điển, có giá trị trong lập pháp từ thời cổ cho đến nay và vẫn giữ
nguyên giá trị. Do đó, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề
này nói chung và về vật quyền nói riêng.


2

Ở Việt Nam, từ trước khi BLDS năm 2015 ra đời cũng đã có nhiều bài
viết, công trình nghiên cứu về vấn đề sự cần thiết của việc áp dụng học thuyết
vật quyền vào việc xây dựng, hoàn thiện các quy định về quyền tài sản. Nhất là
thời điểm tiến hành xây dựng BLDS năm 2015, nhiều chuyên gia, các nhà luật
học đã có những bài viết thể hiện quan điểm về việc cần thiết áp dụng học thuyết
vật quyền trong xây dựng BLDS năm 2015 cũng như những bài viết góp ý hoàn
thiện từng loại quyền tài sản dưới góc độ vật quyền. Ta có thể kể đến một số bài
viết nghiên cứu như:
1.“Lợi ích của việc xây dựng chế định vật quyền đối với việc hoàn thiện hệ
thống pháp luật tài sản” của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Điện (Tạp chí nghiên cứu
lập pháp điện tử): bài viết này nghiên cứu về việc áp dụng vật quyền trong xây
dựng lại một số vấn đề pháp lý như định nghĩa tài sản của Luật dân sự Việt Nam,
chế độ pháp lý về bất động sản trong quan hệ láng giềng, các biện pháp bảo đảm

tài này, luận văn sẽ nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, phân loại vật quyền và
quy định của BLDS năm 2015 về các quyền tài sản mang tính chất là vật quyền
trong sự so sánh với BLDS năm 2005. Tuy nhiên, với phạm vi của một luận văn
thạc sĩ khó có thể đi quá sâu vào phân tích chi tiết quy định của pháp luật về từng
loại quyền tài sản mang tính chất vật quyền được, nên luận văn chỉ tập trung phân
tích và đánh giá những quy định thể hiện rõ bản chất vật quyền của mỗi quyền.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
4.1. Mục tiêu tổng quát
Trên cơ sở nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, phân loại vật quyền, luận
văn sẽ phân tích các quy định của BLDS năm 2015 về các quyền tài sản mang
tính chất là vật quyền trong sự so sánh với BLDS năm 2005, từ đó đánh giá
những ưu điểm và hạn chế của các quy định trong BLDS năm 2015 và kiến nghị
để nhằm hoàn thiện quy định về các loại quyền tài sản mang tính chất vật quyền,


4

đảm bảo hiệu quả khi áp dụng vào thực tế.
4.2. Mục tiêu cụ thể
Để thực hiện mục tiêu đó, luận văn đã tập trung nghiên cứu những vấn đề
cụ thể sau:
- Khái niệm, đặc điểm và phân loại vật quyền;
- Ý nghĩa và việc áp dụng lý thuyết vật quyền trong xây dựng Bộ luật dân
sự Việt Nam năm 2015;
- Phân tích và đánh giá hệ thống vật quyền trong Bộ luật dân sự năm
2015 (bao gồm: Quyền sở hữu, Các vật quyền hạn chế, Các biện pháp bảo đảm
mang tính chất vật quyền);
- Kiến nghị hoàn thiện hệ thống vật quyền trong bộ luật dân sự năm 2015.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
- Vật quyền là gì? Đặc điểm của các loại quyền tài sản là vật quyền?

viên chuyên ngành luật dân sự khi tìm hiểu về các quyền tài sản mang tính chất
vật quyền.
8. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, Phần nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về vật quyền.
Chương 2: Phân tích và đánh giá hệ thống vật quyền trong Bộ luật dân sự
năm 2015.
Chương 3: Kiến nghị hoàn thiện hệ thống vật quyền trong bộ luật dân sự
năm 2015.


6

Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VẬT QUYỀN

1.1. Khái niệm và đặc điểm vật quyền
1.1.1. Khái niệm “vật quyền”
Trong tiếng Việt, “vật” được hiểu là cái có hình khối, có thể nhận biết được.
Trong tiếng Anh, ‘things” (vật) được hiểu là những đối tượng của sự chiếm hữu
hoặc được hiểu là tài sản. Từ điển Luật học Black định nghĩa: “vật-things” là
những đối tượng ổn định có thể nhìn thấy, có thể cảm nhận được qua giác quan.
Vật được chia làm ba loại: vật bất động (immovable things); vật lưu động
(movable things); và vật hỗn hợp (mixed things), tức là những vật mang đặc
trưng của hai loại trên, ví dụ như văn tự xác nhận quyền (title- deed)1. Do lý
thuyết vật quyền được xây dựng xuất phát từ Luật La Mã nên để hiểu khái niệm
“vật quyền” ta phải đi từ cách hiểu của các luật gia La Mã về “vật”. Thuật ngữ
“vật” (res) được sử dụng trong ngôn ngữ pháp lý Latin để chỉ một vật tồn tại theo
tính chất của nó, một vật có biểu hiện vật chất và cụ thể. Mặt khác, “res” cũng

không, các luật gia sau này đã xây dựng nên khái niệm vật quyền và trái ngược
với nó là trái quyền4.
Ví dụ: Một người bỏ tiền ra mua một cái xe đạp thì người đó có quyền
chiếm hữu, sử dụng, định đoạt chiếc xe đạp đó (gọi là vật quyền) mà không cần
phụ thuộc vào ý chí hoặc hành vi của bất kì một chủ thể nào. Khác với trường
hợp một người sang mượn người hàng xóm chiếc xe đạp để sử dụng. Trong
trường hợp này việc sử dụng chiếc xe đạp của người đi mượn phải phụ thuộc vào

3

Nguyễn Ngọc Điện (2015), Sự cần thiết của việc vận dụng lý thuyết về vật quyền bảo đảm vào quá trình sửa đổi
Bộ luật dân sự, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 02/2015, tr 39.
4
Trái quyền là quyền của một người được yêu cầu một người khác phải thực hiện hoặc không thực hiện một
hành vi nhất định, và chỉ thông qua hành vi của người đó thì quyền và lợi ích của người có quyền mới được đáp
ứng (Trường Đại học Luật Hà Nội (2003), Giáo trình Luật La Mã, NXB Công an nhân dân, Hà Nội, tr 62).
Theo quan điểm trước đây thì vật quyền là quyền của chủ sở hữu với vật, dựa trên quyền do pháp luật quy định
và tính năng của vật. Còn trái quyền là quyền của một chủ thể trong quan hệ nghĩa vụ. Trước khi ban hành BLDS
năm 1995 thì phần nghĩa vụ được gọi là trái vụ. Trong trái vụ có trái chủ (là người có quyền) và thụ trái (là người
có nghĩa vụ). Do ít phổ biến nên từ BLDS năm 1995 đã chuyển thành “Nghĩa vụ và hợp đồng”. Khái niệm nghĩa
vụ được dùng thay cho khái niệm trái vụ.


8

sự đồng ý, cho phép và phải có hành vi giao xe đạp của chủ sở hữu chiếc xe đạp
thì người này mới sử dụng được. Việc sử dụng chiếc xe đạp lúc này cũng hoàn
toàn theo thỏa thuận với chủ sở hữu (mục đích, thời gian sử dụng…). Vì vậy,
người ta còn xem vật quyền là một trong những quyền chủ quan của chủ sở hữu5.
- Góc độ thứ hai: Vật quyền là toàn bộ các quy phạm pháp luật quy định về

quyền nhưng trên thực tế luật tài sản của Cộng hòa Pháp được xây dựng dựa trên
cơ sở sự phân biệt giữa vật quyền và trái quyền.
1.1.2. Đặc điểm của vật quyền
Lý thuyết vật quyền được xây dựng dựa trên quan điểm của các luật gia La
Mã về việc thực hiện quyền trực tiếp và ngay lập tức trên một vật mà không cần
sự hợp tác của người khác, do đó vật quyền mang các đặc điểm sau:
- Thứ nhất: vật quyền được thực hiện trực tiếp trên đối tượng
Nếu như trái quyền là quyền có thể yêu cầu bên đối tác thực hiện hành vi
nhất định (còn gọi là quyền tương đối) thì vật quyền được xây dựng với bản chất
là quyền được thực hiện trực tiếp và ngay lập tức trên một vật, do đó không cần
đến sự hợp tác hoặc trợ lực của chủ thể khác, và mọi chủ thể khác đều phải tôn
trọng quyền này (quyền tuyệt đối). Tính chất trực tiếp của việc thực hiện vật
quyền được thể hiện ngay trong cách thức tác động bằng hành vi vật chất (và cả
hành vi pháp lý) của chủ thể lên đối tượng của quyền.
Ví dụ: chủ sở hữu chiếc xe đạp có toàn quyền trong việc sử dụng, khai thác
công dụng và định đoạt chiếc xe đạp thuộc sở hữu của mình mà không cần vai
trò trung gian của một người nào khác hay chủ thể có quyền hưởng dụng sẽ được
tự mình hoặc cho phép người khác khai thác, sử dụng, thu hoa lợi, lợi tức từ đối
tượng của quyền hưởng dụng.
Đặc điểm này khiến vật quyền khác với trái quyền bởi trong quan hệ trái
quyền chủ thể có quyền thực hiện quyền của mình không phải bằng việc tác
động trực tiếp lên đối tượng (tài sản) mà thông qua việc yêu cầu một người khác
phải thực hiện hoặc không thực hiện một hành vi nhất định và chỉ thông qua
hành vi của người đó thì quyền và lợi ích của người có quyền mới được đáp ứng.
- Thứ hai: Vật quyền mang tính đối kháng với mọi chủ thể khác
Quyền đối nhân có hiệu lực trong mối quan hệ giữa người có quyền yêu cầu


10



11

khai vật quyền nhằm đảm bảo bên thứ ba có thể nhận biết được rõ ràng đời sống
pháp lý của vật quyền, tức là biết được sự tồn tại của vật quyền cũng như sự dịch
chuyển của vật quyền trong giao lưu dân sự (nguyên tắc này tránh rủi ro cho các
bên thứ ba).
- Thứ ba: Vật quyền phải do luật quy định
Do vật quyền là quyền tuyệt đối, có tính loại trừ, có tính chi phối, nên luật
phải quy định cụ thể các loại vật quyền, nội dung, hiệu lực của vật quyền và
cách thức công bố công khai vật quyền. Vật quyền phải do luật quy định; nếu
không được luật quy định thì không được công nhận là vật quyền để đảm bảo
trật tự giao dịch không bị xáo trộn. Pháp luật dân sự của nhiều nước trên thế giới
cũng đã quy định cụ thể về vấn đề này như Điều 175 BLDS Nhật Bản không
thừa nhận vật quyền ngoài quy định của luật hay Luật dân sự của Liên bang Nga
cũng quy định tất cả các vật quyền đều được luật (văn bản do cơ quan lập pháp
ban hành) quy định, các chủ thể trong giao dịch không thể tự mình đặt ra các loại
vật quyền theo ý muốn của mình.
1.1.3. Hệ quả
- Quyền theo đuổi
Vật quyền cho phép chủ thể thực hiện quyền của mình đối với vật, bất kể
vật đang nằm trong sự chiếm hữu của người nào. Luật gọi đó là quyền theo đuổi.
Đây là hệ quả từ tính đối kháng với mọi chủ thể khác của vật quyền. Trên
nguyên tắc, tất cả những ai đang nắm giữ vật, dù với tư cách nào, đều phải tôn
trọng các quyền năng của người có vật quyền, một cách không điều kiện: người
có quyền sở hữu tài sản được quyền yêu cầu người nắm giữ tài sản phải giao tài
sản cho mình và người này phải giao nếu không muốn bị coi là người chiếm giữ
tài sản bất hợp pháp; chủ sở hữu tài sản thế chấp phải tôn trọng quyền kê biên tài
sản của chủ nợ nhận thế chấp; chủ sở hữu bất động sản chịu địa dịch về lối đi



13

trị tài sản chỉ có thể là vật quyền hoặc là trái quyền. Khái niệm vật quyền được
hình dung theo cách của người La Mã là quyền được thực hiện trực tiếp trên một
vật cụ thể và xác định, những tài sản nào không được gọi là vật quyền thì là trái
quyền. Cuốn từ điển pháp luật của Pháp mang tên “Petit Dictionnaire de Droit”
định nghĩa: “Trái quyền là một mối quan hệ pháp lý theo đó một người, được gọi
là trái chủ, có thể sử dụng phương cách cưỡng chế của quyền lực công theo sự
lựa chọn của anh ta để buộc người khác, người thụ trái xác định, chuyển giao tài
sản, làm hoặc không làm việc gì đó”8. Nói cách khác trái quyền là quyền cho
phép một người gọi là trái chủ đòi hỏi một người khác, gọi là thụ trái, thực hiện
một việc để thỏa mãn quyền của trái chủ hoặc của người khác. Điều đó có nghĩa
rằng, để quan hệ trái quyền vận hành hoàn hảo, nhất thiết phải có sự hợp tác của
cả trái chủ và thụ trái điều này là khác với quan hệ vật quyền. Họ là những người
xác định trong từng quan hệ nghĩa vụ cụ thể mà trong đó trái chủ là loại chủ thể
tích cực có quyền yêu cầu người thụ trái phải thi hành một nghĩa vụ nào đó; còn
người thụ trái là loại chủ thể tiêu cực phải thi hành nghĩa vụ vì quyền lợi của trái
chủ hoặc của người khác mà đã được xác định cụ thể trong quan hệ nghĩa vụ cụ
thể. Ở đây cần phải phân biệt vật quyền có đối tượng là vật; còn trái quyền có
đối tượng cụ thể là công việc mà người thụ trái phải thi hành, trong đó có thể là
chuyển giao tài sản, hoặc làm hoặc không làm một công việc nào đó. Do đó dẫn
đến các hệ quả là sự chuyển giao nghĩa vụ khó khăn hơn chuyển giao vật quyền,
bởi sự thay đổi trái chủ và người thụ trái không thể tuỳ tiện.
Các vật quyền được nhận ra nhờ hai đặc điểm cơ bản mà, trên nguyên tắc,
trái quyền không có: thứ nhất, thiết lập mối quan hệ trực tiếp giữa chủ thể và đối
8

TS Ngô Huy Cương (2008), “Nghĩa vụ dân sự và quan niệm nghĩa vụ dân sự ở Việt Nam”, Bài viết trên trang
Thông tin pháp luật dân sự tại địa chỉ: https://thongtinphapluatdansu.com/2008/04/30/08745/, ngày truy cập:


William Livesey Burdick (2004),The Principles of Roman Law and Their Relation to Modern Law, The
Lawyers Co Operative Publishing.


15

- Quyền sở hữu: Trong Luật dân sự La Mã thì quyền sở hữu được xác định
là một dạng quyền tuyệt đối và phạm vi rất rộng. Các luật gia La Mã không đưa
ra khái niệm đồng nhất về quyền sở hữu cũng như nội dung của quyền sở hữu
nhưng họ đã chỉ ra các quyền năng cơ bản của chủ sở hữu. Những quyền năng đó
bao gồm10:
+ Quyền sử dụng vật (Jus Utendi): là quyền khai thác những lợi ích kinh tế
từ vật phù hợp với tính năng, tác dụng của vật đó;
+ Quyền thu nhận thành quả và lợi nhuận (Jus Fruendi): là quyền của chủ sở
hữu được hưởng thành quả và lợi nhuận từ tài sản thuộc sở hữu của mình
mang lại;
+ Quyền chiếm hữu tài sản (Jus Possidendi): là quyền của chủ sở hữu được
nắm giữ, kiểm soát và chi phối vật.
+ Quyền định đoạt vật (Jus abutendi): là quyền của chủ sở hữu được định
đoạt số phận thực tế cũng như số phận pháp lý của vật;
+ Quyền đòi lại vật (Jus Vidicandi): là quyền của chủ sở hữu được đòi lại
vật đang bị người thứ ba chiếm hữu bất hợp pháp.
- Quyền trên tài sản của người khác (jus in re aliena) là quyền của chủ thể
không phải là chủ sở hữu của tài sản nhưng có quyền sử dụng và hưởng những
lợi ích mà tài sản đó mang lại. Quyền trên tài sản của người khác đầu tiên xuất
phát từ khái niệm Servitius (Quyền dụng ích). Quyền trên tài sản của người khác
có hai nhánh lớn là địa dịch (dịch quyền thuộc vật - predial servitude or real
servitude) và dịch quyền thuộc người (personal servitude).
* Dịch quyền thuộc vật hay địa dịch là một quan hệ mà trong đó một bất

quyền và đối tượng của quyền (tức là xác định người có quyền tác động lên đối
tượng là tài sản hay giá trị kinh tế của tài sản).
1.3.2.1. Phân loại vật quyền trong pháp luật dân sự Cộng hòa Pháp
Mặc dù BLDS của Cộng hòa Pháp hiện hành không có quy định nào ghi
11

Ngô Huy Cương (2010), Ý tưởng về chế định quyền hưởng dụng trong Bộ luật dân sự tương lai của Việt Nam,
Trang Thông tin pháp luật dân sự, tại địa chỉ: https://thongtinphapluatdansu.edu.vn/2010/09/24/5228/, ngày truy
cập 30/4/2016.


17

nhận trực tiếp thuật ngữ vật quyền, nhưng trên thực tế luật tài sản của Cộng hòa
Pháp được xây dựng dựa trên cơ sở sự phân biệt giữa vật quyền và trái quyền.
Các nhà làm luật Pháp phân loại vật quyền theo cách dựa vào đối tượng tác động
của quyền là bản thể vật lý của tài sản hay là giá trị kinh tế của tài sản. Theo đó,
nhóm các vật quyền có thể được phân chia thành hai tiểu nhóm: vật quyền chính
(những quyền trực tiếp tác động lên bản thể vật lý của tài sản) và vật quyền phụ
(những quyền cho phép người có quyền tác động không phải vào bản thể của tài
sản mà vào giá trị kinh tế của tài sản)12.
Vật quyền chính bao gồm những quyền trực tiếp tác động lên bản thể vật
lý của tài sản và chỉ bằng cách tác động lên chính tài sản thì chủ thể mới thu
được tất cả những tiện ích do tài sản mang lại. Đứng đầu nhóm này là quyền sở
hữu – vật quyền chính đầy đủ, hoàn hảo nhất. Các vật quyền chính khác có mức
độ hoàn hảo của quyền năng thấp hơn quyền sở hữu, ví dụ như quyền hưởng hoa
lợi chỉ cho phép người có quyền thu hoa lợi từ việc khai thác tài sản, chứ không
cho phép định đoạt tài sản; quyền hữu dụng là quyền được ở và cho thuê để
hưởng hoa lợi, nhưng không có quyền định đoạt (nó có tính tạm thời, chỉ sau một
thời gian thì phải hoàn trả lại tài sản cho chủ sở hữu); quyền sử dụng (nếu tài sản

chủ động của thụ trái (trong pháp luật Việt Nam hiện hành gọi là người có nghĩa
vụ) để có được sự thực hiện nghĩa vụ thoả đáng, người có vật quyền có thể tác
động vào giá trị kinh tế của tài sản (chủ nợ có thể xử lý tài sản bảo đảm bằng
cách tổ chức kê biên và bán, rồi nhận tiền thanh toán trước các chủ nợ khác của
người mắc nợ). Vật quyền phụ không trao cho người có quyền những công cụ
khai thác các khả năng của tài sản để phục vụ cho cuộc sống, sinh hoạt của mình,
như các vật quyền chính.
1.3.2.2. Phân loại vật quyền trong pháp luật dân sự Cộng hòa Liên bang Đức
Bộ luật Dân sự Đức được đánh giá là một Bộ luật có sự ảnh hưởng lớn và
13

Nguyễn Ngọc Điện (2014), Cải cách hệ thống pháp luật tài sản thỏa mãn tiêu chí hội nhập thông qua việc sửa
đổi Bộ luật Dân sự, bài viết đăng trên trang web http://nguoibaovequyenloi.com, tại địa chỉ:
http://nguoibaovequyenloi.com/User/ThongTin_ChiTiet.aspx?MaTT=1032015552513755&MaMT=22 , ngày
truy cập 3/6/2016.
14
Xem thêm G. Cornu (1990), Droit civil. Introduction.Les personnes.Les biens, Montchrestien, Paris, tr. 312.


19

đã được nhiều nước tham khảo trong quá trình soạn thảo và sửa đổi Bộ luật Dân
sự của mình. BLDS Đức gồm 5 quyển và Quyển 3 là những quy định về vật
quyền. Pháp luật Cộng hòa Liên bang Đức phân loại vật quyền gồm hai nhóm:
nhóm một chỉ gồm quyền sở hữu và nhóm hai gồm tất cả các loại vật quyền còn
lại. Trong các loại vật quyền được quy định tại BLDS Đức thì quyền sở hữu là
loại vật quyền chính. Những loại vật quyền khác là sự độc lập hoá theo mục đích
của quyền sở hữu, là những bộ phận của quyền sở hữu hay được xem là các phân
nhánh của quyền sở hữu. Đây là các vật quyền có mức độ quyền năng thấp hơn
quyền sở hữu vì vậy mà chúng còn có thể được gọi là các vật quyền hạn chế.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status