MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, việc xác định đúng đối
tượng chứng minh và chứng minh đầy đủ nó không những đảm bảo cho việc
giải quyết vụ án được đúng đắn mà còn rút ngắn được thời gian, giảm chi phí,
góp phần nâng cao hiệu quả của việc đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy
nhiên, thực tiễn cho thấy do không xác định đối tượng chứng minh của từng
vụ án một cách chính xác nên dẫn đến việc Toà án hoặc Viện kiểm sát phải
trả hồ sơ cho Cơ quan điều tra để điều tra bổ sung, điều tra lại hoặc dẫn đến
việc giải quyết vụ án sai sót, không phù hợp với quy định của pháp luật, làm
oan người vô tội, bỏ lọt tội phạm. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng
này như: quy định của pháp luật TTHS về đối tượng chứng minh còn có
những điểm bất cập, trình độ nhận thức chưa cao, ý thức chấp hành pháp luật
chưa nghiêm của người tiến THTT… nên việc nghiên cứu một cách toàn diện
những vấn đề lý luận và thực tiễn về đối tượng chứng minh trong TTHS, đánh
giá thực trạng quy định của luật TTHS Việt Nam về đối tượng chứng minh và
thực tiễn hoạt động của các cơ quan THTT hình sự Việt Nam liên quan đến
đối tượng chứng minh để từ đó đề ra giải pháp hoàn thiện về mặt lập pháp và
giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong giải quyết vụ án hình sự là vấn
đề có ý nghĩa quan trọng và mang tính cấp thiết, góp phần nâng cao chất
lượng giải quyết vụ án hình sự. Đây cũng là lý do tác giả chọn đề tài “Đối
tượng chứng minh trong tố tụng hình sự” cho luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu
Về “Đối tượng chứng minh trong TTHS” trong một số giáo trình luật
TTHS của một số trường đại học cũng như một số khoá luận cử nhân luật đề
cập đến dưới góc độ là một vấn đề của quá trình chứng minh, hoặc do yêu
1
- Mục đích, yêu cầu: Làm rõ một cách cơ bản và toàn diện những vấn
đề lý luận và thực tiễn về đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự.
Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật TTHS nước ta
về đối tượng chứng minh có so sánh với quy định của luật TTHS một số
nước trên thế giới về vấn đề này, đánh giá thực tiễn hoạt động của các cơ
quan THTT hình sự ở Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh, tìm ra
những điểm còn tồn tại, bất cập từ đó bước đầu đề xuất một số giải pháp góp
phần hoàn thiện về mặt lập pháp có liên quan đến đối tượng chứng minh và
nâng cao hiệu quả áp dụng nó trong thực tiễn, từ đó góp phần nâng cao chất
lượng giải quyết vụ án hình sự.
- Nhiệm vụ: Để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu
luận văn cần giải quyết những vấn đề sau:
• Nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về đối tượng chứng
minh trong TTHS;
• Nghiên cứu và so sánh những quy định của luật TTHS Việt Nam
và luật TTHS của một số nước trên thế giới về đối tượng chứng
minh;
• Đánh giá thực tiễn hoạt động của các cơ quan THTT hình sự ở
Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh;
• Đưa ra những giải pháp hoàn thiện quy định của luật TTHS
Việt Nam về đối tượng chứng minh và giải pháp nâng cao hiệu
quả thực tiễn áp dụng những quy định đó của các cơ quan
THTT hình sự ở Việt Nam.
- Đối tượng: Luận văn nghiên cứu một số vấn đề lý luận chung về đối
tượng chứng minh trong TTHS. Nghiên cứu, so sánh những quy định của luật
TTHS Việt Nam và luật TTHS một số nước trên thế giới về đối tượng chứng
3
4
5. Những đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Bổ sung và hoàn thiện thêm những vấn đề lý luận chung về đối
tượng chứng minh trong TTHS.
- Phát hiện những điểm còn bất cập trong luật TTHS Việt Nam về
đối tượng chứng minh. Những thiếu sót, hạn chế trong hoạt động của các cơ
quan THTT hình sự Việt Nam liên quan đến đối tượng chứng minh, tìm ra
những nguyên nhân của những thiếu sót, hạn chế đó. Đề xuất một số giải
pháp hoàn thiện những quy định của luật TTHS Việt Nam về đối tượng
chứng minh và nâng cao hiệu quả áp dụng những quy định của luật TTHS về
đối tượng chứng minh.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn.
- Về mặt lý luận: Nội dung và kết quả nghiên cứu của Luận văn có
thể được khai thác sử dụng trong công tác nghiên cứu lý luận của các cơ
quan THTT hình sự và có thể làm tài liệu tham khảo trong xây dựng, sửa đổi
BLTTHS và một số văn bản pháp luật khác có liên quan đến đối tượng
chứng minh để hoàn thiện hơn.
- Về mặt thực tiễn: Các cơ quan THTT có thể khai thác vận dụng
những kết quả nghiên cứu của Luận văn để nâng cao chất lượng, hiệu quả
hoạt động của mình trong quá trình chứng minh, giải quyết vụ án hình sự.
7.Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu còn tham
khảo, Luận văn gồm 3 chương với 8 mục.
5
Chương 1
6
của sự việc và hiện tượng. Trong thế giới khách quan, không có cái gì là con
người không thể nhận thức được, mà chỉ có những cái con người chưa nhận
thức được nhưng dần dần cũng sẽ nhận thức được.
Như vậy, theo nguyên lý của lý luận nhận thức thì không có sự vật,
hiện tượng gì mà con người không nhận thức được, vì thế không thể có tội
phạm không bị phát hiện, chỉ có điều chúng ta có vận dụng một cách khách
quan quy luật nhận thức trong quá trình chứng minh làm rõ vụ án hay không.
Trong thực tế tuy rằng không phải mọi tội phạm đều được phát hiện khám
phá, nhưng điều đó không có ý nghĩa rằng vể bản chất của con đường nhận
thức sự thật khách quan của vụ án là có giới hạn mà ở đây chỉ là do sự hạn
chế về khả năng nhận thức của từng cá nhân và sự khó khăn về điều kiện
nhận thức trong từng trường hợp cụ thể đó.
Nhưng quá trình nhận thức sự thật khách quan của vụ án hình sự không
phải là quá trình nhận thức trực tiếp mà là quá trình nhận thức gián tiếp về vụ án.
Bởi vì, khi đó sự việc phạm tội không phải là đang xảy ra một cách hiện hữu để
chúng ta nhận thức, mà trên thực tế sự việc phạm tội đã xảy ra, vì vậy các cơ
quan THTT phải nhận thức khôi phục lại nó thông qua việc phát hiện thu thập và
đánh giá những dấu vết mà nó để lại trong hiện thực khách quan.
Theo nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì: thế giới thống
nhất ở tính vật chất, thế giới vật chất luôn vận động và phát triển, mọi sự vật
hiện tượng trong thế giới luôn có mối liên hệ, tác động với nhau, ràng buộc
lẫn nhau, quy định và chuyển hoá lẫn nhau. Phép biện chứng cũng chỉ ra rằng
phản ánh là thuộc tính của chung của mọi đối tượng vật chất, V. I -Lênin viết:
“Hết thảy mọi vật chất đều có một đặc tính về bản chất gần giống như cảm
giác, đặc tính phản ánh”[8, tr 104]. Bởi vậy về nguyên tắc, hoạt động của con
người nói chung và hành vi phạm tội nói riêng bao giờ cũng để lại dấu vết
trong thế giới khách quan. Những dấu vết của hành vi phạm tội có thể được
đó.
Hoạt động chứng minh trong TTHS là hoạt động có mục đích làm
sáng tỏ nội dung của vụ án và những tình tiết có liên quan đến vụ án, nên
8
những những người tham gia vào hoạt động này là những chủ thể chứng minh
trong TTHS. Tuy nhiên tuỳ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ hoặc tuỳ thuộc
vào quyền và lợi ích v.v… của các chủ thể có sự khác nhau nên mức độ tham
gia cũng như giai đoạn tham gia vào hoạt động chứng minh của từng chủ thể
có sự khác nhau.
Thông thường thì chủ thể chứng minh trong TTHS chủ yếu là các cơ
quan THTT và người THTT. Theo luật TTHS Việt Nam thì đó là các cơ quan
THTT và người THTT như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; Thủ
trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó
viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Toà án,
Thẩm phán…nhóm chủ thể này giữ vai trò chính trong hoạt động chứng minh
toàn bộ nội dung của vụ án và những tình tiết có liên quan đến nội dung của
vụ án và kết quả chứng minh của họ mang tính pháp lý cao. Tuy nhiên do
chức năng, nhiệm vụ của từng chủ thể có sự khác nhau nên giai đoạn tham gia
chứng minh cũng như phạm vi, mức độ chứng minh của họ cũng có sự khác
nhau nhất định.
Theo luật TTHS Việt Nam thì các cơ quan Bộ đội Biên phòng, Hải
quan, Kiểm lâm, Lực lượng cảnh sát biển và các cơ quan khác của Công an
nhân dân, Quân đội nhân dân cũng được giao tiến hành một số hoạt động điều
tra khi phát hiện những hành vi phạm tội đến mức phải truy cứu TNHS trong
lĩnh vực quản lý của mình thì Bộ đội biên phòng, Hải quan, Kiểm lâm, Lực
lượng cảnh sát biển có thẩm quyền: đối với tội phạm ít nghiêm trọng trong
những trường hợp phạm tội quả tang, chứng cứ và lai lịch người phạm tội rõ
nhằm giảm trách nhiệm, nghĩa vụ của họ.
Người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự tham gia chứng
minh những tình tiết liên quan đến việc bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc liên
quan đến việc bảo vệ quyền lợi cho đương sự tức là chứng minh những tình
tiết có lợi cho bị can, bị cáo hoặc đương sự.
Tuy người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại,
nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi và nghĩ vụ liên quan…
là những chủ thể có quyền tham gia chứng minh nhưng không phải là vụ án
10
nào cũng có tất cả những người tham gia mà tuỳ theo từng vụ án cụ thể có thể
chỉ có một số người tham gia, cũng có thể có vụ án không có người nào trong
số những người này tham gia chứng minh vì đó là quyền của họ. Mặt khác sự
chứng minh của họ đôi khi vì những lý do cá nhân mà không thể hiện tính
khách quan cao. Theo luật TTHS thường thì kết quả chứng minh của những
người này chưa có giá trị pháp lý chính thức mà vẫn phải thông qua sự đánh
giá, kết luận của các cơ quan THTT.
Ngoài ra, trong TTHS còn có sự tham gia của người làm chứng, người
phiên dịch và đôi khi còn có sự tham gia của các cơ quan, tổ chức xã hội, cá
nhân khác. Sự tham gia của những người này nhằm cung cấp những tài liệu,
chứng cứ phục vụ cho quá trình chứng minh. Những người này không phải
chủ thể chứng minh bởi vì họ không có mục đích trực tiếp nhằm chứng minh
nội dung vụ án và các tình tiết liên quan đến vụ án. Họ cũng chỉ tham gia tố
tụng khi được các cơ quan THTT yêu cầu.
1.1.2. Nghĩa vụ chứng minh trong tố tụng hình sự
Như chúng ta đã biết có rất nhiều chủ thể chứng minh trong TTHS.
Nhưng trong số những chủ thể đó, có những chủ thể thì việc tham gia chứng
minh là quyền của họ nên họ có thể thực hiện quyền đó hoặc không thực hiện
minh thuộc về các cơ quan THTT, cụ thể, tại Điều 11 BLTTHS năm 1988 và
Điều 10 BLTTHS năm 2003 của nước ta quy định: “… Trách nhiệm chứng
minh tội phạm thuộc về các cơ quan THTT. Bị can, bị cáo có quyền nhưng
không buộc phải chứng minh là mình vô tội”. Việc quy định nghĩa vụ chứng
minh thuộc về các cơ quan THTT, bởi lẽ: quan hệ pháp luật hình sự có nội
dung là mối quan hệ giữa nhà nước và người phạm tội, nhà nước với tư cách
là chủ thể của quan hệ pháp luật hình sự có quyền quy định hành vi nào là tội
phạm, đồng thời buộc người có hành vi phạm tội phải gánh chịu những hậu
quả pháp lý bất lợi bằng bản án, Quyết định của Toà án hoặc các Quyết định
của cơ quan có thẩm quyền. Để truy cứu trách nhiệm hình sự một người, nhà
nước phải có những chứng cứ chứng minh hành vi của họ là phạm tội, nếu
không đủ chứng cứ thì không thể buộc tội và truy cứu TNHS họ. Vì vậy, để
có chứng cứ chứng minh hành vi của người nào đó là tội phạm, nhà nước
12
thành lập ra các cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ chứng minh tội phạm. Ở
nước ta, các cơ quan đó là: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án. Bị can, bị
cáo có quyền đưa ra những chứng cứ chứng minh mình vô tội hoặc có quyền
đưa ra các tình tiết giảm nhẹ TNHS đối với họ, nhưng đây không phải là
nghĩa vụ của họ.
Để làm sáng tỏ vụ án hình sự, ngoài nghĩa vụ chứng minh của các cơ
quan THTT, thì đòi hỏi có sự tham gia tích cực của những người tham gia tố
tụng và các chủ thể khác. Tuy nhiên sự tham gia của các chủ thể này không
phải là họ có trách nhiệm chứng minh vụ án mà là họ có trách nhiệm cung cấp
những tài liệu, thông tin liên quan đến vụ án và cơ quan THTT có thể sử dụng
những tài liệu, thông tin này làm chứng cứ chứng minh trong vụ án hình sự.
1.1.3. Đối tượng chứng minh trong tố tụng hình sự
Ở phương diện chung nhất thì toàn bộ thực tiễn khách quan là đối
nó rõ ràng là đã không xảy ra trong vụ án đó. Ví dụ: trong vụ án mà người
phạm tội mới có hành vi chuẩn bị phạm một tội rất nghiêm trọng hoặc một tội
đặc biệt nghiêm trọng thì bị phát hiện, xử lý. Như vậy, trong vụ án này rõ
ràng là hậu quả của tội phạm chưa xảy ra nên không phải chứng minh nó.
Mặt khác, trong luật TTHS còn quy định phải chứng minh các tình tiết
khác có liên quan đến vụ án, mà những tình tiết này có thể chỉ phải chứng
minh trong vụ án cụ thể nào đó chứ không phải chứng ming trong bất kỳ vụ
án nào. Hoặc có những tình tiết, vấn đề chỉ phải chứng minh khi phát sinh
những hoạt động tố tụng có liên quan. Chẳng hạn như: những tình tiết là căn
cứ áp dụng biện pháp tạm giam chỉ phải chứng minh nó khi các cơ quan
THTT áp dụng biện pháp tạm giam đối với bị can, bị cáo.
Đối tượng chứng minh trong TTHS - là nội dung chính của Luận văn
nên những vấn đề liên quan đến nó sẽ tiếp tục được làm rõ ở một số mục tiếp
theo của Luận văn.
1.1.4. Qúa trình chứng minh
Trong TTHS, chứng minh được hiểu là việc sử dụng các chứng cứ để làm
sáng tỏ bản chất và các tình tiết của vụ án. Trong quá trình chứng minh vụ án hình
14
sự bao gồm các bước sau: phát hiện, thu thập, kiểm tra, và đánh giá chứng cứ.
Phát hiện chứng cứ là tìm ra những sự vật, hiện tượng, tài liệu có
mang dấu vết, thông tin liên quan đến vụ án hình sự. Việc phát hiện chứng cứ
được tiến hành bằng nhiều biện pháp do luật TTHS quy định như: Khám
nghiệm hiện trường, xác minh sự việc…
Thu thập chứng cứ là việc ghi nhận, thu giữ và bảo quản chứng cứ của
các cơ quan THTT làm cho chứng cứ có đầy đủ giá trị chứng minh. Việc thu
thập chứng cứ do những chủ thể được luật TTHS quy định tiến hành bằng
những biện pháp cũng do luật TTHS quy định.
thật khách quan thì đòi hỏi không những hoạt động chứng minh phải dựa trên
những cở, phương pháp luận khoa học mà còn đòi hỏi những quy định của
pháp luật về chứng cứ như: chứng cứ là gì, cái gì được coi là chứng cứ…
cũng phải bảo đảm tính khoa học.Nhưng nghiên cứu trong lịch sử pháp lý cho
thấy đã từng có các quan điểm khác nhau về chứng cứ trong TTHS như:
Quan điểm thần học, tôn giáo xuất phát từ phương pháp luận duy tâm
cho rằng “Đấng tối cao”, “Thần linh”, “Chúa trời”… đã tạo ra thế giới, tạo ra
con người, tạo ra tội phạm thì cũng là người phán xét tội phạm. Theo quan
điểm này, người bị tình nghi phạm tội phải chịu những thử thách vô lý, dã
man như: Nhúng tay vào nước sôi trong khoảng thời gian nhất định hoặc đập
đầu vào đá... nếu tay họ không bị bỏng hoặc đầu không bị chảy máu thì họ
được coi là vô tội, còn ngược lại thì họ bị coi là thủ phạm. Hoặc quan toà tổ
chức cho người bị tố cáo và người tố cáo quyết đấu, chiến thắng được coi là
chứng cứ có giá trị nhất và người chiến thắng được Toà án tuyên không có tội
hoặc lời xám hối của các Con chiên về các hành vi tội lỗi của mình trước bề
trên được coi là chứng cứ buộc tội. Từ những điều trên, cho thấy quan
điểm duy tâm, tôn giáo về chứng cứ là sự thể hiện tư tưởng thần quyền
của các nhà nước thời trung cổ, nó không mang tính khoa học, trái với
quy luật khách quan.
16
Quan điểm về chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu tố cáo coi lời tố cáo
của một người nào đó chính là chứng cứ buộc tội đối với người bị tố cáo. Nếu
người bị tố cáo không có chứng cứ hoặc không có khả năng bác bỏ lời tố cáo
thì họ sẽ bị coi là phạm tội. Lời nhận tội của người bị tố cáo được coi là
chứng cứ có giá trị nhất, nên quan toà thường áp dụng cực hình đối với người
bị tố cáo để họ nhận tội. Vì vậy, chứng cứ của trình tự tố tụng kiểu tố cáo thể
hiện sự đơn giản hoá trong việc chứng minh vụ án hình sự, thường dẫn đến sự
lấy cấu trúc cơ thể con người thông qua giám định pháp y làm chứng cứ để
chứng minhh tội phạm, mà quá trình hình thành hành vi phạm tội cuả con
người chịu sự tác động của các hiện tượng, hoàn cảnh, môi trường của xã hội.
Đến giữa Thế kỷ XVIII quan điểm hình thức về chứng cứ bị phản bác,
thay vào đó là quan điểm niềm tin nội tâm tự do của Thẩm phán về chứng cứ.
Theo quan điểm này thì vai trò của Thẩm phán được đề cao trong hoạt động
chứng minh tội phạm, được toàn quyền quyết định về tội phạm một cách tuỳ
thuộc vào niềm tin nội tâm của mình, không phải đưa ra bất kỳ căn cứ nào
miễn là khẳng định được sự tin tưởng vào sự đúng đắn của các quyết định.
Theo lý luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng thì: Con người có khả
năng nhận thức các quy luật, hiện tượng của thế giới khách quan, tìm ra chân
lý. Quá trình nhận thức của con người từ trực quan sinh động đến tư duy trừu
tượng, từ chưa biết đến biết, từ biết ít đến biết nhiều, từ hiện tượng đến bản
chất. Về nguyên tắc, không có sự vật, hiện tượng nào là không thể nhận thức
được, mà chỉ có sự vật, hiện tượng chưa được nhận thức mà thôi. Bởi vậy,
mọi tội phạm xảy ra trên thực tế con người đều có thể phát hiện chứng minh
được. Cũng theo lý luận duy vật biện chứng thì mọi sự vật đều có thuộc tính
phản ánh. Với thuộc tính phản ánh của sự vật nên mọi hoạt động của con
người trong đó các hành vi phạm tội đều để lại dấu vết trong thế giới khách
quan. Dấu vết của hành vi phạm tội có thể được thể hiện dưới dạng vật chất
như: Dấu vết trên công cụ, phương tiện phạm tội, dấu trên để lại trên hiện
trường… hoặc được phản ánh, ghi nhận trong trí nhớ của con người, có thể là
nạn nhân hay nhân chứng. Từ việc thu thập đầy đủ, có hệ thống các dấu vết này
con người có thể nhận thức được diễn biến của hành vi phạm tội đã xảy ra.
18
Chính từ việc dựa trên cơ sở lý luận nhận thức của chủ nghĩa Mác - Lê Nin,
nên khoa học luật TTHS của các nước đi theo con đường XHCN đã xác định
đòi hỏi các cơ quan THTT phải làm sáng tỏ bản chất của vụ án và những vấn
đề có liên quan đến vụ án - Tức là phải làm rõ các vấn đề như: sự việc phạm
tội, người thực hiện tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, trách nhiệm
hình sự đối với người phạm tội, nhân thân người phạm tội… bởi lẽ, chính
những vấn đề này là cơ sở để xác định tội phạm, xác định trách nhiệm hình sự
đối với người phạm tội, việc áp dụng biện pháp ngăn chặn cũng như xác định
trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra của người phạm
tội… Việc giải quyết vụ án hình sự chỉ phát sinh sau khi có tội phạm xảy ra, vì
vậy để xác định được bản chất diễn biến của vụ án, các cơ quan THTT phải
tiến hành thu thập chứng cứ và sử dụng chứng cứ để chứng minh làm rõ các
vấn đề trong vụ án, mà các vấn đề cần phải chứng minh trong vụ án hình sự
này được khoa học luật TTHS gọi là đối tượng chứng minh trong vụ án hình
sự.
Nhưng trong vụ việc phạm tội có rất nhiều tình tiết, có tình tiết có ý
nghĩa, giá trị làm cơ sở cho việc giải quyết, xử lý đúng đắn vụ án, có những
tình tiết lại hầu như không có ý nghĩa gì trong việc giải quyết vụ án. Chẳng
hạn như trong một vụ trộm cắp tài sản - Người phạm tội là A đã dùng kìm bẻ
gẫy khuy cửa nhà của gia đình hàng xóm rồi vào nhà lấy trộm chiếc tivi mang
về nhà mình cất giấu. ở đây, các tình tiết như việc A dùng kìm bẻ gẫy khuy
cửa, A vào nhà hàng xóm lấy trộm ti vi là những tình tiết có ý nghĩa thể hiện
hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của A. Còn tình tiết A cầm kìm bẻ khuy cửa
bằng tay phải hay tay trái, khi lấy ti vi A bê hay xách ti vi thì hầu như không
có ý nghĩa pháp lý gì đối với việc giải quyết vụ án cũng như không ảnh hưởng
gì đến việc kết luận hành vi phạm tội của A và việc xử lý đối với A. Bởi vậy,
đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự không phải là tất cả các tình tiết,
các vấn đề của sự việc phạm tội xảy ra trên thực tế, cũng như không phải tất
20
kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người
vô tội mà còn nhằm đấu tranh chống và phòng ngừa tội phạm. Một trong
những nguyên tắc cơ bản của luật TTHS Việt Nam là “trong quá trình THTT
hình sự,
Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án có nhiệm vụ tìm ra
những nguyên nhân và điều kiện phạm tội, yêu cầu các cơ quan, tổ chức hữu
quan áp dụng các biện pháp khắc phục và ngăn ngừa. Các cơ quan, tổ chức
hữu quan phải trả lời về việc thực hiện yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát và Toà án.” (Điều 27, BLTTHS Việt Nam năm 2003). Như vậy,
trong quá trình THTT hình sự yêu cầu đặt ra cho các cơ quan THTT là phải
tìm ra các nguyên nhân và điều kiện phạm tội và đề ra các biện pháp, yêu cầu
khắc phục. Chính vì vậy, các cơ quan THTT, người THTT phải chứng minh
làm rõ nguyên nhân và điều kiện phạm tội - và đây là những vấn đề chứng
minh không chỉ góp phần để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự mà còn phục
vụ chủ yếu cho công tác phòng ngừa tội phạm. Nên theo chúng tôi đối tượng
chứng minh trong vụ án hình sự còn bao gồm cả những vấn đề liên quan đến
vụ án và phục vụ cho việc đề ra các biện pháp đấu tranh phòng chống tội
phạm.
Theo nguyên tắc pháp chế thì: mọi hoạt động TTHS của cơ quan
THTT, người THTT và người tham gia tố tụng cũng phải tuân thủ những quy
định của luật TTHS và đương nhiên đối tượng chứng minh cũng phải được
luật TTHS quy định - tức là trong quá trình tố tụng đối với vụ án hình sự cần
phải chứng minh những vấn đề gì đều được luật TTHS quy định. Song việc
quy định này có thể là trực tiếp, cụ thể hoặc có thể là quy định gián tiếp.
Qua sự phân tích ở trên, có thể rút ra những đặc điểm của đối tượng
chứng minh trong vụ án hình sự đó là:
- Tất cả các vấn đề của vụ án và liên quan đến vụ án nhưng chưa biết
được luật TTHS quy định thì không tạo được căn cứ pháp lý cho các cơ quan
THTT xác định về đối tượng chứng minh một cách thống nhất và chính xác,
23
thậm chí có thể dẫn đến tranh cãi giữa các cơ quan THTT trong việc xác định
những vấn đề gì là cần cho việc giải quyết đúng đắn vụ án…
- “Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tổng hợp tất cả
những tình tiết thực tế phản ánh bản chất của sự việc liên quan đến tội phạm
và người phạm tội, những tình tiết khác giúp cho việc giải quyết đúng đắn vụ
án hình sự”. [10]
Phân tích khái niệm trên cho thấy khái niệm mới chỉ mang tính liệt kê
những tình tiết là đối tượng chứng minh mà chưa nêu được bản chất của đối
tượng chứng minh- đó là “những vấn đề chưa biết nhưng cần phải biết”. Nội hàm
của khái niệm cũng chưa đầy đủ vì chưa bao hàm những tình tiết phục vụ cho việc
phòng ngừa tội phạm. Mặt khác khái niệm cũng chưa đề cập đến khía canh pháp
lý của đối tượng chứng minh tương tự như ở phần trên chúng tôi đã phân tích.
Như vậy, các khái niệm về đối tượng chứng minh ở trên còn có sự hạn
chế nhất định. Trên cơ sơ phân tích về đối tượng chứng minh và sự tiếp thu
những điểm hợp lý, khắc phục sự hạn chế trong khái niệm đối tượng chứng
minh của một số tác giả, dưới góc độ khoa học luật TTHS, chúng ta có thể rút
ra khái niệm đầy đủ về đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự như sau:
Đối tượng chứng minh trong vụ án hình sự là tổng hợp tất cả những vấn đề
chưa biết nhưng cần phải biết mà những vấn đề này được luật TTHS quy định
các cơ quan THTT phải làm rõ để xác định bản chất của vụ án và những nội
dung khác có liên quan đến vụ án, trên cơ sở đó các cơ quan THTT ra các
quyết định phù hợp với quy định của luật hình sự, luật TTHS trong quá trình
giải quyết vụ án hình sự và đề ra các biện pháp phòng ngừa tội phạm.
1.2.2. Ý nghĩa của việc xác định đối tượng chứng minh
tính chất hoàn cảnh của vụ án đó hoặc tuỳ thuộc vào hoạt động tố tụng phát
sinh trong vụ án đó nên về phương diện lập pháp khó có thể gom tất cả những
vấn đề cần phải chứng minh đưa vào quy định trong một vài điều luật trong
một phần riêng biệt của BLTTHS mà phải quy định nó rải rác trong các điều
luật quy định về từng hoạt động tố tụng riêng biệt có liên quan đến nó. Song
25