Giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự:Luận văn ThS. Luật : 603801 - Pdf 68

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN ANH TUẤN

GI¸M §ÞNH T¦ PH¸P §èI VíI C¸C TéI PH¹M VÒ THAM
NHòNG TRONG QU¸ TR×NH GI¶I QUYÕT Vô ¸N H×NH Sù

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

NGUYỄN ANH TUẤN

GI¸M §ÞNH T¦ PH¸P §èI VíI C¸C TéI PH¹M VÒ THAM
NHòNG TRONG QU¸ TR×NH GI¶I QUYÕT Vô ¸N H×NH Sù
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ

HÀ NỘI - 2017


LỜI CAM ĐOAN

GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ ......................................................................... 7
Khái quát về giám định tư pháp trong tố tụng hình sự ...........................7
Khái niệm Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự ....................................7
Phân loại Giám định tư pháp trong Tố tụng hình sự ...................................11
Vai trò, ý nghĩa của Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự ...................15

1.1.4.

Đối tượng, nội dung và thủ tục giám định tư pháp trong tố tụng hình sự .........23

1.2.

Khái niệm, đặc điểm giám định tư pháp đối với các tội phạm
tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ...........................26

1.2.1.
1.2.2.

Khái niệm ....................................................................................................26
Đặc điểm......................................................................................................29

Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VÀ THỰC TIỄN HOẠT ĐỘNG
GIÁM ĐỊNH TƯ PHÁP ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM VỀ THAM
NHŨNG TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ .........34
2.1.
2.1.1.
2.1.2.

2.2.


hiệu quả hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm về
tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự...........................79
Cơ sở và yêu cầu về mặt lập pháp ...............................................................79

3.1.2.

Cơ sở và yêu cầu về mặt thực tiễn ..............................................................80

3.2.
3.2.1.
3.2.2.

Hoàn thiện pháp luật về giám định tư pháp đối với các tội phạm
về tham nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự ......................81
Hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự ..........................................................81
Hoàn thiện về luật giám định tư pháp .........................................................84

3.3.

Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động giám định tư pháp

3.3.1.

3.3.2.
3.3.3.
3.3.4.
3.3.5.
3.3.6.
3.3.7.



Cơ quan điều tra

CQTHTT

Cơ quan tiến hành tố tụng

GĐTP

Giám định tư pháp

GĐV

Giám định viên

KLGĐ

Kết luận giám định

NLTNHS

Năng lực trách nhiệm hình sự

NTHTT

Người tiến hành tố tụng

TCGĐ

Trưng cầu giám định

tích cực trong đấu tranh, phòng ngừa tham nhũng. Tuy nhiên, vẫn chưa đạt được
yêu cầu ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, thể hiện ở số lượng tài
sản của Nhà nước bị chiếm đoạt, lãng phí, thất thoát đặc biệt nghiêm trọng vẫn xảy
ra. Việc phát hiện, khởi tố, điều tra để xử lý hình sự đối với hành vi tham nhũng gặp
nhiều khó khăn trong quá trình xác minh, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm
tham nhũng, đặc biệt là khó khăn trong giám định tư pháp trong quá trình giải quyết
các vụ án về tham nhũng như: thời gian giám định dài; kinh phí chi trả giám định
quá lớn; một số cơ quan được trưng cầu giám định từ chối né tránh; không quy định
công tác giám định đối với từng tội danh cụ thể; không quy định thời gian cử Giám
định viên; không quy định rõ trách nhiệm của Giám định viên; trình độ chuyên môn
của một số giám định viên chưa đáp ứng được yêu cầu, kết luận giám định không
chính xác, phải giám định nhiều lần… là nguyên nhân quan trọng dẫn đến thời gian
giải quyết một số vụ án bị kéo dài, thậm chí không xử lý được.
Việc xác định thiệt hại về tài sản trong một số vụ án tham nhũng bắt buộc
phải tiến hành trưng cầu giám định về tài chính kế toán, giám định kỹ thuật, giám
định chất lượng công trình… Kết luận giám định trong những trường hợp này là
nguồn chứng cứ quan trọng chứng minh tội phạm và nhiều khi là nguồn chứng cứ
duy nhất. Nội dung yêu cầu giám định trong các vụ án tham nhũng bao gồm nhiều
vấn đề phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau (tài chính, xây dựng, kỹ
thuật chuyên ngành…) cần thiết phải có sự điều phối, hợp tác của nhiều ngành khác

1


nhau. Tuy nhiên chất lượng kết luận giám định trong một số trường hợp chưa bảo
đảm, một số kết luận còn chung chung, mập mờ, không rõ ràng, không trả lời cụ thể
câu hỏi của cơ quan trưng cầu đặt ra, mà nêu “chỉ có giá trị tham khảo”, không
khẳng định rõ đúng sai và có dấu hiệu né tránh khiến cho các cơ quan tiến hành tố
tụng lúng túng, khó khăn trong quá trình giải quyết vụ án. Một số trường hợp, nội
dung yêu cầu giám định là nghiệp vụ chuyên môn mới phát sinh, phức tạp, khối

Những hạn chế, vướng mắc nêu trên cần được khắc phục, nên học viên lựa
chọn đề tài: “Giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng trong quá
trình giải quyết vụ án hình sự” làm luận văn thạc sỹ luật học đáp ứng yêu cầu lý
luận và thực tiễn của giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham nhũng.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở Việt Nam thời gian qua, vấn đề giám định tư pháp trong quá trình giải
quyết các vụ án đang là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan, ban, ngành;
Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt đề án “Đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động
giám định tư pháp”; cũng đã có nhiều tác giả quan tâm nghiên cứu về lý luận và
thực tiễn liên quan đến hoạt động giám định tư pháp với nhiều công trình như:
- Những vấn đế lý luận và thực tiễn cấp bách của việc đổi mới thủ tục TTHS
đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp, tác giả: TS. Lê Hữu Thể -TS. Đỗ Văn ĐươngThS. Nguyễn Thị Thủy, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2013.
- Giám định tư pháp trong Tố tụng hình sự Việt Nam, Luận án Tiến sỹ, tác
giả Nguyễn Thị Loan, năm 2015.
- Hoàn thiện các quy định về giám định trong Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003,
bài viết của tác giả ThS.Đức Hạnh - Giảng viên trường Đại học Kiểm sát Hà Nội…
Ngoài ra, cũng đã có nhiều cuộc họp, hội thảo do Chính phủ, các Bộ, Ban,
ngành tổ chức để đánh giá về hiệu quả công tác giám định tư pháp trong những năm
qua; trong các cuộc họp, hội thảo đó, các cơ quan có liên quan cũng đã có những
báo cáo liên quan đến công tác giám định tư pháp như:
- Tham luận của Ban Nội chính Trung ương tại Hội nghị triển khai thi hành
Luật giám định tư pháp, tháng 9-2013.
- Bài phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo
Trung ương về PCTN, kết luận tại Hội nghị toàn quốc về công tác PCTN tại Hà
Nội, ngày 05-5-2014…

3


Qua nghiên cứu các công trình khoa học, báo cáo tổng kết các cuộc họp, hội

4


4.2. Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Luận văn nghiên cứu các vấn đề liên quan đến hoạt động giám định tư pháp
trong quá trình giải quyết các vụ án về tham nhũng trên cơ sở khảo sát thực tiễn giải
quyết những vụ án tham nhũng lớn từ 2010 đến 2015.
Luận văn có tham khảo các báo cáo tổng kết của các Cơ quan tiến hành tố
tụng trong quá trình giải quyết các vụ án về tham nhũng, báo cáo tổng kết các cuộc
họp do Ban nội chính Trung ương, Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham
nhũng chủ trì tổ chức để tổng kết về công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng.
5. Phương pháp nghiên cứu của đề tài
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận biện chứng duy vật
của Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Đồng thời dựa trên các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước về đấu tranh,
phòng chống tội phạm.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả áp dụng các phương pháp nghiên
cứu cụ thể như:
- Phương pháp tổng hợp, phân tích;
- Phương pháp thống kê hình sự;
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn;
- Phương pháp đối chiếu, so sánh;
- Phương pháp khảo sát điển hình;
6. Những đóng góp mới của luận văn
6.1. Về lý luận
Đây là công trình khoa học nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện, có hệ thống và
tương đối đầy đủ về hoạt động giám định tư pháp đối với các tội phạm về tham
nhũng trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
6.2. Về thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu nghiên cứu,

cầu giám định có nhận thức khách quan để giải quyết vấn đề đặt ra trên cơ sở khoa
học. Giám định có nhiều lĩnh vực như: giám định pháp y, giám định pháp y tâm
thần, giám định kỹ thuật hình sự, giám định văn hóa, giám định tài chính- kế toán,
giám định xây dựng... Trong mỗi lĩnh vực giám định lại được chia ra thành nhiều
các chuyên ngành giám định cụ thể.
Theo từ điển Tiếng Việt, thuật ngữ “giám định” là “việc xem xét và kết luận về một
sự vật, hiện tượng mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định” [34, tr.389, 1071].
Từ điển Bách Khoa Việt Nam cũng có cách định nghĩa tương tự về nghĩa của từ
giám định trong ngành luật là “kiểm tra và kết luận về một hiện tượng hoặc một vấn
đề mà cơ quan nhà nước cần tìm hiểu và xác định” [36, tr.1211].
Theo quy định của pháp luật, GĐTP là hoạt động bổ trợ tư pháp phục vụ
điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, giải quyết các vụ việc dân sự, vụ án
hành chính. Trong lĩnh vực tư pháp, khái niệm giám định tư pháp lần đầu tiên được
đề cập trong Nghị định số 117/HĐBT ngày 21/7/1988 của Hội đồng bộ trưởng (nay
là Chính phủ), theo đó nêu:
Giám định tư pháp là sử dụng kiến thức, phương pháp khoa học
kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn để kết luận về vấn đề có liên quan đến

7


các vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, các tranh chấp lao động
theo quyết định trưng cầu giám định của cơ quan Công an, Viện kiểm sát
nhân dân, Tòa án nhân dân (trong văn bản này gọi chung là cơ quan tiến
hành tố tụng) nhằm phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Pháp lệnh Giám định tư pháp năm 2004 tiếp tục xác định và làm rõ hơn về
khái niệm này. Tại Điều 1 quy định:
Giám định tư pháp là việc sử dụng kiến thức, phương tiện,
phương pháp khoa học, kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về chuyên môn
những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự, hành chính, vụ việc dân sự

phòng, Hải quan, Kiểm lâm, lực lượng cảnh sát biển…)
Quan điểm thứ hai cho rằng: trong tố tụng hình sự giám định là việc
nghiên cứu, phân tích, xét nghiệm do các nhà khoa học, kĩ thuật và chuyên môn
khác tiến hành theo yêu cầu của cơ quan điều tra, viện kiểm sát hoặc tòa án về
những vấn đề có liên quan đến vụ án hình sự (Nguyễn Mạnh Hùng, Thuật ngữ pháp
lý 2011). So với quan điểm thứ nhất, quan điểm này phù hợp hơn với các quy định
của BLTTHS năm 2003 xét về mặt chủ thể có thẩm quyền trưng cầu giám định. Tuy
nhiên khái niệm này cũng chưa bao quát hết nội hàm các quy định của pháp luật tố
tụng về chủ thể có thẩm quyền trưng cầu giám định cũng như những nội dung khác
liên quan đến Giám định tư pháp trong tố tụng hình sự.
Có thể nhận thấy, GĐTP trong tố tụng hình sự là hoạt động xuất hiện trong
quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự. GĐTP chỉ được tiến hành trong
những trường hợp và theo trình tự do BLTTHS quy định. Nói cách khác, hoạt động
giám định tư pháp nhằm phục vụ cho việc giải quyết vụ án hình sự theo trình tự do
BLTTHS quy định thì mới là GĐTP trong tố tụng hình sự.
Bộ luật tố tụng hình sự quy định GĐTP là một biện pháp điều tra, thu thập
chứng cứ với những quy định rất rõ ràng, chi tiết; đồng thời cũng xác định rõ ý
nghĩa của kết luận giám định đối với việc chứng minh tội phạm và người phạm tội;
cụ thể như sau:
- Điều 60 quy định về người giám định, trong đó xác định rõ người giám
định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định được cơ quan tiến
hành tố tụng trưng cầu theo quy định của pháp luật; đồng thời quy định rõ quyền
và nghĩa vụ của họ trong quá trình tố tụng hình sự.

9


Luật giám định tư pháp quy định chủ thể tiến hành GĐTP bao gồm giám định
viên tư pháp và người GĐTP theo vụ việc. Trong đó, giám định viên tư pháp là người
đủ tiêu chuẩn về quốc tịch, sức khỏe, phẩm chất đạo đức, trình độ và thực tế công tác,

làm sáng tỏ những vấn đề theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng nhằm phục vụ
hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự.
1.1.2. Phân loại Giám định tư pháp trong Tố tụng hình sự
1.1.2.1. Căn cứ vào quy định của pháp luật về sự cần thiết phải xác định các
sự kiện trong vụ án: Giám định bắt buộc và giám định khi xét thấy cần thiết
Giám định bắt buộc: được quy định tại khoản 3 điều 155 BLTTHS 2003, là
trường hợp khi xuất hiện một hoặc một số tình tiết liên quan đến vụ án mà luật
TTHS đã quy định thì CQTHTT bắt buộc phải TCGĐ, nếu không trưng cầu là vi
phạm thủ tục tố tụng hình sự.
Giám định khi xét thấy cần thiết: là trường hợp khi xuất hiện những tính
tiết nhất định trong vụ án, tuy luật không quy định bắt buộc phải giám định
nhưng CQTHTT nhận thấy việc giám định là rất cần thiết để giải quyết vụ án
một cách chính xác và TCGĐ thì giám định viên sẽ tiến hành việc giám định. Đó
là các trường hợp:
+ Cần có KLGĐ làm căn cứ để quyết định tiến hành một hoặc một số hoạt
động tố tụng hình sự.
+ Cần có KLGĐ để có chứng cứ nhằm củng cố, hỗ trợ cho các chứng cứ
khác phục vụ cho việc giải quyết xử lý vụ án.
1.1.2.2. Căn cứ vào tình huống và kết quả giám định: giám định lần đầu,
giám định bổ sung, giám định lại
Giám định lần đầu là việc tiến hành giám định lần đầu tiên đối với một vấn
đề nào đó của vụ án cần được làm rõ theo quyết định TCGĐ của CQTHTT.
Giám định bổ sung là giám định tiếp theo lần giám định trước nhằm bổ sung,
làm rõ thêm KLGĐ trước đó hoặc khi phát sinh những vấn đề mới liên quan đến các
tình tiết đã được kết luận trước đó. Ngoài ra, giám định bổ sung còn được trưng cầu
trong trường hợp khi ra quyết định TCGĐ lần trước đó, CQTHTT không đưa ra hết
những câu hỏi đối với giám định viên. Giám định bổ sung có thể do người tiến hành
giám định trước đó tiến hành hoặc do người giám định khác tiến hành.
Giám định lại là việc giám định được tiến hành theo yêu cầu của CQTHTT


hoặc trên nhiều đối tượng giám định có liên quan với nhau để cùng giải quyết một
yêu cầu giám định cụ thể.

12


1.1.2.5. Căn cứ vào lĩnh vực chuyên môn giám định
Giám định pháp y là việc sử dụng những kiến thức, phương pháp khoa học
kỹ thuật, nghiệp vụ để kết luận về phương diện y học những vấn đề có liên quan đến
sự kiện chết người, thương tích... theo văn bản trưng cầu của CQTHTT nhằm phục
vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử.
Giám định pháp y tâm thần: là một bộ phận của tâm thần học, phát triển cùng
với sự phát triển chung của ngành tâm thần học. Giám định pháp y tâm thần là việc
sử dụng kiến thức trong lĩnh vực y học tâm thần để xem xét những vấn đề có liên
quan đến cá nhân như vấn đề về sức khỏe tâm thần, xác định chính xác những đối
tượng bị nghi rối loạn tâm thần có bị bệnh tâm thần hay không, mức độ nặng nhẹ, từ
đó xác định năng lực trách nhiệm hành vi phạm pháp.
Mục đích của giám định pháp y tâm thần nhằm giám định tình trạng sức
khỏe- sức khỏe tâm thần của bị can, bị cáo, người bị hại, người làm chứng. Giám
định khả năng chịu trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự dựa trên 2 tiêu chuẩn:
+ Tiêu chuẩn y học: đó là vấn đề chuẩn đoán bệnh (họ bị bệnh gì? mức độ
nặng, nhẹ?)
+ Tiêu chuẩn pháp luật: xem xét khả năng nhận thức hành vi (có, hạn chế hay
mất khả năng nhận thức), xem xét khả năng kiềm chế hành vi. Nên đối tượng của
giám định pháp y tâm thần là trạng thái tâm thần và hồ sơ tài liệu của con người.
Giám định kỹ thuật hình sự: là việc sử dụng những kiến thức, phương pháp
khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên môn trong khoa học hình sự để xác định hoặc
truy nguyên các hiện tượng vật chất như con người, sự vật, hiện tượng… có liên
quan đến vụ án hình sự.
Hoạt động giám định trong lĩnh vực này thực hiện các nhiệm vụ truy nguyên

giao thông công chính có liên quan đến vụ án như việc giám định chất lượng công
trình cầu đường, giám định tính chất an toàn giao thông, giám định chất lượng
phương tiện giao thông, giám định chất lượng cây xanh trồng trên hè phố…
Giám định tài chính: việc người có chuyên môn về tài chính, kế toán sử
dụng những kiến thức, phương pháp khoa học kỹ thuật, nghiệp vụ chuyên
ngành và những quy định của pháp luật có liên quan để xem xét, đánh giá các
chứng từ, tài liệu liên quan đến hoạt động tài chính, kế toán của các cơ quan, tổ
chức, doanh nghiệp.

14


Giám định tài chính nhằm phục vụ cho việc xem xét, phân tích, đánh giá tính
đúng đắn của việc chấp hành pháp luật của Nhà nước về tài chính, kế toán. Trong trường
hợp không đúng pháp luật của Nhà nước thì có gây ra thiệt hại gì về kinh tế không? Thiệt
hại ở mức độ như thế nào? Trên cơ sở đó đưa ra những kết luận về chuyên môn theo yêu
cầu của CQTHTT, phục vụ đắc lực cho công tác điều tra, truy tố, xét xử các tội phạm
xâm phạm trật tự quản lý kinh tế và các tội phạm về chức vụ.
Định giá tài sản trong tố tụng hình sự: là việc xác định giá trị tài sản bị xâm
phạm bởi hành vi phạm tội. Trong BLHS có rất nhiều tội danh quy định yếu tố giá
trị tài sản bị xâm phạm (hư hỏng, hủy hoại, chiếm đoạt, chiếm giữ, sử dụng trái
phép, nâng khống giá trị,…) là một trong những dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội
phạm. Vì vậy, việc xác định giá trị tài sản bị xâm phạm có ý nghĩa quan trọng và
mang tính chất bắt buộc để xác định hành vi xâm phạm về tài sản có phải là tội
phạm hay không? Bên cạnh đó, việc định giá tài sản còn là căn cứ để xác định
khung hình phạt, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội khi
lượng hình và xác định mức bồi thường cho người bị thiệt hại.
Hiện nay, BLTTHS hiện hành chưa có quy định cụ thể về việc định giá tài sản.
Việc định giá tài sản trong tố tụng hình sự hiện nay được thực hiện chủ yếu theo quy
định tại Nghị định 26/2005/NĐ-CP ngày 02/3/2005 của Chính phủ. Nghị định này

Trong quá trình giải quyết vụ án, khi chưa xác định được dấu hiệu tội phạm thì
mọi việc tiến hành các hoạt động điều tra, áp dụng các biện pháp cưỡng chế, ngăn
chặn, đối với người bị nghi là thực hiện tội phạm đều có thể dẫn đến oan sai, vi phạm
quyền dân chủ của công dân, làm giảm lòng tin của nhân dân vào pháp luật. Vì vậy
việc xác định dấu hiệu tội phạm là một nhiệm vụ quan trọng của CQTHTT, đó là cơ sở
để cơ quan có thẩm quyền ra quyết định trong quá trình THTT. Theo điều 100
BLTTHS 2003 “chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm”.
Như vậy, dấu hiệu tội phạm chính là căn cứ để khởi tố vụ án hình sự.
Trong nhiều trường hợp việc xác định dấu hiệu tội phạm đòi hỏi phải có sự
đánh giá khách quan, khoa học từ những nhà chuyên môn có kiến thức nghiệp vụ và
kinh nghiệm. GĐTP là một trong những công cụ hữu hiệu được CQTHTT sử dụng
để hỗ trợ xác định có hay không có tội phạm.
KLGĐ sẽ chỉ ra nguyên nhân, nguồn gốc của sự việc, giải thích những hiện
tượng đã xảy trong thực tế như: KLGĐ về nguyên nhân chết người, nguyên nhân
cháy, thiệt hại tài sản của Nhà nước, tổ chức, cá nhân… Đây là cơ sở để CQTHTT

16


xác định vụ việc xảy ra có dấu hiệu tội phạm hay không, từ đó đưa ra những quyết
định tố tụng chính xác, khách quan nhằm bảo đảm quyền con người, quyền, lợi ích
hợp pháp của công dân.
Góp phần xác định người phạm tội: Trong hoạt động tố tụng hình sự, mục
đích cuối cùng là xác định có hay không có tội phạm và người phạm tội. Tuy nhiên
việc chứng minh tội phạm và xác định người phạm tội là một quá trình hết sức khó
khăn, đòi hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp trong đó có Trưng cầu giám định.
Thông qua việc giám định giúp các CQTHTT phát hiện dấu vết của tội phạm, hậu
quả, thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra… từ đó có căn cứ khách quan để xác định
chính xác người phạm tội.
Cũng không ít trường hợp, KLGĐ với sự chính xác và khách quan của nó đã

trước mà cũng có khi chúng được tận dụng tại hiện trường.
GĐTP là công cụ sắc bén giúp CQĐT xác định công cụ phạm tội là vật gì.
Đặc điểm, hình dáng, kích thước, chức năng, vật tìm được tại hiện trường có phải là
công cụ gây án hay không. Bởi mỗi loại công cụ, phương tiện phạm tội khác nhau
đều để lại dấu vết khác nhau trên vật tác động hoặc tại hiện trường.
Xác định công cụ, phương tiện phạm tội có ý nghĩa quan trọng trong việc
định tội, định khung hình phạt bởi một số tội phạm phương tiện phạm tội bắt buộc
phải được thực hiện bằng phương tiện nhất định như điều 289 BLHS quy định
phương tiện phạm tội là những giá trị vật chất. Tính chất của phương tiện phạm tội
trong một số trường hợp có thể làm thay đổi một cách đáng kể mức độ tính nguy
hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội ví dụ như hành vi cướp tài sản bằng cách
dùng vũ khí để đe dọa người bị tấn công, hoặc dùng chất cháy,chất nổ để hủy hoại
tài sản của người khác. Đây là những phương tiện mang tính hủy hoại hàng loạt,
nhanh chóng gây hậu quả nguy hại cho đối tượng bị tác động.
Phương pháp, thủ đoạn phạm tội là cách thức thực hiện hành vi phạm tội,
trong đó có cách thức sử dụng phương tiện. Tính chất của thủ đoạn phạm tội luôn là
yếu tố ảnh hưởng đến mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội vì vậy nó được coi là
tình tiết cần được xem xét khi định tội danh, định khung hình phạt, xác định tình tiết
tăng nặng giảm nhẹ TNHS.
Tóm lại, công cụ, phương tiện và phương thức, thủ đoạn phạm tội phản ánh
tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Do đó, công việc tìm ra chúng có ý nghĩa
rất lớn, giúp cơ quan bảo vệ pháp luật giải quyết vụ án một cách thấu tình đạt lý nhất.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status