I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN QUANG MINH
ĐổI MớI CƠ CấU Tổ CHứC CủA TòA áN,
Từ THựC TIễN TòA áN NHÂN DÂN THàNH PHố HảI DƯƠNG,
TỉNH HảI DƯƠNG
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2020
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
TRN QUANG MINH
ĐổI MớI CƠ CấU Tổ CHứC CủA TòA áN,
Từ THựC TIễN TòA áN NHÂN DÂN THàNH PHố HảI DƯƠNG,
TỉNH HảI DƯƠNG
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp v Lut Hnh chớnh
Mó s: 8380101.02
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: GS.TS NGUYN NG DUNG
H NI - 2020
pháp Việt Nam .................................................................................... 35
Tiểu kết chương 1................................................................................ 44
CHƯƠNG 2: CƠ CẤU VÀ TỔ CHỨC CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG .................................................................. 45
2.1. Thành phố Hải Dương- trung tâm địa - chính- kinh tế và văn hóa
tỉnh Hải Dương ................................................................................... 45
2.2. Thực trạng cơ cấu, tổ chức và hoạt động của Tòa án nhân dân
thành phố Hải Dương - cấp xét xử chính của Thành phố Hải Dương ...... 53
2.3. Giải pháp về cơ cấu tổ chức nhằm tăng cường hoạt động của
Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương ................................................. 73
Tiểu kết chương 2................................................................................ 76
KẾT LUẬN ............................................................................................. 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................... 79
PHỤ LỤC ............................................................................................... 82
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
BCHTW:
BMNN:
CCTP:
CNXH:
Đảng CSVN:
HĐND:
HĐTP:
HĐXX:
HTND:
HTQN:
NNPQ:
Nxb:
QLNN:
Nhà nước pháp quyền
Nhà xuất bản
Quyền lực nhà nước
Tòa án cấp cao
Tòa án nhân dân
Tòa án nhân dân cấp cao
Tòa án nhân dân tối cao
Tòa án quân sự
Tòa án quân sự khu vực
Tòa án quân sự quân khu
Trách nhiệm hình sự
Thẩm phán cao cấp
Thẩm phán sơ cấp
Thẩm phán trung cấp
Tố tụng hình sự
Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
Ủy ban nhân dân
Ủy ban Thường vụ Quốc hội
Văn bản pháp luật
Viện kiểm sát nhân dân
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
Xã hội chủ nghĩa
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 28 tháng 11 năm 2013, kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIII đã thông
qua bản Hiến pháp năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm
2014. “Đây là bản hiến pháp được sửa đổi, bổ sung cả về nội dung, bố cục và
kỹ thuật lập hiến. Với những điểm mới tiến bộ, Hiến pháp 2013 đã làm sáng tỏ
theo quy định của Luật Tổ chức TAND năm 2014 được Quốc hội thông qua
dựa trên tinh thần của Hiến pháp năm 2013, có nhiệm vụ, quyền hạn xét xử sơ
thẩm hầu hết các vụ, việc thuộc thẩm quyền của Tòa án và giải quyết các loại
việc khác theo quy định của pháp luật. Vì vậy, đổi mới một cách toàn diện về
tổ chức và hoạt động của TAND nói chung và TAND cập huyện với tư cách
là cấp xét xử đầu tiên (xét xử sơ thẩm) nói riêng theo hướng hợp lý, khoa học;
bảo đảm cho Tòa án thực hiện tốt chức năng xét xử, thực hiện quyền tư pháp;
bảo đảm không lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, bảo đảm quyền và
lợi ích hợp pháp của công dân..
Từ những lý do trên, học viên chọn đề tài “Đổi mới cơ cấu tổ chức của
Tòa án, từ thực tiễn Tòa án nhân dân Thành phố Hải Dương, tỉnh Hải
Dương” làm Luận văn thạc sĩ Luật học, chuyên ngành Luật Hiến pháp - Luật
hành chính.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cùng với việc khẳng định mục tiêu xây dựng NNPQ trong Hiến pháp
1992, ở Việt Nam đang tiến hành chủ trương cải cách tư pháp (CCTP) theo
Nghị quyết 08/NQ-TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về Một số nhiệm
vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới và Nghị quyết 49/NQTW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến
năm 2020. Điều đó cho thấy một khi đã quyết tâm xây dựng NNPQ thì
không thể không CCTP.
2
Nhận thức được tầm quan trọng của Tòa án cùng những đặc điểm biểu
hiện của Tòa án trong NNPQ là rất cần thiết xuất phát từ những yêu cầu của
công cuộc xây dựng NNPQ XHCN ở Việt Nam hiện nay. Có rất nhiều dự án,
sách chuyên khảo về lĩnh vực này trước và sau Hiến pháp năm 2013 được ban
hành, đó là:
- “Cải cách các cơ quan tư pháp, hoàn thiện hệ thống các thủ tục tư
để nâng cao hoạt động và hiệu quả của TAND Thành phố.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mục đích nghiên cứu nêu trên, luận văn có những nhiệm vụ chủ yếu sau:
Một là, phân tích tổng quát các vấn đề lý luận về ví trí, vai trò TAND
cấp sơ thẩm đầu tiên trên tinh thần các quy định của Hiến pháp mới năm 2013
và Luật Tổ chức TAND năm 2014;
Hai là, Khái quát điều kiện địa lý tự nhiên tình hình kinh tế, văn hóa xã
hội Tỉnh Hải Dương, lịch sử hình thành và phát triển của Thành phố; tình
hình, kết quả đổi mới cơ cấu và hoạt động của TAND Thành phố Hải Dương
giai đoạn 2014 - 2019;
Ba là, Đề xuất các giải pháp tăng cường hoạt động và hiệu quả của
TAND Thành phố Hải Dương.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn đổi mới
cơ cấu tổ chức của Tòa án, từ thực tiễn TAND Thành phố Hải Dương.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề xung quanh việc quy
định về cơ cấu tổ chức và hoạt động của TAND thành phố thuộc tỉnh.
- Sự áp dụng các quy định cụ thể của Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ
chức TAND năm 2014 vào cơ cấu tổ chức TAND Thành phố Hải Dương.
4
- Thời gian: từ năm 2014 đến năm 2020.
5. Phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng các phương pháp luận
chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản
6
Chương 1
HIẾN PHÁP NĂM 2013 VÀ NHU CẦU ĐỔI MỚI
CƠ CẤU TỔ CHỨC CỦA TÒA ÁN
1.1. Địa vị pháp lý mới của Tòa án nhân dân
Hiến pháp Cộng hòa XHCN Việt Nam được Quốc hội Khóa XIII Kỳ
họp thứ 6 thông qua ngày 28 tháng 11 năm 2013 và có hiệu lực thi hành từ
ngày 1 tháng 1 năm 2014. Là Luật cơ bản có vị trí pháp lý cao nhất, bằng cả
lời văn và tinh thần của nó, Hiến pháp năm 2013 có sứ mệnh tạo nền tảng
pháp lý mới và động lực mới cho sự vận hành toàn bộ đời sống xã hội và sinh
hoạt quốc gia trên nền tảng dân chủ, pháp quyền. Hiến pháp năm 2013 phản
ảnh nhu cầu bức xúc của sự phát triển mọi mặt của đất nước trên con đường
phát triển và hội nhập, bảo đảm phù hợp với các giá trị căn bản của thời đại.
Chương VIII về TAND, Viện kiểm sát Nhân dân (VKSND) trong Hiến
pháp năm 2013 có nhiều điểm mới, thể hiện nhận thức mới về quyền tư pháp.
Trước hết xét về hình thức: Chương về TAND, VKSND, Hiến pháp năm
1992 gồm 15 Điều; Hiến pháp năm 2013 chỉ có 8 điều với việc thể hiện logic,
chặt chẽ đi từ vị trí, vai trò, nguyên tắc tổ chức và hoạt động đến nhiệm vụ và
quyền hạn của mỗi cơ quan và chỉ quy định những vấn đề nền tảng thuộc tầm
hiến định; không quy định những vấn đề thuộc tầm luật định. Về nội dung,
Chương VIII TAND và VKSND có những điểm mới cơ bản sau đây:
Một là, TAND không những được quy định là cơ quan xét xử của nước
Cộng hòa XHCN Việt Nam như Hiến pháp năm 1992 mà còn khẳng định
thực hiện quyền tư pháp [13, Điều 102].
Quy định mới này, thống nhất với nguyên tắc tổ chức QLNN Việt Nam
ghi nhận ở Hiến pháp: “Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công,
phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các
và VKSND; hoàntoàn phù hợp với tư duy xây dựng NNPQ là đề cao quyền
con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp, coi con người là chủ thể
là nguồn lực chủ yếu và là mục đích của sự phát triển;
8
Ba là, Hiến pháp năm 2013 đã quy định những nguyên tắc, nền tảng về
tổ chức và hoạt động thực hiện quyền tư pháp của Tòa án. Các nguyên tắc này
được quy định trong một điều (Điều 103) gồm 7 khoản (7 nguyên tắc) với sự
thể hiện chính xác, súc tích với những tư duy mới.
Cụ thể, Khoản 1 quy định: Việc xét xử sơ thẩm của Tòa án nhân dân có
hội thẩm Nhân dân tham gia, trừ trường hợp xét xử theo thủ tục rút gọn.
Cũng nguyên tắc này Hiến pháp năm 1992 còn quy định thêm trong nội dung
của nguyên tắc này khi xét xử, Hội thẩm ngang quyền với thẩm phán. Đây là
quy định mở để tiếp tục cải cách chế định hội thẩm nhân dân (HTND), bảo
đảm cho HTND tham gia vào hoạt động xét xử một cách phù hợp, khắc phục
những hạn chế của chế định HTND hiện hành.
Khoản 5 quy định Nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo là
một nguyên tắc mới ra đời trong Hiến pháp nước ta, thể chế hóa quan điểm
của Đảng ta về cải cách tư pháp tăng cường tranh tụng trước phiên tòa.
Nguyên tắc này góp phần rất quan trọng để tòa án xét xử đúng người, đúng
tội, đúng pháp luật, hạn chế tình trạng oan sai, bảo đảm cho nền tư pháp Việt
Nam là một nền tư pháp dân chủ, công bằng và công lý.
Khoản 6 quy định Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được đảm bảo vừa
thể hiện xét xử hai cấp được đảm bảo, quyền con người, quyền công dân được
pháp luật bảo vệ và bảo đảm vừa đề cao trách nhiệm của Tòa án trong xét xử.
Quan điểm chủ đạo của Đảng và Nhà Việt Nam là sửa đổi, bổ sung
Hiến pháp nhằm tiếp tục phát huy nhân tố con người, thể chế hóa sâu sắc hơn
quan điểm về tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người như một định
hướng mục tiêu của NNPQ XHCN. Có thể nói rằng, sự khẳng định tôn trọng
Rights: UDHR [30, Điều 11, Khoản 1]; Công ước của Liên hợp quốc về các
quyền dân sự và chính trị năm 1966 - International Covenant on Civil and
Political Rights: ICCPR [27, Điều 14, Khoản 2]. Đặc biệt bản Tuyên ngôn
nêu trên đã coi nguyên tắc này là “phẩm giá của văn minh nhân loại”.
10
Suy đoán theo gốc Latinh “Praesumptino” có nghĩa là giả định thể hiện
ở yêu cầu: bị can, bị cáo phải được coi là vô tội khi mà lỗi của bị can, bị cáo
đó chưa được chứng minh theo một trình tự do pháp luật quy định và được
xác định bởi một bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Yêu cầu này
được Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định: “Người bị buộc tội được
coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có
bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [13, Điều 31, Khoản 1].
Đặt ra yêu cầu này, Hiến pháp đã tạo ra sự an toàn pháp lý cho công dân trong
cuộc sống và hoạt động của họ. Yêu cầu đặt ra trong nguyên tắc này hoàn
toàn phù hợp với Công ước của Liên hợp quốc về Quyền Dân sự và Chính trị
năm 1966. Theo đó, “Mọi người đều có quyền hưởng tự do và an ninh cá
nhân. Không ai bị bắt hoặc giam giữ vô cớ. Không một ai bị tước quyền tự do
trừ trường hợp có lý do và phải theo đúng thủ tục mà luật pháp đã quy định recognises the rights to liberty and security of the person. It prohibits arbitrary
arrest and detention, requires any deprivation of liberty to be according to
law, and obliges parties to allow those deprived of their liberty to challenge their
imprisonment through the courts” [27, Điều 9, Khoản 1] và: “Người bị cáo
buộc là phạm tội hình sự có quyền được coi là vô tội cho tới khi hành vi phạm
tội của người đó được chứng minh theo pháp luật - Everyone charged with a
criminal offence shall have the right to be presumed innocent until proved
guilty according to law” [27, Điều 14, Khoản 2]. Nội dung này là biểu hiện cụ
thể của nguyên tắc pháp chế nhưng nhấn mạnh yêu cầu về mặt thủ tục pháp
lý, là dấu hiệu quan trọng nhất của chế độ pháp quyền, theo đó thủ tục công
của pháp luật mà trung tâm là pháp luật TTHS. Cuộc CCTP ở Việt Nam đã
được phát động từ năm 2005 từ Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 2.6.2005 của
Bộ Chính trị Ban chấp hành trung ương (BCHTW) Đảng CSVN “Về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020” và đã gặt hái được những kết quả nhất
định về nhận thức và về tổ chức thực hiện. Tuy vậy, pháp luật TTHS, trải qua
12
những lần sửa đổi, bổ sung cần thiết, vẫn còn nhiều bất cập và hạn chế, trong
số đó có các vấn đề về những cơ sở pháp lý cho việc bảo vệ quyền và lợi ích
của người bị buộc tội. Từ những chủ trương đúng đắn của chính sách hình sự
và cải cách tư pháp hình sự cho đến thực tiễn TTHS vẫn còn một khoảng cách
lớn, trước hết là các vấn đề về chủ trương áp dụng rộng rãi việc tranh tụng tại
phiên hòa xét xử hình sự, chủ trương tạo đầy đủ các điều kiện cho bị can, bị
cáo thực hiện quyền bào chữa; bảo đảm tính dân chủ, công khai và giám sát
các hoạt động tố tụng, tăng cường trách nhiệm trong việc đó từ phía các cơ
quan tố tụng.
Vấn đề bảo đảm quyền con người trong TTHS có thể được coi là trục
xoay của toàn bộ các hoạt động TTHS. Sở dĩ như vậy là vì TTHS phản ánh
những mối liên hệ đa chiều và mang trong mình nó nhiều nghịch lý của các
mối liên hệ. TTHS của bất kỳ quốc gia và hệ thống pháp lý nào cũng đều phải
thực hiện cùng một lúc hai nhiệm vụ: vừa phải xác định cho được sự thật của
vụ án, bảo đảm để công lý được thực thi, nhưng lại vừa phải làm thế nào để
trên con đường đi tìm sự thật và công lý thì quyền của tất cả những ai có liên
quan đều phải được tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ.
Chính vì vậy, mặc dù không thể coi nhẹ việc bảo đảm quyền con người,
mà trước hết là danh dự nhân phẩm, tính mạng và tài sản của tất cả các bên và
những con người trong quá trình tiến hành TTHS, tâm điểm chú ý của pháp
luật quốc tế và pháp luật quốc gia, của CCTP vẫn là việc bảo đảm quyền con
minh” (Fair, Justice) vì thế là biểu tượng chung, bao trùm của một nền tư
pháp, là bản tính của nền tư pháp. Theo đó, công bằng được hiểu trên hai bình
diện: Ở bình diện thứ nhất đó là yêu cầu về sự công bằng của các thủ tục tố
tụng, của việc tiến hành các thủ tục tố tụng. (ii) Ở bình diện thứ hai, đó là yêu
cầu về sự đối xử công bằng, có vị trí pháp lý, có các cơ hội pháp lý công bằng
giữa các bên trong tố tụng.
Mục đích hoạt động của các cơ quan tố tụng hiện nay đều xuất phát từ
14
QLNN để “phát hiện”, “xử lý”, để “không để lọt tội phạm” và “không làm oan
người vô tội”; để bảo vệ chế độ XHCN, các lợi ích của Nhà nước, “trật tự pháp
luật”, “quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, của tổ chức”. Các mục đích
nêu trên được tiếp tục cụ thể hóa thông qua việc quy định trách nhiệm của các
cơ quan tiến hành tố tụng phải “xác định sự thật của vụ án một cách khách
quan, toàn diện và đầy đủ”, trong đó có trách nhiệm “làm rõ những chứng cứ
xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những
tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo” [16, Điều 10]. Như
vậy là, trách nhiệm đó chỉ thuộc về Nhà nước.
Những quy định của pháp luật TTHS Việt Nam hiện hành đang ở trạng
thái tạo ra sự chủ quan cho chủ thể đi tìm sự thật của vụ án hình sự. Mặc dù
pháp luật có xác định phải xử lý công minh, không làm oan người vô tội,
nhưng đứng ở vị thế độc quyền chân lý, sự chủ quan là không tránh khỏi.
Các mục đích được đặt ra cho TTHS mà thực chất là mục đích hoạt
động của các cơ quan tiến hành tố tụng nặng về bảo vệ lợi ích công và coi nhẹ
lợi ích của cá nhân những con người cụ thể trong vụ án hình sự. Bộ luật
TTHS chỉ nhắc đến mục đích “bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của công
dân” một cách chung chung mà không chỉ rõ là bảo vệ quyền và lợi ích của
những người ở vào vị thế bị động và yếu hơn so với bộ máy công quyền hiện
khuyến khích cả hai phía: người buộc tội và bị cáo tìm kiếm những hình thức
và khả năng khác nhau để giải quyết vụ án, việc xác định mục đích cần đạt
được của TTHS sẽ là điểm mấu chốt cho việc cải tổ hệ thống TTHS.
Nhằm mục đích tiếp thu những thành tựu tư pháp của nhân loại và cũng
đồng thời nhằm mục đích bảo vệ quyền của con người, Hiến pháp năm 2013
khẳng định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam thực hiện quyền tư pháp” [13, Điều 102, Khoản 1] và
“nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được bảo đảm” [13, Điều 103, Khoản 5].
Đây là hai quy định mới thể hiện quan điểm đổi mới của Đảng và nhà nước
16
Việt Nam đối với tổ chức và hoạt động tư pháp. Cần có nhận thức đầy đủ và
sâu sắc hơn các quy định này của Hiến pháp sửa đổi. Hiến pháp sửa đổi lần
này quy định Tòa án thực hiện quyền tư pháp có nghĩa là công bằng và công
lý của một quốc gia, trước hết và chủ yếu biểu hiện điển hình và tập trung
nhất ở việc thực hiện quyền tư pháp của Tòa án. Theo đó, bảo đảm tranh tụng
(Adversarial) trong xét xử là một nguyên tắc đặc biệt quan trọng để công bằng
và công lý của một quốc gia được thể hiện. Thực hiện quyền tư pháp và
nguyên tắc tranh tụng trong xét xử được đảm bảo có quan hệ chặt chẽ với
nhau như hình với bóng. Không thể thực hiện quyền tư pháp nếu thiếu tranh
tụng trong hoạt động xét xử và ngược lại chỉ có tranh tụng được đảm bảo thì
quyền tư pháp mới được thể hiện. Nếu thừa nhận mối quan hệ hữu cơ như vậy
thì phải có một sự đổi mới về tư duy và nhận thức; phải coi trọng tranh tụng;
tạo lập cho được môi trường thật sự dân chủ và bình đẳng tại phiên tòa. Hội
đồng xét xử (HĐXX) là những trọng tài chủ tọa cuộc tranh tụng để trên cơ sở
đó đưa ra phán quyết.
Thể chế hóa nguyên tắc hiến định “tranh tụng trong xét xử được đảm
bảo” trong Luật tổ chức TAND, Luật tổ chức VKSND, Luật TTHS, và các luật
tư pháp; có nhiệm vụ bảo vệ công lý, quyền con người, quyền công dân...; bảo
đảm nguyên tắc QLNN là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát
giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành
pháp, tư pháp; thể chế hóa những định hướng của Đảng về CCTP đồng thời
quy định cụ thể chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của TAND, trong đó có
nhiều nội dung mới, quan trọng.
Khi thực hiện nhiệm vụ xét xử vụ án hình sự, Tòa án có quyền:
- Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố
tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Luật sư trong quá trình điều tra, truy tố,
xét xử; xem xét việc áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn; đình
chỉ, tạm đình chỉ vụ án;
18
- Xem xét, kết luận về tính hợp pháp của các chứng cứ, tài liệu do Cơ
quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do Luật
sư, bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác cung cấp;
- Khi xét thấy cần thiết, trả hồ sơ yêu cầu Viện kiểm sát điều tra bổ
sung; yêu cầu Viện kiểm sát bổ sung tài liệu, chứng cứ hoặc Tòa án kiểm tra,
xác minh, thu thập, bổ sung chứng cứ theo quy định của Bộ luật TTHS;
- Yêu cầu Điều tra viên, Kiểm sát viên và những người khác trình bày
về các vấn đề có liên quan đến vụ án tại phiên tòa; khởi tố vụ án hình sự nếu
phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm;
- Ra quyết định để thực hiện các quyền hạn khác theo quy định của Bộ
luật TTHS.
Trong quá trình xét xử vụ án, Tòa án phát hiện và kiến nghị với các cơ
quan có thẩm quyền xem xét sửa đổi, bổ sung hoặc hủy bỏ văn bản pháp luật
trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của
Ủy ban thường vụ Quốc hội (UBTVQH) để bảo đảm quyền và lợi ích hợp
chống tội phạm, các vi phạm pháp luật khác.
2. Tòa án nhân danh nước Cộng hòa XHCN Việt Nam xét xử các
vụ án hình sự, dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương
mại, lao động, hành chính và giải quyết các việc khác theo quy định
của pháp luật; xem xét đầy đủ, khách quan, toàn diện các tài liệu,
chứng cứ đã được thu thập trong quá trình tố tụng; căn cứ vào kết
quả tranh tụng ra bản án, quyết định việc có tội hoặc không có tội,
áp dụng hoặc không áp dụng hình phạt, biện pháp tư pháp, quyết
định về quyền và nghĩa vụ về tài sản, quyền nhân thân.
Bản án, quyết định của TAND có hiệu lực pháp luật phải được cơ
quan, tổ chức, cá nhân tôn trọng; cơ quan, tổ chức, cá nhân hữu
quan phải nghiêm chỉnh chấp hành.
20