Kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong quá trình giải quyết vụ án hình sự - Pdf 25


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
***
NGUYỄN THỊ THANH TÚ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ
CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN TRONG QUÁ TRÌNH
GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ
Chuyên ngành : Luật hình sự
Mã số : 60 38 40 TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC



Có thể tìm hiểu luận văn tại thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội MỤC LỤC TRANG

Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục
07
1.1
Khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện
kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình
07
1.2
Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng
nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự
13
1.2.1
Đối tượng kháng nghị phúc thẩm
13
1.2.2
Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự
20
1.2.3
Căn cứ kháng nghị kháng nghị phúc thẩm hình sự
25
1.2.4
Bổ sung, thay đổi, rút kháng nghị phúc thẩm hình
sự
28
1.2.5
Thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm hình sự
31
1.2.6
Trình tự, thủ tục kháng nghị phúc thẩm hình sự
32
1.2.7

sót trong kháng nghị phúc thẩm hình sự của ngành
kiểm sát nhân dân
65

Kết luận chương 2
76
CHƯƠNG
3
NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KHÁNG NGHỊ
PHÚC THẨM HÌNH SỰ CỦA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TRONG GIẢI QUYẾT VỤ ÁN HÌNH SỰ
78
3.1
Giải pháp hoàn thiện pháp luật tố tụng hình sự về
kháng nghị phúc thẩm
78
3.2
Những giải pháp về công tác tổ chức cán bộ của
Viện kiểm sát nhân dân
89
3.2.1
Nâng cao trình độ năng lực và trách nhiệm nghề
nghiệp của Kiểm sát viên ngành kiểm sát
89
3.2.2
Tăng cường lãnh đạo, hướng dẫn, kiểm tra, giám sát
của lãnh đạo Viện kiểm sát cấp trên đối với các Viện
kiểm sát cấp dưới
94
3.2.3

hoạt động quan trọng nhằm thực hiện chức năng của ngành kiểm sát. Điều
19 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định: “Khi thực hành
quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân
có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm các
bản án, quyết định của Toà án nhân dân theo quy định của pháp luật…”.
Đặc biệt, kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng riêng của Viện
kiểm sát. Điều này được khẳng định trong Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
(Điều 206) và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 (Điều 232): “Viện kiểm sát
cùng cấp và Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản
án hoặc quyết định sơ thẩm”. Tuy nhiên, cũng cần nhận thức một cách đầy
đủ rằng đây vừa là quyền vừa là trách nhiệm của Viện kiểm sát nhân dân
nhằm đảm bảo cho các bản án, quyết định của Toà án cấp sơ thẩm được tuân
thủ đúng quy định của pháp luật hình sự, tố tụng hình sự.
Thực tiễn khẳng định, kháng nghị phúc thẩm hình sự chính là một
biện pháp, một công cụ sắc bén để kiểm tra lại tính hợp pháp của bản án
hoặc quyết định sơ thẩm. Thông qua việc xét xử phúc thẩm, Toà án cấp trên
sửa chữa những sai lầm trong việc áp dụng pháp luật của Toà án cấp sơ 2
thẩm; hướng dẫn Toà án cấp sơ thẩm khắc phục những thiếu sót trong việc
áp dụng pháp luật, đồng thời nâng cao trình độ nghiệp vụ cho các cán bộ toà
án cấp sơ thẩm. Vì thế, có thể nói kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện
kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự có vai trò, ý nghĩa đặc biệt quan
trọng nhằm đảm bảo cho việc xét xử sơ thẩm được đúng người, đúng tội,
đúng quy định của pháp luật.
Trong những năm vừa qua, thực tiễn hoạt động kháng nghị phúc thẩm
của Viện kiểm sát nhân dân đã có nhiều chuyển biến tích cực. Nhưng bên
cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại, chưa phát huy được hết các chức năng, vai trò
của mình. Vì thế, chất lượng của công tác này chưa cao, chưa đáp ứng được

02/01/2002 và Nghị quyết số 49 ngày 02/06/2005 của Bộ chính trị nhằm
“Xây dựng nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, dân chủ, nghiêm minh, bảo
vệ công lý, từng bước hiện đại, phục vụ nhân dân, phụng sự Tổ quốc Việt
Nam xã hội chủ nghĩa; hoạt động tư pháp mà trọng tâm là hoạt động xét xử
được tiến hành có hiệu quả và hiệu lực cao” [2, tr. 2]. Theo tinh thần đó,
hoạt động của ngành kiểm sát phải được nâng cao về mặt chất lượng cũng
như đổi mới về nhận thức, cách thức thực hiện nhằm tạo ra những chuyển
biến về chất cho hoạt động này.
Chính vì những lý do trên, việc nghiên cứu đề tài: “Kháng nghị phúc
thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong giải quyết vụ án hình sự”
là hết sức cần thiết cả về phương diện lý luận cũng như thực tiễn nhằm đáp
ứng được yêu cầu về chất lượng công tác kiểm sát hình sự và thực hành
quyền công tố của ngành kiểm sát trong giai đoạn hiện nay. Xuất phát từ lý
do đó, tác giả đã chọn đề tài trên làm luận văn Thạc sỹ Luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu.
Đã có một số công trình nghiên cứu, bài viết về những vấn đề liên
quan đến kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát nhân dân trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự. Cụ thể là các công trình như: Thủ tục xét
xử các vụ án hình sự: xét xử sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 4
của tác giả Đinh Văn Quế; Tội phạm học, luật hình sự và luật tố tụng hình sự
Việt Nam của tác giả Đào Trí Úc; Bình luận khoa học Bộ luật tố tụng hình
sự năm 2003 của tác giả Phạm Văn Lợi, Trần Đình Nhã, Nguyễn Tất Viễn
v.v. Hay các bài viết của các nhà luật học như: Khuất Văn Nga, Dương
Thanh Biểu, Trịnh Khắc Triệu, Võ Quang Nhạn, Đặng Quang Phương
.v.v…đăng trên Tạp chí kiểm sát, tạp chí Luật học. Một số giáo trình giảng
dạy ở các trường đại học chuyên ngành (Đại học Luật, Khoa luật Đại học
quốc gia Hà Nội, Học viện An ninh, Đại học cảnh sát…) cũng đề cập đến

hướng dẫn của các cơ quan tư pháp trung ương, quy chế nghiệp vụ của
ngành kiểm sát về hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự.
4. Mục đích và nhiệm vụ của đề tài.
Mục đích của luận văn là làm sáng tỏ những vấn đề về mặt lý luận và
những quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam về kháng nghị phúc thẩm
hình sự trong quá trình giải quyết vụ án hình sự của Viện kiểm sát nhân dân.
Thông qua việc phân tích tình hình kháng nghị phúc thẩm hình sự của ngành
kiểm sát nhân dân và cụ thể đi sâu phân tích tình hình kháng nghị của Viện
kiểm sát nhân dân hai cấp thuộc thành phố Hải Phòng trong những năm gần
đây (2002-2006), luận văn đánh giá đúng thực trạng công tác kháng nghị
phúc thẩm của Viện kiểm sát nhân dân. Trên cơ sở đó, luận văn đưa ra các
giải pháp, đề xuất có giá trị về mặt lý luận và thực tiễn để vận dụng có hiệu
quả vào hoạt động kháng nghị phúc thẩm hình sự, nhằm nâng cao chất lượng
hoạt động này trong thời gian tới. Đồng thời, đưa ra những kiến nghị nhằm
hoàn thiện pháp luật nước ta về vấn đề này.
Để đạt được các mục tiêu trên, đề tài có các nhiệm vụ sau:
Một là, làm rõ hơn một số vấn đề lý luận và thực tiễn về kháng nghị
phúc thẩm hình sự như: khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện
kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự; các quy định của pháp luật
tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát trong
quá trình giải quyết vụ án hình sự. 6
Hai là, đánh giá đúng thực trạng hoạt động kháng nghị phúc thẩm
hình sự của ngành kiểm sát nhân dân trong những năm gần đây để tìm ra
những thiếu sót, tồn tại và nguyên nhân của thực trạng trên, nhằm xác định
đúng bản chất của vấn đề. Từ đó, tác giả đưa ra các giải pháp cho phù hợp,
tiến tới hoàn thiện chế định này trong Bộ luật tố tụng hình sự.
5. Cơ sở khoa học của đề tài.

HÌNH SỰ VỀ KHÁNG NGHỊ PHÚC THẨM HÌNH SỰ

1.1. Khái niệm kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát
trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân năm 2002, kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền năng pháp
lý riêng có của Viện kiểm sát. Các chủ thể tiến hành tố tụng và những người
tham gia tố tụng khác đều không có quyền này. Kháng nghị phúc thẩm hình
sự là một trong những cơ sở đảm bảo đúng nguyên tắc “thực hiện chế độ hai
cấp xét xử” theo quy định của Điều 20 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một trong những căn cứ để mở ra
một trình tự tố tụng mới, trình tự xét xử phúc thẩm hình sự như quy định của
Điều 230 Bộ luật tố tụng hình sự: “xét xử phúc thẩm là việc Toà án cấp trên
trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết
định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc
kháng nghị”. Theo quy định trên, ngoài kháng nghị phúc thẩm thì kháng cáo
cũng là một căn cứ để mở ra trình tự xét xử phúc thẩm hình sự. Chỉ có thể
kháng nghị phúc thẩm và kháng cáo đối với bản án hoặc quyết định của Toà
án cấp sơ thẩm khi bản án hoặc quyết định đó chưa có hiệu lực pháp luật,
không đảm bảo tính hợp pháp và tính có căn cứ. Mặc dù, giữa kháng nghị
phúc thẩm của Viện kiểm sát và kháng cáo có nhiều điểm giống nhau nhưng
lại có sự khác nhau cơ bản là: kháng cáo chỉ là sự nhân danh cá nhân, tổ
chức, cơ quan (tổ chức, cơ quan với tư cách là nguyên đơn dân sự trong vụ 8
án hình sự) để bảo vệ quyền và lợi ích cho mình. Do vậy, những người có
quyền kháng cáo chỉ cần không đồng ý với bản án hoặc quyết định của Toà
án cấp sơ thẩm là đã có quyền kháng cáo. Còn kháng nghị phúc thẩm của
Viện kiểm sát là việc thực hiện chức năng nhiệm vụ theo luật định và chỉ

năm 1992 sửa đổi quy định: “Viện kiểm sát nhân dân tối cao thực hành
quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp, góp phần bảo đảm cho
pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Các Viện kiểm sát
nhân dân địa phương, các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền công tố và
kiểm sát các hoạt động tư pháp do luật định”. Ngay Điều 23 Bộ luật tố tụng
hình sự hiện hành cũng quy định: “Viện kiểm sát thực hành quyền công tố
trong tố tụng hình sự, quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước Toà
án. Viện kiểm sát kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự có
trách nhiệm phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành
tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, áp dụng những
biện pháp do Bộ luật này quy định để loại trừ việc vi phạm pháp luật của
những cơ quan hoặc cá nhân này. Viện kiểm sát thực hành quyền công tố và
kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo mọi
hành vi phạm tội đều phải được xử lý kịp thời; việc khởi tố, điều tra, truy tố,
xét xử, thi hành án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không để lọt tội
phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội”. Như vậy, có thể
khẳng định Viện kiểm sát có hai chức năng rất rõ ràng là kiểm sát việc tuân
theo pháp luật và thực hành quyền công tố Nhà nước. Điều này cũng được
khẳng định một lần nữa tại các Điều 12, Điều 18 Luật tổ chức Viện kiểm sát
nhân dân năm 2002. Trong suốt quá trình tố tụng, Viện kiểm sát thực hiện
đồng thời cả hai chức năng này.
Theo quan điểm của tiến sỹ Dương Thanh Biểu, Phó viện trưởng -
Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì: “Kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm là
một trong những hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nhằm thực hành
quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự” [30, tr 3]. Theo quan 10
điểm này, chức năng công tố của Viện kiểm sát chỉ có thể thực hiện ở giai
đoạn truy tố và giai đoạn xét xử vụ án hình sự. Do đó, khi Viện kiểm sát thực

sự mà còn thông qua hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật tại phiên
toà, qua nghiên cứu bản án, quyết định của Toà án gửi cho Viện kiểm sát. Vì
tại phiên tòa và sau phiên toà, Viện kiểm sát không chỉ thực hiện một chức
năng duy nhất là công tố mà còn thực hiện cả chức năng kiểm sát việc tuân
theo pháp luật của Toà án. Thực tiễn hoạt động kháng nghị phúc thẩm của
Viện kiểm sát cũng chứng minh điều đó. Có rất nhiều bản kháng nghị của
Viện kiểm sát được ban hành thông qua hoạt động kiểm sát bản án, quyết
định của Toà án.
Quan điểm của lãnh đạo và đa số cán bộ, Kiểm sát viên thành phố Hải
Phòng cho rằng: kháng nghị phúc thẩm hình sự của Viện kiểm sát vừa để
thực hiện chức năng thực hành quyền công tố, vừa thực hiện chức năng kiểm
sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử của Toà án. Đây là quan
điểm phổ biến hiện nay, phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật.
So với quan điểm thứ nhất và thứ hai, quan điểm thứ ba đã hiểu đúng bản
chất của cơ quan Viện kiểm sát. Viện kiểm sát không chỉ có một chức năng
kiểm sát mà còn có chức năng thực hành quyền công tố. Hai chức năng này
xuất hiện cùng một thời điểm, cùng tồn tại trong suốt các giai đoạn của tố
tụng hình sự. Chúng vừa có tính độc lập tương đối vừa có quan hệ gắn bó
hữu cơ mật thiết với nhau, được tiến hành song song với nhau trong suốt quá
trình tố tụng, có vai trò hỗ trợ, làm tiền đề cho nhau tạo nên tính thống nhất
trong chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát. Hai chức năng này
có một số nội dung đan xen lẫn nhau, vừa thuộc chức năng này vừa thuộc
chức năng kia và ngược lại. Mặc dù, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân
năm 2002 tại các Điều 13, 14, 15, 17, 18 quy định nội dung của hoạt động
thực hành quyền công tố và công tác kiểm sát điều tra, kiểm sát xét xử thành
những điều độc lập với nội dung và giới hạn khác nhau; hoặc có những hoạt
động không được xác định thuộc chức năng nào nên không thể quy định 12

13
Hiện nay, Bộ luật tố tụng hình sự hiện hành cũng như các văn bản
pháp lý chưa có một khái niệm thống nhất về kháng nghị phúc thẩm hình sự.
Theo tác giả Đinh Văn Quế thì “kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hình sự
là một văn bản do Viện kiểm sát ban hành yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét
xử lại vụ án mà Toà án cấp sơ thẩm cùng cấp hoặc cấp dưới trực tiếp đã xét
xử, nhưng xét thấy không đúng pháp luật” [28, tr. 235]. Nếu hiểu kháng nghị
phúc thẩm hình sự như trên chưa phản ánh đúng bản chất của kháng nghị
phúc thẩm là quyền năng pháp lý riêng của Viện kiểm sát và chưa thật đầy
đủ. Qua các quy định về kháng nghị của pháp luật hiện hành và phân tích ở
trên, theo tác giả có thể hiểu: Kháng nghị phúc thẩm hình sự là một quyền
năng pháp lý đặc thù của Viện kiểm sát nhân dân, do người có thẩm quyền
thực hiện thông qua một văn bản pháp lý nêu rõ lý do của việc kháng nghị và
yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử lại vụ án; hoặc xét lại bản án, quyết
định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của Toà án sơ thẩm, nhưng xét thấy
không đúng pháp luật nhằm khắc phục các vi phạm hoặc sai lầm trong các
bản án và quyết định đó.
1.2. Quy định của pháp luật tố tụng hình sự về kháng nghị phúc thẩm
hình sự của Viện kiểm sát trong quá trình giải quyết vụ án hình sự.
1.2.1. Đối tượng của kháng nghị phúc thẩm hình sự.
Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 tại Điều 230 quy định: “Xét xử phúc
thẩm là việc Toà án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét lại bản án,
quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo
hoặc kháng nghị”. Điều 232 quy định: “Viện kiểm sát cùng cấp hoặc Viện
kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị những bản án hoặc quyết
định sơ thẩm”. Qua nội dung hai điều luật trên cho thấy: đối tượng của
kháng nghị phúc thẩm hình sự là bản án sơ thẩm hoặc quyết định sơ thẩm
của vụ án đó nhưng chưa có hiệu lực pháp luật. “Bản án hoặc quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật là những bản án, quyết định sơ thẩm còn

15
phải là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm. Theo khoản 2 Điều 179 thì:
“Nếu kết quả điều tra bổ sung dẫn tới việc đình chỉ vụ án thì Viện kiểm sát ra
quyết định đình chỉ vụ án và thông báo cho Toà án biết. Trong trường hợp
không bổ sung được những vấn đề mà Toà án yêu cầu bổ sung và vẫn giữ
nguyên quyết định truy tố thì Toà án vẫn tiến hành xét xử vụ án”. Tuy nhiên
với các quyết định còn lại thì Bộ luật tố tụng hình sự không quy định rõ là
đối tượng của kháng nghị phúc thẩm hình sự hay không.
Bên cạnh đó, một số quyết định sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật
nhưng vẫn thuộc đối tượng của kháng nghị phúc thẩm như trường hợp tại
khoản 3 Điều 316 quy định: quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa
bệnh vẫn có hiệu lực thi hành mặc dù có khiếu nại hoặc kháng nghị, kháng
cáo. Trong trường hợp này, tính chất của xét xử phúc thẩm đã không còn
đúng như quy định tại Điều 230 nữa, đối tượng của xét xử phúc thẩm trong
trường hợp này lại là một quyết định đã có hiệu lực pháp luật, thay vì một
quyết định chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị.
Pháp luật tố tụng hiện hành không quy định rõ Viện kiểm sát được
kháng nghị đối với các quyết định nào của Toà án sơ thẩm. Hướng dẫn về
vấn đề này tại mục 3 phần I, hướng dẫn thi hành Điều 232 Bộ luật tố tụng
hình sự trong Nghị quyết số 05/2005/NQ - HĐTP ngày 08/12/2005 của Hội
đồng thẩm phán Toà án nhân dân tối cao, về việc hướng dẫn thi hành một số
quy định trong phần thứ tư “Xét xử phúc thẩm” của Bộ luật tố tụng hình sự
thì những quyết định sơ thẩm là đối tượng của kháng nghị phúc thẩm bao
gồm: quyết định tạm đình chỉ vụ án; quyết định đình chỉ vụ án; quyết định áp
dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh và các quyết định khác. Với đối tượng
của kháng nghị phúc thẩm là các quyết định khác, Nghị quyết không đề cập
cụ thể là những quyết định sơ thẩm nào mà chỉ hướng dẫn chung chung:
trường hợp kháng nghị đối với các quyết định khác, thì Toà án cấp sơ thẩm

luật không phải là đối tượng của xét xử phúc thẩm. Lệnh tạm giam cũng
không được Bộ luật tố tụng hình sự quy định thành một trường hợp đặc biệt, 17
tương tự như đối với quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh (Điều
311 Bộ luật tố tụng hình sự): “quyết định áp dụng biện pháp bắt buộc chữa
bệnh của Toà án vẫn có hiệu lực thi hành mặc dù có khiếu nại, kháng nghị,
kháng cáo” (khoản 3 Điều 316 Bộ luật tố tụng hình sự, qua đó để có thể trở
thành đối tượng của kháng nghị phúc thẩm. Hơn nữa, thực tế cho thấy, chỉ có
những trường hợp bị cáo hoặc người đại diện hợp pháp của bị cáo khiếu nại
hoặc Viện kiểm sát cùng cấp kiến nghị về việc xem xét tính có căn cứ và hợp
pháp trong lệnh tạm giam của Toà án cấp sơ thẩm. Trường hợp Viện kiểm
sát kháng nghị lệnh tạm giam của Toà án là rất hy hữu. Thứ hai, theo quy
định của Điều 230 thì chủ thể tiến hành xét xử phúc thẩm là Toà án cấp trên
trực tiếp xét lại quyết định sơ thẩm. Rõ ràng trong trường hợp này, Chánh án
Toà án nhân dân huyện Q không phải là chủ thể tiến hành xét xử phúc thẩm
đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Q mà phải thuộc về
Toà án cấp tỉnh, nơi huyện Q là một đơn vị lãnh thổ hành chính trực thuộc.
Chính vì quy định chưa rõ ràng của Bộ luật tố tụng hình sự và hướng
dẫn chung chung này đã làm nảy sinh nhiều quan điểm khác nhau về quyết
định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật là đối tượng của kháng nghị phúc
thẩm hình sự: Quan điểm thứ nhất cho rằng: Viện kiểm sát có quyền kháng
nghị với tất cả các quyết định của Toà án cấp sơ thẩm vì Bộ luật tố tụng hình
sự không giới hạn những quyết định nào là đối tượng của công tác kháng
nghị phúc thẩm hình sự. Quan điểm này đã coi các quyết định của Toà án
đều chưa có hiệu lực pháp luật ngay và đều là đối tượng kháng nghị của Viện
kiểm sát. Quan điểm này chưa hợp lý và phù hợp với quy định của pháp luật
tố tụng hiện hành, cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật vì một số quyết định
sơ thẩm được Bộ luật tố tụng quy định rõ ràng không phải là đối tượng của

Quan điểm thứ ba hiện nay có nhiều ý kiến đồng tình hơn cả và phù
hợp với thực tiễn áp dụng pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng. Viện
kiểm sát chỉ nên kháng nghị các quyết định của Toà án ở giai đoạn chuẩn bị
xét xử và những quyết định khác của Hội đồng xét xử khi chưa tuyên án, nếu 19
vụ án được phán quyết bằng một bản án thì đối tượng kháng nghị phúc thẩm
lúc này là bản án chứ không phải là một quyết định nữa.
Tuy nhiên, để xác định những quyết định nào là đối tượng của công
tác kháng nghị phúc thẩm thì cần phải nhìn nhận một cách toàn diện trên
nhiều góc độ khác nhau: một là, xuất phát từ mục đích, nhiệm vụ của công
tác kháng nghị phúc thẩm hình sự là để yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xét xử
lại vụ án, xét lại các quyết định có vi phạm, sai lầm làm ảnh hưởng trực tiếp
đến lợi ích của Nhà nước và xã hội; quyền và lợi ích chính đáng của bị cáo,
người có liên quan; ảnh hưởng đến sự công bằng, đúng đắn trong áp dụng
pháp luật. Mặt khác, kháng nghị phúc thẩm sẽ mở ra một trình tự tố tụng mới
làm kéo dài quá trình giải quyết vụ án, đòi hỏi về thời gian cũng như chi phí,
công sức…Vì vậy, việc kháng nghị phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ
thẩm chưa có hiệu lực pháp luật không thể là sự tràn lan, tuỳ tiện mà cần có
trọng tâm, trọng điểm. Do vậy, Viện kiểm sát chỉ nên tập trung vào kháng
nghị các quyết định có tính chất quan trọng của Toà án thể hiện quan điểm,
đường lối xử lý bị can, bị cáo và những quyết định này nếu có vi phạm, sai
lầm mà nếu được kháng nghị thì sẽ không khắc phục được như: quyết định
khởi tố vụ án (Điều 104); quyết định đình chỉ vụ án, quyết định tạm đình chỉ
vụ án (Điều 176); quyết định thay đổi, áp dụng, huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn
(Điều 177)…Những quyết định này chủ yếu được ban hành trong giai đoạn
chuẩn bị xét xử sơ thẩm và ở phần thủ tục của phiên toà sơ thẩm. Nếu vụ án
đã được xét xử thì lúc này đối tượng kháng nghị không phải là những quyết
định nữa mà phải là bản án.

quan tiến hành tố tụng đang có sự bất cập so với các quy định của Bộ luật tố
tụng hình sự. Do vậy, để hoạt động kháng nghị phúc thẩm đạt được kết quả
như mục đích và ý nghĩa của công tác này, cần quy định một cách cụ thể
trong Bộ luật tố tụng hình sự những quyết định nào của Toà án sơ thẩm là
đối tượng của kháng nghị phúc thẩm.
1.2.2. Thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình sự. 21
Bộ luật tố tụng hình sự quy định thời hạn kháng nghị phúc thẩm hình
sự đối với bản án và quyết định sơ thẩm là khác nhau.
Thời hạn kháng nghị đối với bản án sơ thẩm: khoản 1 Điều 234 Bộ
luật tố tụng hình sự quy định: “Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng
cấp là mười lăm ngày, của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp là ba mươi ngày,
kể từ ngày tuyên án”. So với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988
thời hạn này không có gì thay đổi. Trong thời hạn mười lăm ngày hoặc ba
mươi ngày ngay sau khi kết thúc phiên toà sơ thẩm, Kiểm sát viên đã tham
gia phiên toà sơ thẩm xem xét có cần phải kháng nghị bản án sơ thẩm hay
không. Nếu có căn cứ kháng nghị thì Kiểm sát viên đề xuất với lãnh đạo viện
ngay mà không cần phải chờ đến khi nhận được bản án chính thức của Toà
án gửi sang cho Viện kiểm sát. Ví dụ, sau khi kết thúc phiên toà, Kiểm sát
viên thấy Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng án treo không có căn cứ
theo Điều 60 Bộ luật hình sự, thì Kiểm sát viên báo cáo đề xuất với lãnh đạo
Viện kiểm sát xem xét quyết định việc kháng nghị ngay mà không cần chờ
nhận được bản án chính thức do Toà án gửi đến. Tuy nhiên, trong thực tế
những trường hợp kháng nghị này rất ít, hầu hết là kháng nghị khi đã có bản
án chính thức được gửi sang Viện kiểm sát.
Cách tính thời điểm bắt đầu và thời điểm kết thúc của thời hạn kháng
nghị, Bộ luật tố tụng hình sự chưa có quy định cụ thể. Về vấn đề này, được
hướng dẫn cụ thể tại điểm a, tiểu mục 4.1, mục 4, Nghị quyết số 05 ngày


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status