(Luận văn thạc sĩ) phát huy lợi thế so sánh trong quá trình phát triển kinh tế ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho việt nam - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
---------

TRẦN THỊ LAN HƯƠNG

PHÁT HUY LỢI THẾ SO SÁNH TRONG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở MỘT SỐ
NƯỚC ASEAN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO
VIỆT NAM

Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị

HÀ NỘI - 2005


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA KINH TẾ
------------

TRẦN THỊ LAN HƯƠNG

PHÁT HUY LỢI THẾ SO SÁNH TRONG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ Ở MỘT SỐ
NƯỚC ASEAN VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO
VIỆT NAM

Chuyên ngành: Kinh tế Chính trị
Mã số: 5.02.01

Luận văn thạc sỹ kinh tế chính trị

1.1.3 Lí thuyết cầu tương hỗ của Stuart Mill

12

1.1.4 Một số lí thuyết truyền thống khác

13

1.2

Vai trò của việc khai thác lợi thế so sánh ở các nước đang phát

19

triển
1.2.1 Tầm quan trọng của việc phát huy lợi thế so sánh đối với phát triển

19

kinh tế ở các nước đang phát triển
1.2.2 Bối cảnh quốc tế hiện nay,những quan niệm bổ sung về lợi thế so

24

sánh
CHƯƠNG 2: LỢI THẾ SO SÁNH TRONG QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ

34

Ở CÁC NƯỚC ASEAN-5

2.2.2 Chính sách lựa chọn sản phẩm xuất khẩu

575

2.2.3 Chính sách đào tạo nhân lực

60


2.2.4 Chính sách phát triển khoa học cơng nghệ

63

2.2.5 Điều chỉnh chính sách phát huy lợi thế so sánh ở ASEAN-5 sau

69

khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997
2.3

Tác động của việc tận dụng lợi thế so sánh ở các nước ASEAN-5

76

2.3.1 Tác động đối với tăng trưởng kinh tế

76

2.3.2 Tác động đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế


3.1.2 Phát huy lợi thế so sánh trong quá trình đổi mới kinh tế ở Việt Nam

90
97

3.1.3 Thách thức hiện nay trong việc phát huy lợi thế so sánh ở Việt Nam

101

Vận dụng bài học kinh nghiệm từ phát huy lợi thế so sánh của các

108

nước ASEAN-5
3.2.1 Kinh nghiệm về cơng nghiệp hố bền vững để phát huy tốt nhất

108

3.2

những lợi thế so sánh
3.2.2 Kinh nghiệm xuất phát từ chính năng lực nội sinh

110

3.2.3 Kinh nghiệm từ sự thay đổi lợi thế so sánh trong từng giai đoạn
KẾT LUẬN

113
116


GNP

Tổng sản phẩm quốc dân

HDI

Chỉ số phát triển con người

RCA
PPP

Lợi thế so sánh biểu hiện
Phương pháp đồng giá sức mua

TFP

Năng suất lao động tổng nhân tố

WB

Ngân hàng thế giới

WTO

Tổ chức thương mại thế giới


1



2

để nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế và giải quyết các vấn đề xã hội
khác.
Sự khác biệt trong tận dụng lợi thế so sánh ở các nước và mức độ thành
công của mỗi nước trong phát huy lợi thế so sánh là những bài học kinh nghiệm
vô cùng quý giá cho các nước đi sau, trong đó có Việt Nam. Thực hiện mở cửa
và cải cách kể từ sau Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), Việt Nam đang tiến hành
cơng nghiệp hố rút ngắn. Để thực hiện cơng nghiệp hố "rút ngắn", việc tận
dụng và phát huy những lợi thế so sánh đồng thời với tích luỹ và tạo dựng những
lợi thế so sánh mới là rất cần thiết. Nghiên cứu những thành công và hạn chế
trong việc phát huy những lợi thế so sánh ở các nước ASEAN-5 sẽ rất hữu ích để
rút ra những kinh nghiệm và bài học cho Việt Nam. Xuất phát từ những thực tế
trên và với kiến thức đã được học, đề tài "Phát huy lợi thế so sánh trong q
trình cơng nghiệp hố ở một số nước ASEAN và bài học kinh nghiệm cho Việt
Nam" sẽ mang tính cấp thiết đối với q trình cơng nghiệp hố tiếp theo của Việt
Nam.
2. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, có rất nhiều học giả Việt Nam và nước ngoài nghiên cứu về
các đề tài có liên quan đến luận văn dưới nhiều góc độ khác nhau. Có thể phân
thành hai nhóm cơng trình nghiên cứu: a) của các học giả Việt Nam ; và b) của
các học giả nước ngoài.
Trong nhóm cơng trình thứ nhất, phải kể đến tác phẩm “ Cơng nghiệp hố
Việt Nam trong thời đại Châu Á - Thái Bình Dương” của tác giả Trần Văn Thọ
(Nhà xuất bảnthành phố Hồ Chí Minh, năm 1997); “Vài khía cạnh kinh tế Việt
Nam suy nghĩ từ kinh nghiệm của các nền kinh tế mới cơng nghiệp hố” của tác
giả Nguyễn Anh Tuấn (Nhà xuất bản khoa học xã hội, năm 1996); “Cơng nghiệp
hố, hiện đại hố: phát huy lợi thế so sánh. Kinh nghiệp của các nền kinh tế đang
phát triển ở Châu Á” của tác giả Đỗ Đức Định (chủ biên; Nhà xuất bản chính trị

phía Việt Nam” của tác giả Nguyễn Duy Quý (Tạp chí Nghiên cứu trao đổi, số
4/1999); “Hội nhập quốc tế: cơ hội và thách thức đối với nền kinh tế nước ta”
của tác giả Lê Đăng Doanh (Tạp chí Cộng Sản số 5/1999);…. Nội dung các bài
báo trên chủ yếu phân tích vai trị của cơng nghiệp hố hướng về xuất khẩu, phân
loại lợi thế so sánh động, lợi thế so sánh tĩnh, những kết quả tận dụng lợi thế so
sánh, hướng đi cho Việt Nam trong thời kỳ đổi mới để phát huy lợi thế so
sánh….
Trong các cơng trình nghiên cứu thuộc nhóm thứ hai, trước hết phải kể đến
những bài viết của các tác giả như Matthias Busse “Do Labour Standard Affect


4

Comparative Advantage in Developing Countries” (2002); Mc Kinsey and
Company “ASEAN Competitiveness Study: Preliminery Final Report” (2003);
"Competitive versus Comparative Advantge" của tác giả J. Peter Neary (The
Developing Economy; World Bank 2003). Những bài viết này đã phần nào đề
cập những nguồn lực cơ bản của lợi thế so sánh ở các nước đang phát triển và
các nước ASEAN, những lợi thế so sánh mới, sự khác nhau giữa lợi thế so sánh
và lợi thế cạnh tranh, việc tận dụng lợi thế so sánh động và tĩnh ở một số nước.
Bên cạnh đó, những ấn phẩm của Ngân hàng Thế giới (WB); Liên Hợp Quốc
(UN)...đã cung cấp những số liệu cập nhật về các chỉ số cơ bản của lợi thế so
sánh và cơng nghiệp hố của các nước ASEAN.
Tình hình nghiên cứu từ trước đến nay cho thấy chủ yếu các cơng trình
nghiên cứu đều đi vào phân tích vai trị của thương mại quốc tế đối với các nước,
hoặc một vài khía cạnh cụ thể nào đó của lợi thế so sánh như khai thác nguồn tài
nguyên, nguồn nhân lực, vị trí địa lý, sự màu mỡ của đất đai. Đặc biệt, chưa có
một cơng trình nghiên cứu nào mang tính chất bao qt tồn diện những khía
cạnh, những vấn đề của lợi thế so sánh, những kết quả phát huy lợi thế so sánh
của các nước ASEAN, những nguyên nhân dẫn đến kết quả đó, cũng như những

cơ bản của việc phát huy lợi thế so sánh đối vơí các nước ASEAN-5 như: tác
động đến tăng trưởng GDP, giải quyết công ăn việc làm, chuyển dịch cơ cấu
kinh tế, nâng cao thu nhập, mở rộng quy mô kinh tế, nâng cao tính cạnh tranh
của nền kinh tế....
Phạm vi nghiên cứu là 5 nước ASEAN gồm Singapo, Malaixia, Thái Lan,
Philippin, Inđônêxia.
Về không gian, luận văn tập trung nghiên cứu việc phát huy lợi thế so sánh
của các nước ASEAN-5 kể từ năm 1970, khi các nước này bắt đầu chiến lược
công nghiệp hoá hướng về xuất khẩu. Đối với Việt Nam, thời gian nghiên cứu để
áp dụng kinh nghiệm phát huy lợi thế so sánh của các nước ASEAN-5 sẽ được
tính từ năm 1986, khi Việt Nam thực hiện chính sách "Đổi mới" kinh tế.
4. Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn, ngoài các phương pháp cơ bản được sử dụng trong việc
nghiên cứu các khoa học xã hội, tác giả còn sử dụng các phương pháp thống kê,
tổng hợp, phân tích kinh tế nhằm tìm ra những căn cứ, số liệu minh hoạ cho các
luận điểm, đồng thời góp phần dự đốn cho giai đoạn tiếp theo. Bên cạnh đó, tác
giả còn sử dụng phương pháp phân kỳ, nghiên cứu so sánh nhằm tìm ra những


6

nét đặc thù của các giai đoạn khác nhau. Đồng thời, hàng loạt các bảng biểu,
hình vẽ, đồ thị sẽ được sử dụng để minh hoạ thêm cho vấn đề nghiên cứu.
5. Những đóng góp mới của luận văn
Tác giả hy vọng luận văn sẽ có những đóng góp cơ bản sau:
Thứ nhất, tóm tắt, đánh giá các lý thuyết chủ yếu về lợi thế so sánh, mối
quan hệ giữa việc tận dụng lợi thế so sánh và phát triển kinh tế, chỉ ra những
nhân tố mới của lợi thế so sánh.
Thứ hai, phân tích mối quan hệ giữa chính sách phát huy lợi thế so sánh và
kết quả tận dụng lợi thế so sánh của ASEAN-5 trong thời gian qua để đánh giá

phát triển cơng nghiệp, cịn nước có đất đai phì nhiêu thì tập trung vào sản xuất
nơng sản. Thơng qua chun mơn hố, sản lượng của hai nước sẽ tăng lên, và
thơng qua trao đổi thương mại thì cả hai nước cùng có lợi.
Quan điểm về lợi thế so sánh tuyệt đối chưa phản ánh đầy đủ sự khác biệt
giữa các nước trong trao đổi thương mại, tuy nhiên quan điểm này đã mở đầu
cho những lý thuyết khác nhau về lợi thế so sánh. Trên thực tế, ngoài sự khác
biệt về tài nguyên thiên nhiên, địa lý, đất đai, các nước cịn có sự khác nhau về
năng suất lao động, dung lượng thị trường, các nguồn lực về con người,
vốn…Các nhà kinh tế chính trị học sau Adam Smith đã giải thích sự khác biệt
giữa các nước theo các tiêu chí bổ sung như trên. Điển hình là lý thuyết của
David Ricardo, Heckscher – Ohlin, Stuart Mill… Chúng được coi là những lý
thuyết truyền thống để phân tích những nhân tố cơ bản của lợi thế so sánh và lợi
ích thương mại của việc khai thác và phát huy các lợi thế so sánh.
1.1.1. Lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo
Ra đời vào thế kỷ 19, lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo được coi là mơ
hình đơn giản nhất giải thích về các nhân tố cơ bản của lợi thế so sánh và lợi ích
thu được từ trao đổi thương mại. Giả thiết của mô hình này gồm:


8
- Thế giới chỉ có hai quốc gia (Chẳng hạn là Trung Quốc và Việt Nam) và
chỉ sản xuất hai mặt hàng (giấy và vải). Mỗi quốc gia có lợi thế về một mặt hàng.
- Lao động (L) là yếu tố sản xuất duy nhất có thể di chuyển trong mỗi nước,
nhưng không di chuyển giữa các nước.
- Công nghệ sản xuất ở hai nước là cố định.
- Chi phí sản xuất (K) cố định, khơng có chi phí vận tải.
- Thương mại hoàn toàn tự do giữa hai nước.
Căn cứ vào giả thiết trên, so với Việt Nam, Trung Quốc sẽ có lợi thế tương
đối trong sản xuất giấy và Việt Nam có lợi thế tương đối trong sản xuất vải nếu
như:

Lvải Trung Quốc/Lvải Việt Nam bằng 15/20. Do 10/40 < 15/20, nên Trung Quốc


9
được đánh giá là có lợi thế so sánh tương đối trong sản xuất giấy và Việt Nam có
lợi thế tương đối trong sản xuất vải. Việt Nam sẽ chuyên mơn hố sản xuất vải
và đem đổi vải lấy giấy củaTrung Quốc, bởi vì nếu khơng có sự trao đổi này,
Việt Nam sẽ phải chi phí 40 giờ lao động thay vì 20 giờ lao động. Cịn với Trung
Quốc, mặc dù có lợi thế tuyệt đối cả hai mặt hàng nhưng vẫn chuyển lao động
sang sản xuất giấy để thu lợi nhiều hơn.
Lý thuyết lợi thế so sánh tương đối của Ricardo vì vậy cịn có tên gọi là lý
thuyết lợi thế chi phí tương đối. Lý thuyết này đặt ra vấn đề là một sản phẩm có
thể được sản xuất ở trong nước nhưng cũng có thể được nhập khẩu hoặc xuất
khẩu. Nguyên tắc của lợi thế so sánh theo quan điểm của Ricardo là: một nước sẽ
chuyên môn hoá vào việc sản xuất và xuất khẩu các sản phẩm mà họ làm ra với
chi phí tương đối thấp hơn các nước khác, và nhập khẩu hàng hoá mà họ sản
xuất tương đối kém hiệu quả với chi phí tương đối cao hơn. Việc chun mơn
hố dựa trên cơ sở lợi thế so sánh sẽ giúp các nước có điều kiện trao đổi hàng
hoá với nhau và cả hai cùng có lợi.
Thơng qua mơ hình Ricardo, chúng ta hiểu được rằng tại sao thương mại
quốc tế lại xuất hiện và nó có tác động như thế nào đến lợi ích của các nước. Tuy
nhiên, nếu so sánh với thực tiễn thương mại quốc tế hiện nay, mơ hình này còn
nhiều hạn chế bởi: Thứ nhất, trên thực tế việc chun mơn hố sản xuất hồn
tồn mà mơ hình địi hỏi không thể xảy ra; Thứ hai, giả định về lao động không
thể di chuyển tự do giữa các nước là phán đốn khơng đúng với thực tế ngày
nay; Thứ ba, Ricardo đã bỏ qua vai trò lợi thế so sánh nhờ quy mô và mới chỉ để
cập tới nhân tố cung hàng hoá, mà chưa chú ý tới nhân tố cầu hàng hoá. Các nhà
kinh tế học đi sau đã khắc phục dần những hạn chế này của Ricardo.
1.1.2. Lý thuyết lợi thế so sánh của Heckscher – Ohlin
Những phân tích của Ricardo về lợi thế so sánh đã được hai nhà kinh tế học

USD và tiền lương là (w) được tính bằng USD/giờ, Trung Quốc sẽ là nước dồi
dào vốn hơn và Việt Nam dồi dào lao động hơn, nếu:
(r/w) ở Trung Quốc < (r/w) ở Việt Nam
Điều này có nghĩa là Trung Quốc (nơi có vốn tương đối rẻ, hay cịn gọi là
lãi suất tương đối thấp) sẽ có lợi thế so sánh trong sản xuất các hàng hoá sử dụng


11
nhiều vốn (chẳng hạn như giấy) và Việt Nam(nơi có vốn đắt hơn và khan hiếm
hơn) sẽ có lợi thế trong sản xuất các hàng hoá sử dụng nhiều lao động (như dệt
vải). Do vậy, khi quan hệ buôn bán với nhau, Trung Quốc sẽ xuất khẩu giấy và
Việt Nam sẽ xuất khẩu vải.
Theo Heckscher – Ohlin, ở cả Trung Quốc và Việt Nam, lao động và vốn
được sử dụng để sản xuất ra các mặt hàng. Tiền lương được trả cho công nhân và
lãi suất được trả cho việc sử dụng vốn. Như vậy, chi phí sản xuất vải và giấy ở
mỗi nước hoàn toàn được xác định với các mức lương và lãi suất không đổi.
Điều này sẽ làm tăng chi phí ở cả hai ngành sản xuất, nhưng mức độ bị ảnh
hưởng lại khác nhau. Do ngành vải địi hỏi nhiều lao động nên chi phí sẽ tăng
cao hơn so với mức tăng của chi phí ngành giấy. Như vậy, một sự gia tăng về
tiền lương so với lãi suất sẽ làm tăng chi phí sản xuất của mặt hàng đòi hỏi nhiều
lao động (vải) so với mặt hàng đòi hỏi nhiều vốn (giấy). Do các yếu tố sản xuất
được giả định là không di chuyển được giữa hai nước và lao động của Việt Nam
không cạnh tranh với lao động của Trung Quốc nên tiền lương và lãi suất ở Việt
Nam và Trung Quốc sẽ không ngang bằng nhau. Do có sự khác biệt giữa các yếu
tố sản xuất nên tiềm năng sản xuất của Việt Nam và Trung Quốc cũng khác
nhau. Nếu Việt Nam có sự dồi dào tương đối về lao động (phản ánh ở tỷ lệ tiền
lương/lãi suất thấp hơn), Việt Nam sẽ có lợi thế tương đối hơn trong các hàng
hố sử dụng nhiều lao động so với Trung Quốc (có tỷ lệ tiền lương/lãi suất cao
hơn).
Dựa trên nguyên tắc trên, Heckscher – Ohlin đưa ra một định lý như sau:

rằng một nước nếu mà sản phẩm của mình có nhu cầu, được ưa chuộng ở nước
ngồi, thì nước đó thu được nhiều lợi nhuận nhất trong trao đổi hàng hoá. Chẳng
hạn, nếu sản phẩm giấy của Trung Quốc được dân chúng Việt Nam ưa chuộng,
thì giá trị của nó sẽ tăng. Nhờ đó, Trung Quốc có thể mua được nhiều hàng dệt
may ở Việt Nam hơn và ngược lại.
Để trình bày quan điểm của Stuart Mill, có thể đưa ra một ví dụ sau đây:
Với mức tiền lương như nhau, công nhân ở Trung Quốc và Việt Nam sản xuất
như sau:
Việt Nam

Trung Quốc

Vải (mét/1 giờ công)

5

10

Giấy (tấn/1 giờ công)

100

300


13
Việt Nam sẽ có lợi khi xuất khẩu vải sang Trung Quốc. Với 5 mét vải, Việt
Nam mua được từ 100 đến 150 tấn giấy của Trung Quốc. Nếu bằng hoặc lớn
hơn 150 tấn thì Trung Quốc sẽ từ chối khơng trao đổi giấy lấy vải của Việt Nam
bởi vì như vậy họ sẽ tự sản xuất vải ở trong nước. 5 mét vải và số lượng từ 100

hố làm ra khơng chỉ bởi lao động mà còn bao gồm cả các yếu tố sản xuất khác
như đất đai, vốn, kỹ thuật. Việc so sánh hàm lượng lao động của các mặt hàng
khác nhau sẽ đưa ra những nhận định sai lệch về giá trị tương đối, bởi vì việc sản
xuất những mặt hàng đó địi hỏi tỷ trọng khác nhau về các yếu tố sản xuất. Theo
Haberler thì chi phí cơ hội của một hàng hoá là số lượng các hàng hoá khác
phải cắt giảm để nhường lại đủ các nguồn tài nguyên để sản xuất thêm một đơn
vị hàng hoá thứ nhất. Như vậy, nước nào có chi phí cơ hội thấp trong việc sản
xuất một loại hàng hố nào đó thì họ có lợi thế tương đối (lợi thế so sánh) trong
việc sản xuất hàng hố đó và khơng có lợi thế tương đối trong việc sản xuất
hàng hoá thứ hai.
Để chứng minh cho luận điểm này, Haberler giả định khi khơng có thương
mại quốc tế, Trung Quốc phải bỏ đi 2/3 số đơn vị vải của mình để giành lại đủ
các nguồn tài nguyên cho việc sản xuất thêm một đơn vị sản phẩm giấy. Như thế
chi phí cơ hội về giấy của Trung Quốc là 1 giấy = 2/3 đơn vị vải. Cịn ngược lại
chi phí cơ hội về giấy ở Việt Nam là 1 giấy = 2 vải. Như vậy, Trung Quốc có lợi
thế tương đối trong việc sản xuất giấy cịn Việt Nam có lợi thế tương đối trong
việc sản xuất vải. Theo quy luật lợi thế tương đối, Trung Quốc sẽ chun mơn
hố sản xuất giấy, cịn Việt Nam sẽ chun mơn hố sản xuất vải. Theo
Haberler, chi phí cơ hội 1 giấy = 2 vải ở Việt Nam và 1 giấy = 2/3 vải ở Trung
quốc luôn là một hằng số. Tuy nhiên, trên thực tế, chi phí cơ hội rất ít khi là một
hằng số. Hầu hết các quốc gia đều ở trong tình trạng chi phí cơ hội tăng dần.
Bên cạnh lý thuyết lợi thế so sánh của Heckscher – Ohlin, nhà kinh tế học
Paul Samuelson phát triển rộng lý thuyết này tạo nên một lý thuyết chung là lý
thuyết Heckscher – Ohlin – Samuelson, viết tắt là H-O-S, hay còn gọi là lý
thuyết cân bằng giá cả yếu tố. Theo quan điểm của Hẹckscher – Ohlin về sự
cung ứng các yếu tố tài ngun trong sản xuất hàng hố, trong đó nước có nhiều


15
tài nguyên thiên nhiên và lao động sẽ tập trung vào sản xuất và xuất khẩu các sản

16
một cách tính về lợi thế so sánh biểu hiện (RCA), mà sau này nó được coi là
phương pháp tính lợi thế so sánh tương đối phổ biến nhất bởi nó đánh giá hoạt
động thương mại quốc tế qua sự tham gia của nhiều quốc gia và nhiều loại hàng
hoá. Chỉ số RCA phản ánh hoạt động xuất khẩu của một loại hàng hoá cụ thể của
một nước cụ thể so với hoạt động xuất khẩu chung của thương mại thế giới,
trong bối cảnh có sự khác nhau về các nhân tố phi giá cả. RCA được tính bằng
cơng thức như sau:
A

RCAAi

?
?i

A

?
?i

= ( EAi

/EA

A

?
?

W

giới
Theo cơng thức trên, nếu RCA lớn hơn 1, thì xuất khẩu hàng hoá cụ thể của
một nước lớn hơn tỷ lệ trung bình của thế giới. Vì vậy, sản xuất hàng hố của
nước này được coi là có lợi thế so sánh so với thế giới. Mặt khác, nếu giá trị của
RCA nhỏ hơn 1, có nghĩa là xuất khẩu hàng hố của nước đó thấp hơn tỷ lệ trung
bình của thế giới và nước đó khơng có lợi thế so sánh trong sản xuất hàng hoá
này so với các nước khác. RCA càng lớn, lợi thế so sánh của hàng hoá của nước
đó càng cao.
Tóm lại, các lý thuyết lợi thế so sánh truyền thống như đã phân tích cho
thấy, các nhà kinh tế học đã có những cách tiếp cận khác nhau để lý giải các
nhân tố cơ bản của lợi thế so sánh, tác động của việc khai thác lợi thế so sánh đối
với sự phát triển kinh tế của một nước. Các lý thuyết này có thể áp dụng cho cho
đổi hàng hoá đối với nhiều nước trên nguyên tắc mỗi nước sẽ tập trung vào sản


17
xuất và xuất khẩu các mặt hàng có chi phí thấp một cách tương đối so với các
nước khác và nhập khẩu các mặt hàng có chi phí cao một cách tương đối - sau
khi tất cả các chi phí liên quan được cân nhắc, tính tốn.
Lý thuyết của Ricardo được nước Anh áp dụng triệt để nhất và lâu dài nhất.
Từ năm 1846, Anh đã mở cửa hoàn toàn đối với nhập khẩu lương thực và
nguyên liệu sản xuất với mức thuế quan bằng 0. Anh chủ động và đơn phương
làm như vậy cũng nhằm thuyết phục các nước như Đức, Pháp chuyển sang chế
độ tự do thương mại. Anh đã áp dụng chính sách tự do thương mại từ cuối thế kỷ
XVIII đến trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất nhằm chinh phục thị trường
quốc tế. Nhờ chính sách này, nước Anh đã giữ được vị trí số một trong thương
mại và đầu tư quốc tế trong hai thế kỷ và bằng chính sách này cũng tạo điều kiện
cho sự cất cánh về kinh tế của Pháp, Mỹ, Đức.
Ngày nay, đặc biệt là từ sau chiến tranh lạnh, những nguyên tắc của các lý
thuyết lợi thế so sánh truyền thống đã được áp dụng rộng rãi trên thế giơí và có

xuất của các nước. Điều đó hàm ý rằng mỗi nước sẽ sản xuất nhiều hơn những
mặt hàng mà nó có lợi thế so sánh, trong khi vẫn sản xuất những mặt hàng khác,
nhưng với số lượng hạn chế hơn. Nhu cầu của cá nhân cũng luôn thay đổi, không
giống như sự cố định như cầu cá nhân trong mơ hình Ricardo, do nó được xác
định từ sở thích tiêu dùng của các cá nhân và bị giới hạn bởi khả năng thu nhập
của họ.
Bên cạnh đó, các lý thuyết lợi thế so sánh truyền thống mới chỉ giải thích
được những nguyên nhân dẫn đến sự xuất hiện của dòng thương mại quốc tế, mà
chưa lý giải được tại sao mức cầu tương đối của từng nước và của thế giới lại
thay đổi theo từng thời kỳ. Hầu hết các lý thuyết lợi thế so sánh đều dựa trên giả
thuyết thương mại được thực hiện trong điều kiện tự do. Nhưng trên thực tế, thuế
quan nhập khẩu và trợ cấp xuất khẩu đã có tác động khơng nhỏ đến cung cầu
hàng hố thế giới. Mỗi nước đều có thể được lợi hoặc bị thiệt hại từ thương mại
quốc tế tuỳ thuộc vào xu hướng tăng trưởng kinh tế, vào việc áp dụng thuế quan
nhập khẩu hay trợ cấp xuất khẩu.
Các lý thuyết thương mại quốc tế truyền thống cũng khơng giải thích rõ nét
được những lợi thế so sánh nhờ quy mô thị trường. Trên thực tế, một nước, một
cơng ty có thể được coi là sản xuất hiệu quả nếu lợi nhuận thu được của nó tăng
dần theo quy mơ. Do hiệu quả của các ngành, các công ty khác nhau, nên mỗi


19
nước có thể tập trung sản xuất một số lượng hạn chế các mặt hàng hoá nhưng với
sản lượng lớn hơn. Việc sản xuất hàng hố này có thể dựa vào sự khác biệt của
hàng hoá về giá cả, chất lượng, cơng nghệ. Quy mơ thị trường trong nước có hạn
làm nảy sinh nhu cầu trao đổi và thông qua đó, hàng hố trên thị trường mỗi
nước đa dạng hơn và nhiều hơn. Nhờ lợi thế về quy mô, giá cả hàng hoá sẽ giảm
và do vậy sẽ tăng nhanh được lợi ích từ thương mại.
1.2. Vai trị của việc khai thác lợi thế so sánh ở các nước đang phát
triển

Quốc), nước có tài nguyên thiên nhiêu phong phú sẽ tập trung phát triển nông
nghiệp và cơng nghiệp khai khống (như Thái Lan, Malaixia), nhưng nhìn chung
các nước đều có những chính sách thương mại và cơng nghiệp hố hiệu quả để
khai thác những lợi thế sẵn có và hướng ra xuất khẩu, thu ngoại tệ từ xuất khẩu
và nguồn vốn nước ngoài để phát triển kinh tế.
Kể từ khi bắt đầu chiến lược thương mại hướng ngoại từ thập kỷ 60 cho đến
cuối thập kỷ 90, hoạt động xuất nhập khẩu của các nước đang phát triển ngày
càng được mở rộng. Tỷ lệ hàng hoá xuất khẩu trên GDP năm 1998 của các nước
đang phát triển theo đánh giá của UNDP (2000) là 31,7%, nhập khẩu trên GDP

30,2%, trong đó Đơng Á đạt tỷ lệ tương ứng là 65,5% và 55,3%, Đông Nam Á

Thái Bình Dương đạt 77,9% và 66,2%, Mỹ latinh đạt 16,6% và 19,6%, Châu Phi
cận Sahara đạt 28,4% và 30,7%. Trên thực tế, các nước thuộc khu vực Đông và
Đông Nam Á đã đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn và nâng cao được
vị thế của nền kinh tế nhờ vào chiến lược mở rộng cửa đối với bên ngoài. Nếu
xét về biến số này, những quốc đảo điển hình như Đài Loan, Hồng Kơng,
Singapo và một số nước ASEAN đạt được những thành tích đáng kể nhất (bảng
1.1).
Bảng 1.1. Vai trị của xuất khẩu hàng hố đối với tăng trưởng kinh tế
và xố đói giảm nghèo ở một số nước đang phát triển (%)
Khu vực/nước

Thương mại
Tăng trưởng trung

Tăng trưởng
Tăng trưởng trung

Nghèo đói


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status