I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
BI NGC KHUYN
BảO ĐảM QUYềN CủA Bị ĐƠN
TRONG GIảI QUYếT Vụ áN DÂN Sự, Từ THựC TIễN
TòA áN NHÂN DÂN TỉNH HảI DƯƠNG
LUN VN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2020
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
BI NGC KHUYN
BảO ĐảM QUYềN CủA Bị ĐƠN
TRONG GIảI QUYếT Vụ áN DÂN Sự, Từ THựC TIễN
TòA áN NHÂN DÂN TỉNH HảI DƯƠNG
Chuyờn ngnh: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8380101.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS PHẠM HỒNG THÁI
HÀ NỘI - 2020
thực hiện nghiên cứu một đề tài có tính chun sâu nên khơng thể tránh khỏi
những thiếu sót. Tơi rất mong được sự góp ý của các Thày, cơ và các bạn để
luận văn được hồn chỉnh hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Bùi Ngọc Khuyến
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
MỞ ĐẦU................................................................................................... 1
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN
CỦA BỊ ĐƠN TRONG QUÁ TRÌNH GIẢI QUYẾT VỤ ÁN
DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN................................................................ 7
1.1.
Quyền của bị đơn trong quá trình giải quyết vụ án dân sự .......... 7
1.2.
Khái niệm, đặc điểm, vai trò đảm bảo quyền của bị đơn
trong quá trình xét xử vụ án dân sự ........................................... 10
1.2.1. Khái niệm đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ
án dân sự ...................................................................................... 10
2.1.
Khái qt về Tịa án tỉnh Hải Dương (cơ cấu tổ chức, số
lượng thẩm phán, thư ký tịa ... năng lực, trình độ chun
mơn, kỹ năng nghề nghiệp, trình độ lý luận chính trị ................. 44
2.2.
Tình hình thụ lý các loại vụ án dân sự (bao gồm án Dân sự,
án Hôn nhân và gia đình, án Kinh doanh thương mại, án
Lao động) tại Tịa án tỉnh Hải Dương ......................................... 45
2.3.
Đảm bảo quyền của bị đơn của Tòa án....................................... 47
2.3.1. Thực tiễn Tòa án thực hiện các quy định của pháp luật về bảo
đảm quyền của bị đơn trong giải quyết vụ án dân sự....................... 47
2.3.2. Thực tiễn bảo đảm quyền của bị đơn trong thực hiện quyền và
nghĩa vụ của mình trong giải quyết vụ án dân sự ............................ 48
2.3.3. Một số sai sót trong bản án, quyết định trong giải quyết vụ án
dân sự theo thủ tục sơ thẩm ........................................................... 50
2.4.
Đảm bảo quyền của bị đơn của Viện kiểm sát ............................ 53
Tiểu kết Chương 2 .................................................................................. 58
CHƯƠNG 3: CÁC GIẢI PHÁP ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA BỊ ĐƠN
TRONG QUÁ TRÌNH XÉT XỬ VỤ ÁN DÂN SỰ ..................... 59
3.1.
ĐHQGHN:
Đại học Quốc gia Hà Nội
GCNQSDĐ:
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
QSDĐ:
Quyền sử dụng đất
TAND:
Tòa án nhân dân
TTDS:
Tố tụng dân sự
UBND:
Ủy ban nhân dân
VADS:
Vụ án dân sự
VKSND:
bởi chủ thể quan hệ pháp luật dân sự khác.
Bị đơn là người bị kiện có những quyền và nghĩa vụ như đương sự
khác, đồng thời có những quyền đặc thù. Để đảm bảo quyền của bị đơn đòi
hỏi những điều kiện pháp lý được thể hiện tại các quy định của pháp luật và
1
thực tiễn hoạt động của các cơ quan tiến hành tố tụng. Trong đó, đảm bảo
quyền của bị đơn của tòa án là phương thức quan trọng, cơ bản nhất, thông
qua hoạt động giải quyết các vụ án dân sự, tòa án thực hiện nghĩa vụ bảo vệ,
đảm bảo quyền của đương sự được thực hiện trên thực tế.
Do tính chất phức tạp của các vụ án dân sự, bị đơn trong vụ án dân sự
có thể là cá nhân, tổ chức, cơ quan. Cá nhân có thể là người nước ngồi,
người khơng có quốc tịch, cơng dân, người có đầy đủ năng lực hành vi pháp
lý dân sự, người có khơng đầy đủ, người thuộc dân tộc ít người, thuộc hộ
nghèo, hay các đối tượng chính sách, địi hỏi các cơ quan nhà nước phải tạo
mọi điều kiện, tiền đề để đảm bảo các quyền của bị đơn.
Hoạt động tố tụng dân sự có liên quan rất chặt chẽ tới quyền công dân,
là một trong những phương thức đảm bảo quyền công dân trong xã hội.
Nhưng thực tiễn hiện nay trong quá trình xét xử vụ án dân sự của Tịa án tỉnh
Hải Dương cịn nhiều bất cập, đó là có những vụ án dân sự bị sửa, hủy, xét xử
qua nhiều cấp xét xử, tình trạng thi hành án dân sự chưa thực sự hiệu quả... đã
ảnh hưởng lớn tới niềm tin và kỳ vọng của người dân về công lý và sự nghiêm
minh của pháp luật.
Xuất phát từ những vấn đề trên học viên chọn đề tài “Đảm bảo quyền
của bị đơn trong giải quyết vụ án dân sự, từ thực tiễn Tòa án nhân dân tỉnh
Hải Dương” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến chủ đề luận văn
Đảm bảo quyền công dân là một trong những chủ đề được nhiều nhà
người”, theo tác giả cơ chế bảo vệ được Tòa án áp dụng đối với mọi lĩnh vực
của đời sống xã hội được thực hiện thông qua con đường tố tụng, là một cơ
chế pháp lý, cơ chế hoạt động của hệ thống Tòa án.
Đề tài khoa học cấp ĐHQGHN (2014) “Tư tưởng nhân quyền ở Việt
Nam” chủ nhiệm đề tài GS.TS. Phạm Hồng Thái, đề tài tập trung luận giải
3
những vấn đề lý luận “tư tưởng về nhân quyền, sự hình thành phát triển tư
tưởng nhân quyền ở Việt Nam trong lịch sử và hiện tại. Đặc biệt đã phân tích
các quan điểm tư tưởng về quyền con người trong các văn kiện của Đảng, các
quy định của Hiến pháp năm 2013 về quyền con người, quyền công dân, trách
nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc đảm bảo, bảo vệ quyền con
người, quyền cơng dân.
Sách “Bình luận Hiến pháp năm 2013” của Khoa Luật ĐHQGHN năm
2015 tại chương 2 tập trung bình luận các quy định của pháp luật về quyền
con người, quyền công dân, chương 10 về Tịa án nhân dân, trong đó nhấn
mạnh vai trị, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trong bảo vệ công lý, quyền
con người, quyền công dân.
Như vậy, tuy đã có nhiều cơng trình nghiên cứu, nhưng chưa có cơng
trình trực tiếp nghiên cứu đảm bảo quyền bị đơn trong quá trình giải quyết vụ
án dân sự, từ thực tiễn tại Tịa án nhân dân tỉnh Hải Dương. Nhưng những
cơng trình nêu trên là tài liệu tham khảo cho tác giả trong quá trình thực hiện
luận văn, đặc biệt là những vấn đề lý luận về đảm bảo quyền con người,
quyền cơng dân.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lý luận đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình
xét xử vụ án dân sự, đánh giá thực trạng đảm bảo quyền của bị đơn trong quá
5. Những điểm mới của Luận văn
Luận văn có một số đóng góp mới sau đây:
Luận văn góp phần làm phong phú thêm những vấn đề lý luận về đảm
bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự.
5
Đánh giá được thực tiễn đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét
xử vụ án dân sự ở Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Luận văn đã đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục đảm bảo quyền của
bị đơn trong xét xử vụ án dân sự.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của Luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn: Với kết quả của luận văn, tác giả luận
văn hy vọng rằng những vấn đề lý luận nêu trong luận văn về đảm bảo quyền
của bị đơn trong xét xử vụ án dân sự góp thêm vào nhận thức lý luận cho
khoa học Luật Hiến pháp về đảm bảo quyền con người, quyền công dân của
bị đơn. Luận văn là tài liệu tham khảo phục vụ cho giảng dạy, nghiên cứu,
cho những người công tác tại Tòa án nhân dân.
7. Bố cục của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về đảm bảo quyền của bị đơn trong
quá trình giải quyết vụ án dân sự.
Chương 2: Thực trạng đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình giải
quyết vụ án dân sự từ thực tiễn tại Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
Chương 3: Giải pháp tăng cường đảm bảo quyền của bị đơn trong q
trình giải quyết vụ án dân sự tại Tịa án nhân dân tỉnh Hải Dương.
6
tụng dân sự một mặt ghi nhận các quyền và nghĩa vụ của các đương sự,
đồng thời tạo mọi điều kiện, tiền đề để các đương sự thực hiện các quyền,
nghĩa vụ của họ.
Trong tố tụng dân sự, các đương sự có quyền và nghĩa vụ như nhau,
gồm các quyền: Yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài
liệu, chứng cứ cung cấp tài liệu, chứng cứ đó cho mình để giao nộp cho tịa
án; đề nghị tòa án xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ của vụ việc mà tự
mình khơng thể thực hiện được; đề nghị tòa án yêu cầu đương sự khác xuất
trình tài liệu, chứng cứ mà họ đang giữ; đề nghị tòa án ra quyết định yêu cầu
cơ quan, tổ chức, cá nhân đang lưu giữ, quản lý tài liệu, chứng cứ cung cấp tài
liệu, chứng cứ đó; đề nghị tòa án triệu tập người làm chứng, trưng cầu giám
định, quyết định việc định giá tài sản. Được biết, ghi chép, sao chụp tài liệu,
chứng cứ do đương sự khác xuất trình hoặc do tịa án thu thập, trừ tài liệu,
chứng cứ quy định tại khoản 2 Điều 109 của Bộ luật TTDS. Trường hợp vì lý
do chính đáng không thể sao chụp, gửi đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ thì họ
có quyền u cầu Tịa án hỗ trợ. Đề nghị tòa án quyết định áp dụng, thay đổi,
hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tự thỏa thuận với nhau về việc giải
quyết vụ án; tham gia hịa giải do tịa án tiến hành. Nhận thơng báo hợp lệ để
thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình. Tự bảo vệ hoặc nhờ người khác bảo vệ
quyền và lợi ích hợp pháp cho mình. Yêu cầu thay đổi người tiến hành tố
tụng, người tham gia tố tụng theo quy định của Bộ luật này. Tham gia phiên
tòa, phiên họp theo quy định của Bộ luật này. Đề nghị tòa án đưa người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tham gia tố tụng. Đề nghị tịa án tạm đình chỉ
giải quyết vụ việc theo quy định của Bộ luật này. Đưa ra câu hỏi với người
khác về vấn đề liên quan đến vụ án hoặc đề xuất với tòa án những vấn đề cần
hỏi người khác; được đối chất với nhau hoặc với người làm chứng. Tranh
luận tại phiên tòa, đưa ra lập luận về đánh giá chứng cứ và pháp luật áp dụng.
8
9
quyết vụ án dân sự của tòa án là một tập hợp các quyền, là khả năng của bị
đơn tham gia quan hệ tố tụng dân sự được pháp luật ghi nhận và đảm bảo
thực hiện để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình.
1.2. Khái niệm, đặc điểm, vai trị đảm bảo quyền của bị đơn trong
q trình xét xử vụ án dân sự
1.2.1. Khái niệm đảm bảo quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ
án dân sự
Khái niệm “đảm bảo”, theo Từ điển Hành chính, là trách nhiệm của
một chủ thể (cá nhân, tổ chức) phải làm cho quyền, lợi ích của chủ thể bên kia
chắc chắn được thực hiện, được giữ gìn, nếu xảy ra thiệt hại thì phải bồi
thường. Đảm bảo được tiến hành bằng những biện pháp đảm bảo nghĩa vụ
dân sự như cầm cố tài sản, thế chấp tài sản, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, phạt vi
phạm [2, tr.30]. “Đảm bảo” tiếng Anh là “assure”, tiếng Pháp là “assurer” là
tạo điều kiện để con người thực hiện được (giữ gìn được) những gì cần thiết.
Thuật ngữ “đảm bảo” khác với “bảo vệ”, “bảo hộ” như “bảo vệ” thường đề
cập đến việc ngăn chặn, phịng ngừa, xử lý khi có vi phạm, cịn “bảo hộ” là
việc che chở, khơng để con người bị tổn thất bất cứ cái gì. Theo quan điểm
của GS.TS. Phạm Hồng Thái, đảm bảo các quyền của công dân là việc tạo ra
các tiền đề, điều kiện về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý và tổ chức để cá
nhân, công dân, các tổ chức thực hiện được các quyền tự do, lợi ích chính
đáng của họ đã được pháp luật ghi nhận [13, tr.75]. PGS.TS. Đinh Văn Mậu
cho rằng, đảm bảo các quyền, tự do cá nhân công dân là tạo ra một môi
trường mà mỗi cá nhân nhận thấy là thực sự được an tồn, được Nhà nước
bảo vệ tài sản, danh dự, tính mạng và quyền, tự do cá nhân [3, tr.81]. Luận
văn sử dụng thuật ngữ “đảm bảo” khi đề cập đến “đảm bảo quyền của đương
sự”, bị đơn nhằm hướng đến nghiên cứu các nội dung, điều kiện để đương sự,
11
Trong quan hệ tố tụng hành chính, các đương sự bị khiếu kiện là cơ quan, tổ
chức, người có thẩm quyền ra quyết định hành chính, hay thực hiện hành vi
hành chính ln có những “ưu thế” so với đương sự - người bị kiện. Người
khởi kiện và người bị kiện vốn có mối quan hệ trực thuộc về tổ chức, hoặc
chức năng, do đó người khởi kiện ln là “yếu thế” so với người bị kiện, còn
trong quan hệ dân sự, người khởi kiện và người bị kiện bình đẳng, khơng
bên nào có ưu thế so với bên khác trong quan hệ dân sự và quan hệ tố tụng
dân sự. Vì vậy đảm bảo quyền của bị đơn trong giải quyết các vụ án dân sự
có một số đặc điểm sau:
Một là, đảm bảo quyền của bị đơn trong trong quá trình xét xử vụ án
dân sự là đảm bảo quyền của đương sự bằng phương thức xét xử dân sự.
Đảm bảo quyền của bị đơn bằng phương thức xét xử của tịa án có thể
hiểu là phương thức đảm bảo quyền và nghĩa vụ của đương sự thông qua
thẩm quyền và trách nhiệm của tòa án trong quá trình giải quyết vụ án dân sự.
So với các hoạt động tố tụng khác (tố tụng hình sự, tố tụng hành chính) thì
đảm bảo quyền của cơng dân bằng phương thức này có những điểm nổi bật
như: Tịa án như là “trọng tài” để phân xử dựa trên ý chí của các chủ thể trong
qua hệ tố tụng dân sự, trừ trường hợp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
nhà nước, cơ quan, tổ chức công quyền.
Hai là, hoạt động tố tụng của tòa án là hoạt động xem xét tính hợp pháp
của các tranh chấp trong quan hệ tài sản, hay quan hệ nhân thân có hoặc
khơng liên quan với quan hệ tài sản. Để bảo vệ, đảm bảo quyền của các
đương sự trong hoạt động này, tịa án có thể tiến hành các hoạt động khác
nhau để thu thập, xác minh các chứng cứ trong trường hợp mà các bên không
thể, hay cung cấp không đầy đủ, các tình tiết trong vụ án, trên cơ sở đối chiếu
với quy định của pháp luật hiện hành để đưa ra những phán quyết đúng pháp
luật, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng.
13
pháp quyền XHCN ở Việt Nam, đó là Nhà nước của Nhân dân, do Nhân dân,
vì Nhân dân [5, Điều 2]. Theo đó, trong Nhà nước pháp quyền, các quy định
của Hiến pháp là nền tảng cho toàn bộ hệ thống luật pháp bởi những điều luật
này sẽ được cụ thể hóa thành các Bộ luật, Luật để điều chỉnh các quan hệ xã
hội, mọi chủ thể trong xã hội đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Đồng
thời, trong Nhà nước pháp quyền có sự bình đẳng giữa mọi người (nhà nước,
tập thể và cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật), không phân biệt đối xử
trong việc công nhận, thụ hưởng và phát triển các quyền con người, quyền
của công dân. Điều này cho thấy, Nhà nước pháp quyền phải xác lập được cơ
chế bảo vệ, đảm bảo thực hiện các quyền của công dân cho người dân khi
tham gia vào các quan hệ xã hội và khi có tranh chấp; đặc biệt khi phát sinh
tranh chấp giữa công dân với công dân, giữa công dân với tổ chức, ngược lại
trong quan hệ dân sự, chỉ có tịa án mới có thẩm quyền phán xét việc tn thủ
pháp luật của các bên và hệ thống tòa án độc lập sẽ là đảm bảo cuối cùng cho
công dân có đủ khả năng và điều kiện đảm bảo quyền của cơng dân của mình
khi bị xâm hại.
Do vậy, việc Nhà nước tạo các điều kiện pháp lý nhằm đảm bảo quyền
của đương sự nói chung, của bị đơn nói riêng trong tố tụng dân sự sẽ góp
phần đảm bảo quyền con người, quyền công trên mọi lĩnh vực của đời sống
nhà nước và xã hội.
Hai là, đảm bảo quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự góp phần thực
hiện trách nhiệm của Nhà nước trước công dân.
Trong nhà nước pháp quyền, nhà nước ln có trách nhiệm trước cơng
dân. Theo đó, Nhà nước là chủ thể có trách nhiệm bảo vệ công lý, bảo vệ,
đảm bảo quyền con người, đảm bảo thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân
thông qua việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm bảo các quyền con người,
của mình trước cơng dân.
15
Ba là, đảm bảo quyền của đương sự (người khởi kiện và người bị
kiện) trong quá trình xét xử vụ án dân sự góp phần đảm bảo sự cơng bằng
trong xét xử. Cơng bằng trong xét xử u cầu địi hỏi việc phán xét đúng
pháp luật, đúng tình tiết của vụ việc, thẩm phán, hội thẩm độc lập, chỉ tuân
theo pháp luật.
Bốn là, đảm bảo quyền của bị đơn trong tố tụng dân sự góp phần bảo
vệ cơng lý, bảo vệ quyền con người, quyền công dân trong hoạt động tư pháp.
Hoạt động giải quyết các vụ án dân sự được thực hiện theo đúng quy
định của pháp luật, đặc biệt tại phiên tòa xét xử vụ án dân sự nếu được tiến
hành một cách nghiêm minh, khách quan sẽ tạo ra một cơ chế tư pháp công
bằng, các quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự được bảo vệ.
1.3. Nội dung và phương thức đảm bảo quyền của bị đơn trong quá
trình xét xử vụ án dân sự của Tòa án
1.3.1. Nội dung đảm bảo quyền của bị đơn
Quyền của bị đơn trong quá trình xét xử vụ án dân sự là những quyền
trong suốt quá trình tố tụng, bao gồm:
+ Quyền được thông báo về nội dung khởi kiện, người khởi kiện.
- Giai đoạn giải quyết vụ án dân sự: xét xử sơ thẩm, phúc thẩm; thủ tục
giám đốc thẩm, tái thẩm
Trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, người bị kiện có các quyền
được pháp luật tố tụng dân sự ghi nhận có tính nguyên tắc như:
+ Quyền bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng dân sự là sự cụ
thể hóa nguyên tắc hiến định “Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật” [5,
Điều 16]. Đây là một trong những nguyên tắc đảm bảo pháp lý rất quan trọng
trong tố tụng dân sự bởi điều đó hướng tới bảo vệ cơng lý, sự cơng bằng, bình
17