BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-------***-------
TẠ THỊ THÙY LINH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ Ở TÒA ÁN CẤP
SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƢ PHÁP
TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
-------***-------
TẠ THỊ THÙY LINH
ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ Ở TÒA ÁN CẤP
SƠ THẨM VÀ THỰC TIỄN THỰC HIỆN TẠI TÒA ÁN
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
HĐTP
: Hội đồng thẩm phán
HĐXX
: Hội đồng xét xử
NQ
: Nghị quyết
PLTTGQCTCLĐ
: Pháp lệnh tố tụng giải quyết các vụ
án lao động
PLTTGQCVADS
: Pháp lệnh tố tụng giải quyết các vụ
án dân sự
PLTTGQCVAKT
: Pháp lệnh tố tụng giải quyết các vụ
án kinh tế
QLNVLQ
: Quyền lợi nghĩa vụ liên quan
VỤ ÁN DÂN SỰ ........................................................................................................5
1.1. Khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự .........5
1.1.1. Khái niệm về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ..........................................5
1.1.2. Đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ........................................8
1.1.3. Ý nghĩa của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ..................................11
1.2. Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định về đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự .......................................................................................12
1.2.1. Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định về đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự .................................................................................................................12
1.2.2. Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định về đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự .................................................................................................................17
1.3. Sơ lƣợc các quy định về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự của pháp luật
tố tụng dân sự Việt Nam từ 1945 đến nay .........................................................20
1.3.1. Giai đoạn từ năm 1945 đến 1959 ........................................................20
1.3.2. Giai đoạn từ năm 1960 đến 1989 ........................................................21
1.3.3. Giai đoạn từ năm 1990 đến 2004 ........................................................22
1.3.4. Giai đoạn từ năm 2005 đến 2011 ........................................................22
1.3.5. Giai đoạn từ năm 2011 đến nay ...........................................................24
Kết luận chƣơng 1 ...................................................................................................26
Chƣơng 2 ..................................................................................................................27
NỘI DUNG CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ Ở TÒA
ÁN CẤP SƠ THẨM ................................................................................................27
2.1. Các căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự..............................................27
2.1.1. Nguyên đơn hoặc bị đơn là cá nhân đã chết mà quyền, nghĩa vụ của họ
không được thừa kế; ..........................................................................................27
2.1.2. Cơ quan, tổ chức đã bị giải thể hoặc bị tuyên bố phá sản mà không có cá
nhân, cơ quan, tổ chức nào kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của cơ quan, tổ
DÂN SỰ VIỆT NAM VỀ ĐÌNH CHỈ GIẢI QUYẾT VỤ ÁN DÂN SỰ Ở TÒA
ÁN CẤP SƠ THẨM VÀ KIẾN NGHỊ ..................................................................52
3.1. Thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự .........................................................................................................52
3.1.1. Kết quả thực hiện các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự ............................................................................................................52
3.1.2. Những vướng mắc hạn chế khi áp dụng quy định pháp luật tố tụng dân
sự
.................................................................................................................55
3.1.3. Những nguyên nhân, vướng mắc và hạn chế trong việc thực hiện các
quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự .............................64
3.2. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện và thực hiện các quy định của
pháp luật tố tụng dân sự về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự .........................65
3.2.1. Kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật về đình chỉ giải quyết
vụ án dân sự .......................................................................................................65
3.2.1.1. Về căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.........................................65
3.2.1.2. Về thủ tục ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ......68
3.2.1.3. Về hậu quả pháp lý của việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ...........69
3.2.1.4. Về mẫu ban hành quyết định đình chỉ giải quyết vụ án ......................72
Kết luận chƣơng 3 ...................................................................................................75
KẾT LUẬN ..............................................................................................................76
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
2
đảm bảo sự thống nhất trong áp dụng. Qua một thời gian thực hiện, ngày 29 tháng 2
năm 2011, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố
tụng dân sự. Luật sửa đổi bổ sung Bộ luật Tố tụng dân sự đã cơ bản khắc phục
những được hạn chế, vướng mắc của Bộ luật Tố tụng dân sự nói chung và quy định
về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự nói riêng. Đây là một sự đổi mới có ý nghĩa
quan trọng của hệ thống pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam. Tuy vậy qua một số
năm thực hiện cho thấy, các quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành về
đình chỉ giải quyết vụ án dân sự vẫn chưa thực sự rõ ràng, cụ thể dẫn đến những
khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp dụng. Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được
Quốc hội khóa XIII kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 25/11/2015 thay thế cho Bộ luật
tố tụng dân sự năm 2004 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) có hiệu lực thi hành kể
từ ngày 01/7/2016. Bộ luật Tố tụng dân sự 2015 được ban hành dựa trên cơ sở kế
thừa và phát triển các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự 2004; bên cạnh đó Bộ
luật Tố tụng dân sự 2015 ghi nhận nhiều quy định mới lần đầu được quy định theo
hướng bảo đảm tính công khai minh bạch trong tố tụng, bảo đảm quyền tranh tụng,
mở rộng thẩm quyền xét xử, nâng cao vị trí của Tòa án trong công cuộc cải cách tư
pháp. Việc nghiên cứu, phân tích những quy định mới, những quy định được sửa
đổi, bổ sung của Bộ luật tố tụng dân sự 2015 là cần thiết, có ý nghĩa quan trọng
trong thực tiễn xét xử góp phần nâng cao chất lượng xét xử, bảo vệ tốt quyền và lợi
ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Với lý do trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự ở Tòa án cấp sơ thẩm và thực tiễn thực hiện tại Tòa án” làm đề tài luận văn
của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở Việt Nam, từ trước khi Bộ luật tố tụng dân sự 2015 được ban hành đến nay
đã có nhiều bài viết, công trình nghiên cứu độc lập về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
được công bố trong các cuốn sách chuyên khảo, tham khảo hoặc được đăng tải trên các
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
+ Củng cố, phân tích và làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản về đình chỉ.
+ Nghiên cứu các quy định về đình chỉ trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
+ Đánh giá thực trạng đình chỉ giải quyết vụ án dân sự ở Tòa án cấp sơ thẩm, từ
đó đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả giải quyết các vụ án dân sự ở Việt
Nam.
4
5. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu: Xuất phát từ mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu, đối
tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận, pháp lý và thực tiễn về đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự với trọng tâm là ở Tòa án cấp sơ thẩm.
- Phạm vi nghiên cứu: Về pháp luật Việt Nam, phạm vi nghiên cứu của luận văn là
các quy định về đình chỉ trong Bộ luật Tố tụng dân sự. Ngoài ra phạm vi nghiên cứu của
luận văn còn là những số liệu, báo cáo tổng hợp…về thực trạng đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự tại Việt Nam được thu thập, viện dẫn từ các Báo cáo của Tòa án nhân dân tối cao
và các Tòa án quận, huyện thành phố Hà Nội.
6. Phƣơng pháp nghiên cứu của luận văn
Luận văn được nghiên cứu dựa trên nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lê nin
về nhà nước và pháp luật, quan điểm chỉ đạo của Đảng và nhà nước ta về Chiến lược cải
cách tư pháp, Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam. Khi thực
hiện luận văn đã vận dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như phân tích, tổng
hợp, thống kê, so sánh, phân tích quy phạm pháp luật…và đồng thời luận văn đã kế thừa
kết quả nghiên cứu của một số tác giả đã được công bố trước đây.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn
được xây dựng thành ba chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
Bình “Các vụ việc phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh thương mại và lao động do Tòa án giải quyết được gọi là vụ việc dân sự.
Trong đó, đối với những việc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các bên được
gọi là vụ án dân sự; đối với những việc không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ
giữa các bên được gọi là việc dân sự”.
Như vậy từ khi BLTTDS ban hành khái nhiệm VADS đã có sự thay đổi cơ
bản. Trước đây VADS bao gồm cả việc có tranh chấp dân sự và việc không tranh
chấp, trong khi đó VAKT và VALĐ chỉ bao gồm các việc có tranh chấp. Theo quy
định của BLTTDS, VVDS là một khái niệm rộng bao hàm các tranh chấp về quyền
6
và nghĩa vụ phát sinh từ các quan hệ pháp luật về dân sự, hôn nhân gia đình, kinh
doanh thương mại và lao động không có tranh chấp gọi là việc dân sự. Đối tượng
cần phải giải quyết trong vụ án dân sự và việc dân sự chính là các quan hệ pháp luật
nội dung được xác định trên cơ sở các yêu cầu của đương sự trong vụ án dân sự
hoăc việc dân sự.
Tại Điều 1 Dự thảo BLTTDS sửa đổi trình Quốc hội tại Phiên họp thứ 40,
Quốc hội khóa XIII, tháng 8/2015 (DTBLTTDS) có quy định về VVDS như sau:
“Bộ luật tố tụng dân sự quy định những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; tình
tự, thủ tục khởi kiện để Tòa án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn nhân
gia đình, kinh doanh thương mại và lao động (sau đây gọi chung là vụ án dân sự) và
trình tự, thủ tục yêu cầu để Tòa án giải quyết các việc về yêu cầu dân sự, hôn nhân
gia đình, kinh doanh thương mại, lao động (sau đây gọi chung là việc dân sự) tại
Tòa án,…”
Như vậy trên cơ sở kế thừa những quy định trước đó và tham khảo ý kiến của
các nhà nghiên cứu trong DTBLTTDS sửa đổi đã quy định khá chi tiết, cụ thể khái
niệm VVDS, theo đó VVDS bao gồm VADS và VDS được giải quyết tại Tòa án.
Theo Từ điển Tiếng Việt “Đình chỉ là việc ngừng lại hoặc làm cho phải
sự mà vụ án dân sự bao gồm cả những việc tranh chấp và những việc không có
tranh chấp. Do vậy việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự được hiểu là đình chỉ giải
quyết những việc kiện có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự hoặc
đình chỉ giải quyết những việc không có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các
đương sự mà Tòa án đã thụ lý. Ngoài ra trong những vụ án có nhiều quan hệ pháp
luật cần giải quyết (bao gồm cả quan hệ pháp luật có tranh chấp và quan hệ pháp
luật mà các bên có sự thỏa thuận hoặc chỉ yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện
pháp lý) thì đình chỉ giải quyết vụ án ở đây lại được hiểu theo nghĩa rộng. Có nghĩa
là chấm dứt việc xem xét, quyết định về toàn bộ các quan hệ pháp luật cần giải
quyết trong vụ án (bao gồm cả quan hệ pháp luật có tranh chấp và quan hệ pháp luật
không có tranh chấp). Từ khi có Bộ luật Tố tụng dân sự thì mới phân biệt vụ án dân
sự là việc có tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa các đương sự.
Xét về thực tế, sau khi Tòa án thụ lý vụ việc, trong quá trình giải quyết vụ
án dân sự có thể phát hiện các tình tiết, sự kiện làm cho việc giải quyết vụ án không
thể tiếp tục được mà căn nguyên là do Tòa án đã thụ lý khi vụ án không thỏa mãn
các điều kiện của việc thụ lý theo quy định của pháp luật. Do vậy, để khắc phục
những sai lầm này Tòa án cần phải chấm dứt ngay việc giải quyết vụ án mà mình đã
thụ lý. Ngoài ra, cũng có những trường hợp việc thụ lý của Tòa án là đúng pháp luật
nhưng trong quá trình giải quyết đã phát sinh một số sự kiện làm cho đối tượng của
3
Hoàng Ngọc Thỉnh (2012), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội,
Nxb.Công an nhân dân, tr.270
4
Hoàng Ngọc Thỉnh (2012), Giáo trình Luật tố tụng dân sự Việt Nam, trường Đại học Luật Hà Nội,
Nxb.Công an nhân dân, tr.354
8
án dân sự do pháp luật quy định, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án theo
9
đúng thẩm quyền, trình tự và thủ tục quy định. Tòa án không được ra quyết định
đình chỉ giải quyết vụ án một cách tùy tiện khi không có những căn cứ do pháp luật
quy định5.
- Thứ ba, chỉ Tòa án mới có thẩm quyền ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự.
Việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự có thể được tiến hành ở cấp sơ thẩm,
phúc thẩm hay ở thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm. Trước khi mở phiên tòa, thẩm
quyền này thuộc về Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án. Tại phiên tòa Hội
đồng xét xử (HĐXX) có quyền quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân sự.
- Thứ tư, hậu quả của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là mọi hoạt động tố
tụng đều phải chấm dứt.
Khi ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án thì Tòa án không tiến hành thêm
bất cứ hoạt động nào để giải quyết vụ án dân sự đó nữa. Tòa án sẽ xóa sổ thụ lý và
đương sự không có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết lại vụ án dân sự trừ trường hợp
pháp luật quy định.
Từ phân tích khái niệm và đặc điểm của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
nêu trên, luận văn làm rõ hơn về bản chất của đình chỉ giải quyết vụ án dân sự thông
qua việc phân biệt đình chỉ giải quyết vụ án dân sự và tạm đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự.
Tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án quyết định tạm ngừng
việc giải quyết vụ án dân sự đã thụ lý trong một thời hạn khi có những căn cứ do
pháp luật quy định. Khi lý do của việc tạm đình chỉ không còn, thì Tòa án lại tiếp
tục giải quyết vụ án dân sự đó (căn cứ tạm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự quy định
tại Điều 214 Bộ luật Tố tụng dân sự). Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc toà án
quyết định ngừng việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật
cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự đó nếu quyết định đình chỉ giải quyết vụ án dân
sự đã có hiệu lực pháp luật, trừ một số trường hợp đặc biệt.
Ngoài ra đặc điểm này cũng giúp chúng ta phân biệt đình chỉ giải quyết vụ
án dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm với đình chỉ xét xử phúc thẩm. Đình chỉ xét xử
phúc thẩm không làm chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của đương sự về mặt nội
dung mà chỉ chấm dứt thủ tục tố tụng phúc thẩm. Nói cách khác, đình chỉ xét xử
phúc thẩm làm chấm dứt hoạt động xét xử phúc thẩm đối với vụ án có kháng cáo,
kháng nghị nhưng cũng đồng thời làm phát sinh hiệu lực pháp luật của bản án,
quyết định sơ thẩm của các đương sự phải được tôn trọng và thi hành. Thời điểm
đình chỉ xét xử phúc thẩm có thể trước phiên tòa, phiên họp phúc thẩm hoặc tại
phiên tòa, phiên họp phúc thẩm. Hình thức văn bản được áp dụng chung là quyết
định đình chỉ xét xử phúc thẩm.
11
Nếu đình chỉ xét xử phúc thẩm trước phiên tòa phiên họp, thẩm quyền ra
quyết định do Thẩm phán được phân công phụ trách giải quyết vụ án dân sự quyết
định thì tại phiên tòa phiên họp phúc thẩm do Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân
sự , Hội đồng giải quyết phúc thẩm vụ án dân sự quyết định. Quyết định đình chỉ
xét xử phúc thẩm có hiệu lực ngay.
Như vậy đình chỉ giải quyết phúc thẩm vụ án dân sự khác với đình chỉ xét
xử phúc thẩm đối với kháng cáo, kháng nghị. Việc đình chỉ giải quyết vụ án dân sự
có thể thực hiện được ở Tòa án cấp phúc thẩm khi có những căn cứ mà pháp luật
quy định nhưng bản chất của nó là làm chấm dứt hoàn toàn việc giải quyết vụ án đã
được thụ lý từ cấp sơ thẩm; Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm
và ngừng hẳn mọi hoạt động tố tụng, vụ việc được xóa sổ và coi như không tồn tại.
Trong khi đó, đình chỉ xét xử phúc thẩm chỉ áp dụng đối với trường hợp có việc rút
một phần hay toàn bộ kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm. Việc đình chỉ xét xử phúc
thẩm không dẫn tới hậu quả Tòa án cấp phúc thẩm hủy bản án, quyết định sơ thẩm
trung giải quyết các vụ án quan trọng để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xét
xử.
Đình chỉ giải quyết vụ án dân sự còn có ý nghĩa bảo đảm quyền tự định
đoạt của các đương sự, nhanh chóng quyết định về vụ án khi đối tượng cần giải
quyết trong vụ án hoặc quyền lợi của đương sự đã chấm dứt mà không có sự kế
thừa. Việc đình chỉ giải quyết vụ án khi nguyên đơn đã rút đơn khởi kiện, các
đương sự đã tự hòa giải hay đương sự chết mà quyền và nghĩa vụ của họ không
được kế thừa sẽ tránh cho đương sự không phải tốn kém tiền bạc, thời gian tham gia
tố tụng.
1.2.
Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định về đình chỉ
giải quyết vụ án dân sự
1.2.1. Cơ sở lý luận của việc pháp luật quy định về đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự
Dựa vào khái niệm đình chỉ giải quyết vụ án dân sự là việc Tòa án quyết
định ngừng hẳn việc giải quyết vụ án dân sự khi có những căn cứ do pháp luật quy
định, có thể thấy việc Tòa án chấm dứt giải quyết vụ án mà mình đã thụ lý nhằm
khắc phục những sai lầm do việc thụ lý không đúng đem lại hoặc giải phóng cho
các bên đương sự, đặc biệt là bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khỏi
việc tham gia tố tụng vốn bị coi là một nghĩa vụ bắt buộc đối với họ. Tuy nhiên,
việc xác định căn cứ đình chỉ giải quyết vụ án không hợp lý có thể dẫn tới quyền lợi
hợp pháp của nguyên đơn sẽ không được Tòa án xem xét giải quyết và quyền tiếp
cận công lý của công dân không được đảm bảo nếu như các quy định về quyền khởi
kiện lại không được pháp luật ghi nhận.
13
Lê Thị Ngời (2012), Vấn đề tạm đình chỉ và đình chỉ giải quyết vụ án dân sự, Khóa luận
tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, tr15
14
không có chủ thể kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng; sự kiện chủ thể đã khởi kiện rút
đơn khởi kiện hoặc các đương sự tự hòa giải.
+ Khi phát hiện việc Tòa án thụ lý không đúng
Quyền khởi kiện là quyền quan trọng mà đương sự có thể sử dụng để bảo
vệ quyền lợi hợp pháp của mình. Tuy nhiên để đảm bảo sự ổn định của các quan hệ
pháp luật, trong một số trường hợp nhà lập pháp đã giới hạn việc thực hiện quyền
khởi kiện trong một thời hiệu nhất định. Cũng theo tinh thần này và để tránh tình
trạng một vụ án lại có nhiều cách giải quyết khác nhau gây mất niềm tin của đương
sự vào công lý, nhà lập pháp cũng quy định việc thực hiện quyền khởi kiện chỉ được
thực hiện nếu trước đó sự việc chưa được Tòa án giải quyết bằng bản án, quyết định
đã có hiệu lực pháp luật. Việc quy định các chủ thể quyền khởi kiện chỉ có thể yêu
cầu tòa án giải quyết những vụ án chưa được Tòa án giải quyết nhằm mục đích
tránh tình trạng kiện tụng kéo dài nhiều lần không cần thiết, gây tổn hại cho đương
sự một cách vô ích. Ngoài điều kiện về quyền khởi kiện, người khởi kiện phải có
năng lực hành vi tố tụng dân sự. Không phải tất cả các chủ thể khởi kiện đều được
tham gia thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng tại Tòa án. Chủ thể khởi kiện trong tố
tụng dân sự phải có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng. Việc thực hiện các quyền và
nghĩa vụ tố tụng bởi những người không có năng lực hành vi tố tụng thì không có
hiệu lực. Người khởi kiện trong vụ án dân sự là cá nhân (Công dân Việt Nam, người
nước ngoài và người không có quốc tịch) phải là người đạt độ tuổi nhất định, sức
khỏe bình thường, không bị mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của
mình. Ngoài ra, Tòa án cũng chỉ có thẩm quyền thụ lý vụ án nếu sự việc thuộc thẩm
quyền về dân sự của Tòa án. Việc xác định thẩm quyền là một điều kiện cần thiết để
các kỹ năng cơ bản.
Do vậy sai lầm này cần được khắc phục thông qua việc chấm dứt giải
quyết vụ án của Tòa án đã thụ lý. Nếu Tòa án vẫn tiến hành giải quyết trong những
trường hợp nêu trên thì sai lầm của Tòa án càng trở lên nghiêm trọng và có thể gây
tổn hại cho quyền lợi của bên bị đơn.
+ Suy đoán là đối tượng của vụ việc cần phải giải quyết tại Tòa án không
còn tồn tại
Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, đương sự hoặc người đại diện của họ,
người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phải có mặt tại phiên tòa, trừ
trường hợp họ có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; nếu vắng mặt vì sự kiện bất khả
kháng hoặc trở ngại khách quan thì tòa án có thể hoãn phiên tòa, nếu không vì sự
kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì xử lý như sau: Nguyên đơn vắng
mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ việc khởi kiện
và tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của
người đó, trừ trường hợp người đó có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Nguyên đơn có
quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật; Bị đơn không có yêu cầu phản tố,
16
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu độc lập vắng mặt mà
không có người đại diện tham gia phiên tòa thì tòa án tiến hành xét xử vắng mặt họ;
Bị đơn có yêu cầu phản tố vắng mặt mà không có người đại diện tham gia phiên tòa
thì bị coi là từ bỏ yêu cầu phản tố và Tòa án quyết định đình chỉ giải quyết đối với
yêu cầu phản tố, trừ trường hợp bị đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn có
quyền khởi kiện lại đối với yêu cầu phản tố đó theo quy định của pháp luật; Người
có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập vắng mặt mà không có người
đại diện tham gia phiên tòa thì bị coi là từ bỏ yêu cầu độc lập và tòa án quyết định
đình chỉ giải quyết đối với yêu cầu độc lập của người đó, trừ trường hợp người đó
có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu
Tòa án phải ngừng hẳn việc giải quyết vụ án để giải phóng cho bên đương sự đặc
biệt là bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan khỏi việc tham gia tố tụng vốn
bị coi là nghĩa vụ bắt buộc đối với họ.
+ Phát sinh sự kiện dẫn tới quan hệ pháp luật là đối tượng của vụ án dân sự
đã thụ lý sẽ được giải quyết cùng với các quan hệ pháp luật khác trong một vụ án
khác
Đây là trường hợp đã có quyết định của Tòa án mở thủ tục phá sản đối với
doanh nghiệp, hợp tác xã là một bên đương sự trong vụ án dân sự mà việc giải
quyết vụ án này có liên quan đến nghĩa vụ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã đó.
Việc kiện yêu cầu thanh toán hay thực hiện nghĩa vụ mà Tòa án đã thụ lý sẽ được
giải quyết trong vụ án về giải quyết yêu cầu phá sản cùng với các chủ nợ khác để
đảm bảo quyền lợi của tất cả các chủ nợ.
1.2.2. Cơ sở thực tiễn của việc pháp luật quy định về đình chỉ giải quyết vụ án
dân sự
Các quy định của pháp luật muốn được thi hành có hiệu quả trên thực tế
phải xuất phát từ yêu cầu của xã hội, nếu xa rời đời sống sẽ không có tính khả thi và
vướng mắc trong thực hiện. Theo đó, pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam không
những phải thể hiện, cụ thể hóa quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước ta về
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp vào quá trình
giải quyết các vụ án dân sự mà còn phù hợp, phản ánh thực tiễn giải quyết các vụ án
dân sự ở nước ta.
Thực tiễn giải quyết các vụ án dân sự của Tòa án ở nước ta đã cho thấy có
rất nhiều trường hợp Tòa án không thể tiếp tục giải quyết được mà phải ngừng hẳn
việc giải quyết vụ án dân sự như trường hợp: trong quá trình Tòa án giải quyết vụ
án dân sự có thể xuất hiện các sự kiện làm cho việc tiến hành giải quyết vụ việc của
18
Tòa án sẽ không đảm bảo quyền tham gia tố tụng, không đảm bảo quyền bảo vệ