Những quy định về hợp đồng dân sự trong bộ luật dân sự năm 2015 là căn cứ pháp lý trong ký kết hợp đồng thương mại (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRỊNH THU GIANG

ĐỀ TÀI
NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ TRONG BỘ
LUẬT DÂN SỰ NĂM 2015 LÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ TRONG
KÝ KẾT HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số

: 60380107

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN VIẾT TÝ

HÀ NỘI - NĂM 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được trích
dẫn theo đúng quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN



MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ............................................................................................................. 1
Chƣơng 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ
TRONG KÝ KẾT HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI .................................................... 7

1.1. Khái quát về hợp đồng thƣơng mại .................................................... 7
1.1.1. Khái niệm “Hợp đồng thương mại” .................................................. 7
1.1.2. Đặc điểm hợp đồng thương mại ..................................................... 10
1.1.3. Phân loại hợp đồng thương mại ...................................................... 13
1.2. Ký kết hợp đồng thƣơng mại - Khái niệm và pháp luật điều chỉnh
hoạt động ký kết hợp đồng thƣơng mại ................................................... 15
1.2.1. Khái niệm ký kết hợp đồng thương mại ......................................... 15
1.2.2. Pháp luật điều chỉnh hoạt động ký kết hợp đồng thương mại ........ 16
1.3. Cơ sở lý luận cho việc áp dụng Bộ luật Dân sự trong ký kết hợp
đồng thƣơng mại ........................................................................................ 19
Kết luận chƣơng 1 ...................................................................................... 21
Chƣơng 2. NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ HỢP ĐỒNG DÂN SỰ CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ
NĂM 2015 LÀ CĂN CỨ PHÁP LÝ ĐỂ KÝ KẾT HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI .... 23

2.1. Quy định về đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao
kết hợp đồng ............................................................................................... 23
2.1.1. Đề nghị giao kết hợp đồng .............................................................. 23
2.1.2. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ............................................ 34
2.2. Quy định về hình thức, nội dung và địa điểm giao kết của hợp đồng
thƣơng mại .................................................................................................. 40
2.2.1. Những vấn đề chung về hình thức của hợp đồng thương mại ........ 40
2.2.2. Nội dung của hợp đồng thương mại ............................................... 43

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 80


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chế định hợp đồng là chế định chủ yếu chiếm số lượng điều luật nhiều
nhất trong Bộ luật dân sự (2005) và mới đây nhất là Bộ luật Dân sự (2015).
Điều này cho thấy chế định hợp đồng có tầm quan trọng và chi phối tới tất cả
các giao dịch dân sự trong xã hội.
Tại Việt Nam, pháp luật hợp đồng đã và đang được xây dựng và hoàn
thiện theo hướng thống nhất và đồng bộ hóa giữa các văn bản quy phạm trong
nước và hài hòa hóa với các Điều ước Quốc tế, các văn kiện pháp lý quốc tế
khác. Hệ thống pháp luật thực định hiện nay của Việt Nam điều chỉnh hợp
đồng thương mại bao gồm Bộ luật Dân sự (2015) và Luật Thương mại
(2005), trong đó, Bộ luật Dân sự đóng vai trò là luật gốc, chứa đựng các quy
định chung, mang tính nguyên tắc, còn Luật Thương mại xây dựng các quy
định mang tính đặc thù điều chỉnh vấn đề hợp đồng thương mại. Chính vì vậy,
pháp luật hợp đồng dân sự và pháp luật hợp đồng thương mại có mối quan hệ
biện chứng với nhau, bổ trợ cho nhau nhưng vẫn có những đặc thù riêng biệt.
Trên cơ sở đó, các quy định của Bộ luật Dân sự có thể được vận dụng là căn
cứ pháp lý để ký kết hợp đồng thương mại nhằm điều chỉnh các vấn đề thuộc
hình thức, nội hàm và các vấn đề liên quan khác của hợp đồng thương mại.
Tuy nhiên, một bộ phận chủ thể khi tham gia vào quan hệ hợp đồng
thương mại vẫn chưa nhận thức đầy đủ về mối quan hệ giữa pháp luật hợp
đồng dân sự và pháp luật hợp đồng thương mại. Họ chưa ý thức được hết vị
trí và giá trị của Bộ luật Dân sự khi là cơ sở để ký kết hợp đồng thương mại,
do đó, thường xem nhẹ và không để ý đến việc đưa Bộ luật Dân sự vào căn cứ
của hợp đồng, cũng như không chú trọng việc nghiên cứu các quy định của

bảo vệ mình khi tham gia vào sân chơi lớn. Trong đó, phần ký kết hợp đồng
thương mại cần được chú ý hơn cả, vì đây là giai đoạn hình thành nên hợp
đồng thương mại, nếu hợp đồng đó không được pháp luật thừa nhận thì câu
chuyện thực hiện hợp đồng cũng sẽ không xảy ra.
Xuất phát từ những lý do đó, người viết lựa chọn vấn đề: “Những quy
định về hợp đồng dân sự trong Bộ luật Dân sự năm 2015 là căn cứ pháp lý
trong ký kết hợp đồng thương mại” làm đề tài luận văn tốt nghiệp của mình,


3

nhằm nêu và phân tích các quy định của Bộ luật Dân sự (2015) một cách hệ
thống về ký kết hợp đồng thương mại, qua đó đưa ra những đánh giá và kiến
nghị nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng của Bộ luật Dân sự trong tương lai.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Chế định hợp đồng đã được các học giả của Việt Nam nghiên cứu từ
những năm 1960 với những công trình như Dân luật khái luận (1958), Việt
Nam Dân luật - lược khảo (1963), Pháp luật diễn giảng (1975) của nhà nghiên
cứu Vũ Văn Mẫu. Đây được xem là những công trình đầu tiên đặt nền tảng
nghiên cứu về vấn đề hợp đồng tại Việt Nam.
Kể từ khi Bộ luật Dân sự (1995) ra đời, đã có rất nhiều công trình tiếp
nối nghiên cứu về chế định hợp đồng. Có thể kể đến các công trình như: Sách
chuyên khảo Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt
Nam hiện nay của Nguyễn Như Phát, Lê Thị Thu Thủy chủ biên (2005); luận
án tiến sĩ Nguyễn Viết Tý năm 2002 “Phương hướng hoàn thiện pháp luật
kinh tế trong điều kiện có Bộ luật dân sự”; các luận văn thạc sỹ như: Chế
định hợp đồng trong Luật Thương mại Việt Nam (Nguyễn Thị Thu Hòa năm
2001), Hoàn thiện pháp luật về giao kết hợp đồng thương mại trong điều kiện
sửa đổi, bổ sung Bộ luật dân sự (Dư Hoài Phương năm 2014), Hợp đồng
trong hoạt động Thương mại ở Việt Nam hiện nay – Những vấn đề lý luận và

Phạm vi nghiên cứu: (i) Về thời gian, chủ yếu từ thời điểm Bộ luật Dân
sự (2015) được ban hành; (ii) về không gian, nghiên cứu vấn đề giao kết hợp
đồng thương mại trong lãnh thổ Việt Nam.
4. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là hệ thống hóa lại những vấn đề lý
luận về việc áp dụng Bộ luật Dân sự trong ký kết hợp đồng thương mại, từ đó
tìm hiểu các quy định của Bộ luật Dân sự (2015) là căn cứ pháp lý trong ký
kết hợp đồng thương mại để đi đến xây dựng một số giải pháp nhằm hoàn
thiện quy định của Bộ luật Dân sự (2015) điều chỉnh vấn đề ký kết hợp đồng
thương mại.
5. Các câu hỏi nghiên cứu
Để đảm bảo nội dung luận văn triển khai một cách logic và chặt chẽ,
người viết đặt ra những câu hỏi: (i) Thế nào là hợp đồng thương mại, ký kết


5

hợp đồng thương mại? (ii) Những nguồn pháp luật điều chỉnh vấn đề ký kết
hợp đồng thương mại? (iii) Tại sao những quy định của Bộ luật Dân sự
(2015) lại là căn cứ pháp lý ký kết hợp đồng thương mại? (iv) Những quy
định nào của Bộ luật Dân sự (2015) là căn cứ pháp lý ký kết hợp đồng thương
mại? (v) Các quy định này có gì giống và khác so với quy định của Bộ luật
Dân sự (2005) và thông lệ quốc tế? (vi) Những điểm bất cập, hạn chế của các
quy định này và những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả điều chỉnh việc của
Bộ luật Dân sự về việc giao kết hợp đồng thương mại?
6. Các phƣơng pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Khi nghiên cứu đề tài, tác giả luận văn sử dụng phương pháp luận biện
chứng duy vật của Chủ nghĩa Mác - Lênin và các quan điểm, đường lối của
Đảng Cộng sản Việt Nam về phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng
xã hội chủ nghĩa.


7

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ VIỆC ÁP DỤNG BỘ LUẬT DÂN SỰ
TRONG KÝ KẾT HỢP ĐỒNG THƢƠNG MẠI
1.1. Khái quát về hợp đồng thƣơng mại
1.1.1. Khái niệm “Hợp đồng thương mại”
Hợp đồng thương mại là chế định có lịch sử phát triển lâu đời trong
khoa học pháp lý. Các hệ thống pháp luật khác nhau đưa ra những khái niệm
và quan điểm khác nhau về hợp đồng thương mại. Tại các nước thuộc hệ
thống luật Châu Âu lục địa như Pháp, Đức có sự phân biệt rõ ràng giữa giao
dịch dân sự và giao dịch Thương mại. Khái niệm hợp đồng thương mại cũng
chỉ là khái niệm manh tính học thuật chứ không phải là thuật ngữ chính thứ
được sử dụng trong pháp luật thực định1. Hay nói cách khác, pháp luật của
các nước này không có khái niệm hợp đồng thương mại.
Đối lập với trường phái này, các nước thuộc hệ thống pháp luật
Common Law điển hình như Anh, Mỹ lại không có sự phân biệt giữa pháp
luật dân sự và pháp luật Thương mại, do đó, không có sự phân biệt giữa hai
loại hợp đồng này. Điều này có thể thấy thông qua các quy định của Bộ Luật
Thương mại thống nhất Hoa Kỳ (UCC) điều chỉnh tất cả các vấn đề về hợp
đồng giữa các thương nhân.
Tại Việt Nam, do chịu những ảnh hưởng không nhỏ của hệ thống pháp
luật Civil law, trong hệ thống pháp luật thực định vẫn chưa có một khái niệm
cụ thể về hợp đồng thương mại. Vì vậy, khái niệm về hợp đồng thương mại
được dựa trên việc giải thích hai thành tố “hợp đồng” và “thương mại”.
Pháp luật hợp đồng Việt Nam trải qua các thời kỳ hình thành và phát
triển từ đã đưa ra nhiều quan điểm và khái niệm khác nhau về hợp đồng. Pháp
lệnh Hợp đồng kinh tế của Hội đồng Nhà nước số 24-LCT/HDDNN8 ngày 25
tháng 09 năm 1989 là văn bản pháp quy điều chỉnh chuyên biệt lĩnh vực hợp

sau “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi
hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự” (Điều 394). Bên cạnh quy định về
hợp đồng dân sự thì vẫn tồn tại khái niệm “hợp đồng kinh tế” theo Pháp lệnh
Hợp đồng kinh tế năm 1989. Do đó, mặc dù đã có sự khác biệt căn bản nhưng
vẫn gây ra những nhầm lẫn không đáng có giữa hai loại hợp đồng này.
Khái niệm về hợp đồng dân sự của Điều 388 Bộ luật Dân sự (2005) kế
thừa trên cơ sở nội dung Điều 395 Bộ luật Dân sự 1995, song mang ý nghĩa


9

hoàn toàn khác. Đó là việc ra đời của Bộ luật Dân sự (2005) đã kết thúc hiệu
lực của Pháp lệnh hợp đồng kinh tế (1989). Bộ luật Dân sự (2005) đã bước
đầu thể hiện được vai trò là luật chung, luật gốc thông qua việc bao quát được
tương đối đầy đủ tất cả các vấn đề thuộc lĩnh vực tư, do đó khắc phục được
những mâu thuẫn, chồng chéo của hệ thống pháp luật về tài sản, nghĩa vụ và
hợp đồng, góp phần đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ của toàn bộ hệ thống
văn bản pháp luật thuộc lĩnh vực luật tư2. Với việc quy định như vậy, có thể
hiểu các quy định về hợp đồng của Bộ luật Dân sự (2005) không chỉ được áp
dụng cho các quan hệ dân sự mà còn áp dụng cho các quan hệ hợp đồng trong
các lĩnh vực khác như thương mại, lao động... Bên cạnh đó, các quy định về
hợp đồng không chỉ được quy định trong Bộ luật Dân sự mà còn được ghi
nhận trong các văn bản pháp luật chuyên ngành như Luật Thương mại (2005).
Tuy nhiên, thuật ngữ “hợp đồng dân sự” dễ gây hiểu nhầm khi có thể
hiểu theo nghĩa rộng (bao gồm tất cả các loại hình hợp đồng); hay nói cách
khác, Bộ luật Dân sự (2005) ra đời đã chấm dứt khái niệm hợp đồng kinh tế;
mọi hợp đồng đều gọi chung là hợp đồng dân sự và chịu sự điều chỉnh chung
của Bộ luật Dân sự; hoặc cũng có thể hiểu các hợp đồng theo nghĩa hẹp để chỉ
những quan hệ nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng.
Bên cạnh đó, sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế thị trường đã

nhân, bao gồm: Tổ chức kinh tế được thành lập hợp pháp, cá nhân hoạt động
Thương mại một cách độc lập, thường xuyên và có đăng ký kinh doanh; (ii)
Quan hệ Thương mại nhằm mục đích sinh lợi.
Như vậy, xét một cách khái quát nhất, hợp đồng thương mại có thể
được hiểu là sự thỏa thuận về các vấn đề xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt
quyền, nghĩa vụ giữa các chủ thể nhằm mục đích sinh lợi, trong đó có ít nhất
một bên chủ thể là thương nhân.
1.1.2. Đặc điểm hợp đồng thương mại
Hợp đồng thương mại có bản chất là sự thỏa thuận giữa các bên chủ
thể, do đó, có những đặc điểm chung giống như các hợp đồng dân sự, tuy
nhiên, hợp đồng thương mại cũng mang những đặc trưng riêng, khác biệt với
hợp đồng dân sự thuần túy, thể hiện:
Thứ nhất, về chủ thể: Hợp đồng thương mại được thiết lập chủ yếu giữa
các bên chủ thể là thương nhân. Trong hợp đồng thương mại, có những hợp
đồng đòi hỏi các bên đều phải là thương nhân như hợp đồng đại diện cho
thương nhân, hợp đồng đại lý Thương mại… hoặc có những hợp đồng chỉ cần


11

ít nhất một bên chủ thể là thương nhân như hợp đồng ủy thác mua bán hàng
hóa, hợp đồng dịch vụ bán đấu giá hàng hóa, hợp đồng môi giới Thương
mại… Các tổ chức, cá nhân không phải là thương nhân cũng có thể trở thành
chủ thể của hợp đồng thương mại khi tiến hành các hoạt động liên quan đến
Thương mại.
Bộ Luật Thương mại Pháp quy định chủ thể trong hợp đồng thương
mại đều là thương nhân, trường hợp chủ thể có ít nhất một bên là thương nhân
thì đó là hợp đồng hỗn hợp. Khi có tranh chấp xảy ra, các bên không phải là
thương nhân được quyền lựa chọn kiện thương nhân tại tòa dân sự thẩm
quyền chung hoặc tòa Thương mại. Trường hợp bên tương nhân có quyền

có áp dụng Luật Thương mại để điều chỉnh quan hệ hợp đồng này hay không
là do bên không có mục đích lợi nhuận quyết định.
Thứ năm, về nội dung hợp đồng: Các bên chủ thể tham gia hợp đồng
thương mại thỏa thuận các điều khoản của hợp đồng, trong đó, phải bao gồm
các điều khoản cơ bản là: Đối tượng, chất lượng, giá cả, phương thức thanh
toán, thời hạn và địa điểm giao nhận hàng.
Thứ sáu, hợp đồng thương mại có tính chất bồi hoàn. Điều này thể hiện
ngay cả khi trong hợp đồng không có thỏa thuận về giá cả thì một bên trong
hợp đồng thương mại có quyền yêu cầu thanh toán bằng tiền hoặc bằng các
hình thức khác do việc thực hiện các nghĩa vụ theo hợp đồng.
Thứ bảy, khi phát sinh vi phạm hợp đồng thương mại, pháp luật
Thương mại quy định theo hướng tăng trách nhiệm của thương nhân. Pháp
luật của hầu hết các nước không phân biệt hệ thống pháp luật đều buộc
thương nhân phải chịu trách nhiệm do không thực hiện hay thực hiện không
đúng hợp đồng thương mại. Thủ tục tố tụng áp dụng đối với việc vi phạm
nghĩa vụ hợp đồng thương mại cũng có những điểm đặc thù. Các tranh chấp
phát sinh từ hợp đồng được kí kết giữa các công ty thương mại được giải
quyết bằng Tòa án trọng tài – hệ thống tòa án đặc biệt tồn tại song song với hệ
thống tòa án thẩm quyền chung với chức năng giải quyết các tranh chấp phát
sinh từ hoạt động kinh doanh. Tại Việt Nam, Trung tâm trọng tài Quốc tế Việt
Nam bên cạnh Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VIAC) được
thành lập theo Quyết định số 204/TTg ngày 28 tháng 04 năm 1993 của Thủ


13

tướng Chính Phủ, là cơ quan giải quyết các tranh chấp liên quan đến tất cả các
lĩnh vực thương mại như mua bán hàng hóa, vận tải, bảo hiểm, xây dựng, tài
chính, ngân hàng, đầu tư…
Thời hiệu khởi kiện đối với những tranh chấp hợp đồng thương mại

1980). Việc quy định như vậy cho thấy phạm vi mở rộng hơn rất nhiều so với
việc liệt kê các hình thức của Luật Thương mại Việt Nam.
Bên cạnh đó, Luật Thương mại (2005) còn quy định một loại hợp đồng
mua bán hàng hóa đối với hoạt động mua bán hàng hóa qua Sở Giao dịch
hàng hóa, theo đó các bên thỏa thuận thực hiện việc mua bán một lượng nhất
định của một loại hàng hóa nhất định qua Sở Giao dịch hàng hóa theo những
tiêu chuẩn của Sở Giao dịch hàng hóa với giá được thỏa thuận tại thời điểm
giao kết hợp đồng và thời gian giao hàng được xác định tại một thời điểm
trong tương lai (Điều 63 Luật Thương mại 2005). Hợp đồng mua bán hàng
hóa qua Sở giao dịch hàng hóa bao gồm hợp đồng kỳ hạn và hợp đồng quyền
chọn (Điều 64 Luật Thương mại 2005).
Thứ hai, hợp đồng dịch vụ.
Hợp đồng dịch vụ là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cung ứng
dịch vụ thực hiện công việc cho bên sử dụng dịch vụ, bên sử dụng dịch vụ
phải trả tiền dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ (Điều 513 Bộ luật Dân sự
2015). Hợp đồng dịch vụ có đối tượng là một công việc cụ thể, có thể thực
hiện được, không bị pháp luật cấm và không trái với đạo đức xã hội. Hay nói
cách khác, đối tượng của hợp đồng dịch vụ có đặc điểm nổi bật đó là một sản
phẩm vô hình, không tồn tại dưới dạng vật chất, khó xác định chất lượng dịch
vụ bằng hững chỉ tiêu kỹ thuật được lượng hóa. Do đó, Luật Thương mại đã
đưa ra những quy định về nghĩa vụ của các bên trong đó đặc biệt lưu ý các
bên về tính chất dịch vụ. Tính chất dịch vụ của hợp đồng sẽ tùy thuộc vào loại
hình dịch vụ từ đơn giản tới phức tạp. Hình thức của hợp đồng dịch vụ có thể
bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các
loại hợp đồng mà pháp luật quy định phải được thiết lập bằng văn bản thì phải
tuân theo các quy định đó (Điều 74 Luật Thương mại 2005). Đa số hợp đồng
dịch vụ phải được lập thành văn bản hay một hình thức pháp lý tương đương
theo quy định của Luật Thương mại bao gồm: Hợp đồng dịch vụ khuyến mại,



Nguyễn Hợp Toàn (2008), Giáo trình Pháp luật kinh tế, Khoa Luật Đại học Kinh tế Quốc dân, Nxb.
Trường Đại học Kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.235.
4
Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam (tập II), Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội,
tr.107.


16

hệ pháp lý giữa các chủ thể trong quan hệ trao đổi5. Mối liên hệ pháp lý được
thể hiện thông qua các quy định cụ thể. Hay có thể hiểu, các quy định trong
giao kết hợp đồng nhằm đưa ra các hướng dẫn pháp lý đồng thời mang tính
ràng buộc tới các bên khi tham gia giao kết hợp đồng thương mại.
Trong phạm vi luận văn này, người viết tiếp cận vấn đề giao kết hợp
đồng thương mại theo nghĩa rộng. Theo đó, “giao kết hợp đồng” là quá trình
thể hiện ý chí của các bên chủ thể tham gia giao kết, bắt đầu từ ý chí của bên
đề nghị giao kết và kết thúc bởi ý chí của bên được đề nghị giao kết. Quá
trình này được Bộ luật Dân sự (2015) điều chỉnh một cách chi tiết nhằm đảm
bảo tính pháp lý của hợp đồng thương mại, chỉ khi các bên đáp ứng đầy đủ
các quy định về hình thức, nội dung hay các điều kiện có hiệu lực của hợp
đồng thương mại thì quyền và nghĩa vụ giữa các bên mới phát sinh và được
pháp luật bảo hộ. Việc quy định chặt chẽ hoạt động giao kết hợp đồng không
chỉ có ý nghĩa đảm bảo quyền lợi pháp lý đối với các bên chủ thể mà còn ý
nghĩa đối với việc thiết lập trật tự kinh doanh chung.
1.2.2. Pháp luật điều chỉnh hoạt động ký kết hợp đồng thương mại
Như đã phân tích, hợp đồng thương mại là chế định rất lâu đời và
chiếm vị trí quan trọng đối với mọi hệ thống pháp luật. Trên thế giới, nguồn
điều chỉnh chế định hợp đồng thương mại rất đa dạng, có thể kể tới như:
- Điều ước quốc tế.
Trong Thương mại quốc tế, Công ước Viên về mua bán hàng hóa Quốc

chỉnh bởi Nguyên tắc về hợp đồng thương mại quốc tế (PICC) do Viện
nghiên cứu quốc tế về thống nhất luật tư (UNIDROIT) soạn thảo và ban hành
năm 1994. Sau 10 năm kể từ khi công bố phiên bản đầu tiên, tháng 04/2004,
Hội đồng điều hành của UNIDROIT đã thông qua bản PICC mới, gồm 10
chương và 185 Điều. Trong đó bao gồm các nguyên tắc cơ bản điều chỉnh
hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như: Nguyên tắc tự do hợp đồng;
Nguyên tắc không bắt buộc về hình thức hợp đồng; Nguyên tắc thiện chí và
trung thực; Các nguyên tắc về giao kết hợp đồng và quyền đại diện…
- Các tập quán thương mại tức là các quy tắc xử sự mang tính nghề
nghiệp được hình thành giữa các thương nhân như các bộ INCOTERM từ

6

Trung tâm WTO (2016), “Việt Nam áp dụng Công ước Viên về Hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế từ
năm 2017”, Trung tâm WTO, tại địa chỉ http://www.trungtamwto.vn/vandedacbiet/cong-uoc-vien/viet-namap-dung-cong-uoc-vien-ve-hop-dong-mua-ban-hang-hoa-quoc-te-tu-na ngày truy cập 28/11/2016.


18

năm 1936 đến năm 2010 hay Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng
chứng từ (UCP 600) của Phòng Thương mại Quốc tế;
- Án lệ, có giá trị bắt buộc áp dụng đối với Tòa án cùng cấp hoặc Tòa
án cấp dưới trong những vụ việc tương tự.
Bên cạnh đó, Nghị quyết của các tổ chức quốc tế hay pháp luật quốc
gia cũng trở thành một nguồn luật quan trọng của hợp đồng thương mại.
Trong một số trường hợp, quan điểm, học thuyết của các chuyên gia nổi tiếng
về thương mại quốc tế cũng được xem là một nguồn để Tòa án giải quyết các
tranh chấp liên quan tới hợp đồng thương mại.
Do những khác biệt trong xu hướng điều chỉnh của pháp luật về hợp
đồng của các nước trên thế giới mà tồn tại nhiều nguồn luật điều chỉnh khác

thói quen trong hoạt động Thương mại đã được thiết lập giữa các bên đó mà
bên đã biết hoặc phải biết nhưng không được trái quy định pháp luật (Điều 12
Luật Thương mại (2005)). Như vậy, trong trường hợp các bên ký hợp đồng
không thỏa thuận cụ thể thì có thể áp dụng theo thói quen hoạt động thương
mại đã hình thành giữa các bên.
Thói quen thương mại lâu dần hình thành nên tập quán thương mại, đây
là nguồn luật quan trọng điều chỉnh hợp đồng thương mại đặc biệt trong lĩnh
vực thương mại quốc tế. Theo Luật Thương mại (2005), tập quán Thương mại
là thói quen được thừa nhận rộng rãi trong các hoạt động thương mại trên một
vùng, miền hoặc một lĩnh vực thương mại, có nội dung rõ ràng được các bên
thừa nhận để xác định quyền và nghĩa vụ của các bên. Tập quán thương mại
thường được áp dụng để điều chỉnh các quan hệ hợp đồng khi các mối quan hệ
này không được điều chỉnh bởi hợp đồng giữa các bên hoặc điều ước quốc tế
và luật pháp của các quốc gia. Trong mối quan hệ với hợp đồng, tập quán được
áp dụng theo nguyên tắc: Nếu pháp luật không có quy định, các bên không có
thỏa thuận và không có thói quen đã được thiết lập giữa các bên thì tập quán
được áp dụng nhưng không được trái với những quy định của pháp luật.
1.3. Cơ sở lý luận cho việc áp dụng Bộ luật Dân sự trong ký kết hợp
đồng thƣơng mại
Mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật hợp đồng dân sự và pháp luật
hợp đồng thương mại được xem xét trên cơ sở nguồn điều chỉnh hợp đồng


20

thương mại. Theo đó, hợp đồng thương mại có thể được điều chỉnh bởi nhiều
nguồn luật như pháp luật quốc gia, các Điều ước quốc tế, tập quán thương
mại, án lệ hay học thuyết pháp lý. Ở góc độ pháp luật quốc gia, nguồn luật
điều chỉnh hợp đồng thương mại bao gồm các quy định thành văn trong các
bộ luật, đạo luật chuyên ngành hoặc các văn bản dưới luật để điều chỉnh quan


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status