MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1. LÝ LUẬN CHUNG VỀ TRUNG TÂM LOGISTICS .................. 4
1.1. Lý luận chung về logistics .......................................................................... 4
1.1.1. Khái niệm logistics ................................................................................ 4
1.1.2. Phân loại logistics ................................................................................. 5
1.1.3. Vai trò của logistics ............................................................................... 7
1.2. Khái quát chung về trung tâm logistics ..................................................... 9
1.2.1. Khái niệm về trung tâm logistics............................................................ 9
1.2.2. Các thành phần của trung tâm logistics ............................................... 11
1.2.3. Các đặc điểm của trung tâm logistics .................................................. 12
1.2.4. Chức năng, vai trò của trung tâm logistics .......................................... 14
1.2.5. Điều kiện để xây dựng một trung tâm logistics .................................... 15
1.3. Tổng quan phát triển trung tâm logistics tại một số quốc gia trên thế
giới.................................................................................................................... 16
1.3.1. Tổng quan phát triển trung tâm logistics tại một số quốc gia Châu Âu 16
1.3.2. Tổng quan phát triển trung tâm logistics tại một số quốc gia Châu Á .. 19
CHƯƠNG 2. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN CÁC TRUNG TÂM LOGISTICS
TẠI HÀN QUỐC ................................................................................................. 23
2.1. Khái quát thực trạng phát triển logistics tại Hàn Quốc ......................... 23
2.1.1. Tình hình chung của ngành logistics tại Hàn Quốc.............................. 23
2.1.2. Những thuận lợi của ngành logistics tại Hàn Quốc ............................. 25
2.1.3. Một số hạn chế của ngành logistics Hàn Quốc .................................... 29
2.2. Thực trạng quá trình phát triển các trung tâm logistics tại Hàn Quốc . 31
2.2.1. Định hướng và chính sách phát triển trung tâm logistics của Hàn Quốc
...................................................................................................................... 31
2.2.2. Thực trạng phát triển các trung tâm logistics tại Hàn Quốc ................ 37
2.3. Kinh nghiệm phát triển trung tâm logistics tại Hàn Quốc ..................... 52
2.3.1. Đưa ra chính sách phát triển dựa vào việc xác định trước nhu cầu tương
lai.................................................................................................................. 53
Bảng 1.1: Bảng xếp hạng chất lượng dịch vụ các công ty logistics
trên thế giới (2011)
8
2
Bảng 1.2: Đặc khu phân phối tại cảng Rotterdam
18
3
Bảng 2.1: Tỉ trọng ngành logistics trong nền kinh tế Hàn Quốc
(2007)
24
4
Bảng 2.2: Top 5 cảng container lớn nhất thế giới năm 2011
27
5
Bảng 2.3: Ngành logistics ở Hàn Quốc từ 2005-2008
29
48
11
Bảng 2.9: Mục tiêu và kết quả thực tế hoạt động tại sân bay
Incheon
49
12
Bảng 2.10: Các dịch vụ khuyến mại tại sân bay quốc tế Incheon
49
13
Biểu đồ 1.1: Tác động của việc gia tăng hợp đồng logistics đối với
ngành sản xuất (2011-2012)
7
14
Biểu đồ 2.1: Lượng hàng hóa lưu thông tại cảng Busan 2009-2011
42
15
Third party logistics
Logistics bên thứ ba
4PL
Fourth party logistics
Logistics bên thứ tư
5PL
Fifth party logistics
Logistics bên thứ năm
ACI
Airport Council International
Hội đồng hàng không quốc tế
ADB
Asian Development Bank
Ngân hàng phát triển Châu Á
B2B
EU
European Union
Liên minh Châu Âu
FAZ
Free Access Zone
Khu vực tiếp xúc thương mại tự
do
FEZ
Free Economic Zone
Khu vực kinh tế tự do
FTZ
Free Trade Zone
Khu vực thương mại tự do
GDP
Gross Domestic Product
Tổng thu nhập quốc nội
Quốc
Korean Interntional Trade
Hiệp hội thương mại quốc tế Hàn
Association
Quốc
KTLOGIS
Intergrated Logistics Network
Mạng logistics tích hợp
KLNet
Korea Logistics Network
Mạng lưới logistics Hàn Quốc
KMPA
Korea Maritime Port
Cảng vụ Hàng Hải Hàn Quốc
KITA
North America Free Trade
Khu vực thương mại tự do Bắc
Agreement
Mỹ
Port Management Information
Hệ thống Thông tin Quản lý cảng
System
OECD
Khối các nước công nghiệp phát
triển
TCR
Trans China Railway
Đường sắt xuyên Trung Quốc
TKR
Trans Korea Railway
Tuyến đường sắt xuyên Hàn Quốc
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trước thực tiễn bối cảnh u ám của kinh tế thế giới trong những năm gần đây,
Việt Nam cũng như nhiều nước đang phát triển khác cần phải có những hành động
cụ thể đối phó với những biến đổi bất ngờ và tìm cho mình một hướng phát triển tốt
nhất, là một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu; chứ không chỉ là một quan sát
viên. Tuy nhiên, Việt Nam hiện nay vẫn là một điểm trũng của thế giới: một nước
có nền kinh tế đang phát triển, với trình độ kỹ thuật vẫn còn lạc hậu, năng suất lao
động còn hạn chế, quản lý chưa hiệu quả dẫn đến giá thành sản phẩm vẫn cao hơn
các nước khác xung quanh.
Do đó, cần có những biện pháp cải thiện những yếu kém đó, và logistics là
một trong số các phương pháp hiệu quả khắc phục cho những yếu kém trên. Dựa
trên sự tích hợp nhiều quy trình trong quá trình quản lý sản xuất nối tiếp nhau, cung
ứng sản phẩm và dịch vụ từ nhà sản xuất đến tận tay người tiêu dùng cuối cùng,
nhiều quốc gia đã áp dụng thành công logistics thương mại nâng cao hiệu quả quy
trình tổng thể, giảm chi phí, hạ giá thành sản phẩm, nâng cao sức cạnh tranh của
hàng hóa dịch vụ trên thị trường, điển hình như Hàn Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản, Hồng
Kông và một số các quốc gia khác được coi là những điển hình logistics trên thế
giới, là bài học cho những nước đang phát triển học hỏi sau này. Vì vậy, Việt Nam một nước có nền kinh tế chuyển đổi - cũng cần nhanh chóng bắt kịp với xu hướng
của thế giới, tiến tới mục tiêu trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị toàn cầu và
trực tiếp thúc đẩy nền kinh tế trong nước đi lên.
Thực tế cho thấy, mô hình trung tâm logistics của Hàn Quốc, dù phát triển
sau các nước phát triển như Đan Mạch, Phần Lan, Anh, Nhật rất nhiều nhưng bằng
tinh thần học hỏi và sự nhạy bén của mình, Hàn Quốc đã có sự học hỏi tận dụng
những kinh nghiệm của các quốc gia đi trước, lấy đó làm nền tảng cho sự phát triển
của ngành dịch vụ logistics trong nước, đã đem lại những thành công nhất định, đưa
Hàn Quốc trở thành một trong số những quốc gia có tốc độ phát triển cao vào bậc
nhất của Châu Á trong những năm qua. Cảng Busan của Hàn Quốc, thuộc khu công
Đối tượng nghiên cứu là quá trình hình thành phát triển của các trung tâm
logistics tại Hàn Quốc, thực trạng phát triển ngành logistics Việt Nam
3
Phạm vi nghiên cứu của đề tài là quá trình hình thành và phát triển của các
trung tâm logistics tại Hàn Quốc từ đầu những năm 1980 đến nay và quá trình phát
triển logistics Việt Nam những năm gần đây.
6. Kết quả nghiên cứu dự kiến
Thông qua việc nghiên cứu về quá trình hoạt động của các trung tâm
logistics tại Hàn Quốc, chúng em mong muốn:
• Tìm ra những yếu tố quan trọng tạo nên sự thành công trong quá trình
hình thành và phát triển của các trung tâm logistics tại Hàn Quốc từ năm 1980 đến
nay.
• Phân tích thực trạng và xu hướng phát triển hoạt động logistics tại Việt
Nam, so sánh với các trung tâm logistics tại Hàn Quốc để đúc rút những bài học
kinh nghiệm và đưa ra các kiến nghị cho quá trình phát triển ngành logistics tại Việt
Nam.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần Mục lục, Danh mục từ viết tắt, Danh mục bảng biểu hình vẽ, Lời
mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, bài nghiên cứu được chia thành 3 Chương
với nội dung như sau:
• Chương 1: Lý luận chung về trung tâm logistics
• Chương 2: Kinh nghiệm phát triển trung tâm logistics tại Hàn Quốc
• Chương 3: Giải pháp phát triển trung tâm logistics cho Việt Nam
4
5
nhau, các chức năng của logistics cũng bao gồm việc tìm nguồn đầu vào, hoạch
định sản xuất, đóng gói, dịch vụ khách hàng. Quản trị logistics là chức năng tổng
hợp kết hợp và tối ưu hóa tất cả các hoạt động logistics cũng như phối hợp hoạt
động logistics với các chức năng khác như marketing, kinh doanh, sản xuất, tài
chính, công nghệ thông tin”. Khái niệm chuỗi cung ứng rộng hơn, bao gồm cả
logistics và quá trình sản xuất. Ngoài ra, chuỗi cung ứng chú trọng hơn đến hoạt
động thu mua hàng trong khi logistics giải quyết về chiến lược và phối hợp giữa
marketing và sản xuất.
“Logistics được xem là việc lập kế hoạch, tổ chức và kiểm soát tất cả các
hoạt động trong dòng chu chuyển nguyên vật liệu từ nguyên vật liệu thô cho đến
thành phẩm cuối cùng và dòng chu chuyển ngược lại, với mục đích thỏa mãn nhu
cầu và ước muốn của khách hàng và các bên có lợi ích khác, nói cách khác, cung
cấp một dịch vụ khách hàng tốt, chi phí thấp, với vốn bất động thấp và ít để lại hậu
quả về mặt môi trường” (Jonsson & Mattsson 2005). Khái niệm này đã chỉ ra chức
năng, phạm vi và mục đích của hoạt động logistics.
Nhìn chung, logistics có thể hiểu là một tập hợp các hoạt động liên quan đến
quá trình luân chuyển sản phẩm, dịch vụ, thông tin từ điểm đầu tiên của quá trình
sản xuất đến khi phân phối đến khách hàng, đáp ứng được nhu cầu của khách hàng,
với yêu cầu là đúng hình thái, đúng thời gian, và đúng địa điểm.
1.1.2. Phân loại logistics
1.1.2.1. Theo hình thức hoạt động:
• Logistics bên thứ nhất (1PL – first party logistics): người chủ sở hữu hàng
hóa tự mình tổ chức và thực hiện hoạt động logistics nhằm đáp ứng nhu cầu bàn
thân.
• Logistics bên thứ hai (2PL – second party logistics): người cung cấp dịch
vụ cho hoạt động đơn lẻ trong chuỗi hoạt động logistics để đáp ứng nhu cầu chủ
hàng chưa tích hợp hoạt động logistiscs.
nguyên liệu đầu vào từ nguồn cung cấp trực tiếp cho tới các tổ chức.
• Logistic đầu ra (Outbound logistics): toàn bộ các hoạt động hỗ trợ dòng
sản phẩm đầu ra cho tới tay khách hàng tại các tổ chức.
• Logistic ngược (Logistics reverse): các dòng sản phẩm, hàng hóa hư
hỏng, kém chất lượng, dòng chu chuyển ngược của bao bì đi ngược chiều trong
kênh logistics.
7
1.1.3. Vai trò của logistics
1.1.3.1. Đối với cả nền kinh tế:
• Tạo ra lợi thế cạnh tranh quốc gia, mở rộng thị trường và thúc đẩy hội
nhập kinh tế quốc tế.
Nhiều nghiên cứu đã kiểm định ảnh hưởng của chi phí vận chuyển đến dòng
lưu chuyển thương mại. Limão và Venables (2001) đã tìm ra mối liên hệ chặt chẽ
giữa chi phí vận chuyển và dòng lưu chuyển thương mại quốc tế, giữa chất lượng
của cơ sở hạ tầng và chi phí vận tải, và đi đến kết luận rằng đầu tư cơ sở hạ tầng giữ
vai trò chủ chốt đối với các nền kinh tế phát triển dựa vào xuất khẩu. Dollar,
Hallward-Driemeier và Mengistae (2004) cho rằng các doanh nghiệp ở các quốc gia
với môi trường đầu tư bao gồm cả điều kiện về logistics tốt hơn có khả năng thành
công hơn trong việc thâm nhập thị trường quốc tế và thu hút đầu tư FDI. Hummels
(2001) thông qua kiểm định mô hình với các biến về khoảng cách và thời gian vận
chuyển tính theo ngày đối với hoạt động nhập khẩu từ 200 nước trên thế giới vào
Mỹ bằng đường biển và đường hàng không đã ước tính được những giá trị tiềm tàng
của việc tiết kiệm thời gian vận chuyển, cụ thể là thời gian vận chuyển giảm 1 ngày
thì kim ngạch nhập khẩu có thể tăng thêm 1% đối với tất cả các mặt hàng và 1,5%
đối với sản phẩm công nghiệp.
• Logistics hỗ trợ sự phát triển của các ngành khác đặc biệt là lĩnh vực sản
xuất và trở thành một bộ phận quan trọng trong GDP ở mỗi quốc gia.
Lợi ích địa điểm: là giá trị cộng thêm vào sản phẩm qua việc tạo cho
nó khả năng trao đổi hoặc tiêu thụ đúng vị trí.
Lợi ích thời gian: là giá trị được sáng tạo ra bằng việc tạo ra khả năng
để sản phẩm tới đúng thời điểm mà khách hàng có nhu cầu, những lợi ích
này là kết quả của hoạt động logistics.
Logistics góp phần tạo ra tính hữu ích về thời gian và địa điểm cho sản
phẩm, nhờ đó sản phẩm có thể đến đúng vị trí cần thiết vào thời điểm thích hợp.
Trong xu hướng toàn cầu hóa, khi thị trường tiêu thụ và nguồn cung ứng ngày càng
trở nên xa cách về mặt địa lý thì các lợi ích về thời gian và địa điểm nhờ logistics
trở nên đặc biệt cần thiết cho việc tiêu dùng sản phẩm. Nghiên cứu của Similarly,
Subramanian, Anderson và Lee (2005) cũng chỉ ra rằng thời gian thông quan dài có
tác động ngược chiều đối với hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
• Logistics là công cụ chiến lược cho các nhà quản lý hoạt động kinh doanh
trong doanh nghiệp nhằm tìm kiếm lợi nhuận. Quản lý hoạt động logistics và quản
trị chuỗi cung ứng là không chỉ giúp doanh nghiệp giảm thiểu chi phí mà còn
khuyến khích tăng doanh thu, tạo ra lợi nhuận thông qua các chiến lược thâm nhập
thị trường, tăng thị phần, tạo khác biệt trong dịch vụ khách hàng…
1.2. Khái quát chung về trung tâm logistics
1.2.1. Khái niệm về trung tâm logistics
Mặc dù ở Việt Nam, khái niệm trung tâm logistics còn chưa phổ biến nhưng
ở các nước phát triển, khái niệm trung tâm logistics đã hình thành từ lâu và được sử
dụng thường xuyên trong thực tiễn kinh doanh. Cho đến nay đã có rất nhiều khái
niệm và định nghĩa tương tự nhau về trung tâm logistics. Theo Europlatforms2
(2004) thì “Trung tâm logistics là một khu vực bao gồm các hoạt động liên quan
đến vận tải, logistics và phân phối hàng hóa nội địa cũng như quốc tế, được thực
hiện bởi nhiều chủ thể khác nhau”.
2
Hiệp hội trung tâm logistics châu Âu
các khu vực đó. Những thuật ngữ này thường được hình thành theo chính sách phát
triển từng vùng như là một sáng kiến chung của các công ty, nhà kinh doanh vận tải
liên hợp, chính quyền địa phương, và chính quyền trung ương và/hoặc Phòng
thương mại.
11
Mặc dù được gọi bằng nhiều cái tên, trung tâm logistics đề cập đến không
chỉ một điểm tập trung các dòng lưu chuyển hàng hoá, mà còn là nơi khuyến khích
thúc đẩy kinh doanh thương mại cũng như là tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát
triển của nền kinh tế (Hamzeh et al. 2007). Trung tâm logistics đóng vai trò như
một đầu mối kết nối vận tải nhằm mục đích nâng cao chất lượng chuyên chở. Cơ sở
hạ tầng và các nguồn lực được kỳ vọng là sẽ đem lại giá trị cho những người tham
gia khai thác kinh doanh ở đây. Lợi thế về chi phí, lợi thế về chất lượng, và lợi thế
về môi trường là những khía cạnh được nhấn mạnh đối với vận tải liên hợp để có
được lợi thế cạnh tranh lâu dài và đáng kể (Jensen 2008).
Các công ty cũng có thể cải thiện hiệu suất kinh tế và sản xuất thông qua việc
hợp tác với nhau. Cơ quan quản lý phải là một chủ thể duy nhất và trung lập về mặt
pháp lý. Việc thiết lập mối quan hệ đối tác nhà nước - tư nhân (public–private
partnership - PPP) được ưu tiên bởi vì như thế có thể tách rời việc quản lý trung tâm
khỏi hoạt động thương mại mang tính cá nhân (Europlatforms, 2004). Trong thực
tế, cũng có các trung tâm logistics tư nhân đã trở nên rất phổ biến đặc biệt là ở
Pháp, Anh, và Hoa Kỳ. Cơ cấu tổ chức cũng được nhấn mạnh trong định nghĩa của
trung tâm logistics vì "một chủ thể trung lập về mặt pháp lý có thể hành động thay
mặt cho trung tâm logistics trong khuôn khổ giao thông vận tải, và đảm bảo lợi ích
chung của các công ty tại trung tâm" (Bentzen et al. 2003).
Tất cả những khái niệm logistics nêu trên đều chủ yếu quan tâm đến khía
cạnh hoạt động của trung tâm logistics với sự nhấn mạnh vào cơ sở hạ tầng, chức
năng của trung tâm logistics và các dịch vụ mà nó cung cấp.
vận tải liên hợp. Kho chứa là cơ sở hạ tầng nơi diễn ra các hoạt động kinh doanh
của những người khai thác hoạt động vận tải. Có nhiều loại kho chứa, phụ thuộc
vào hoạt động của các nhà khai thác đó và hàng hóa do họ xử lý: kho chứa chung để
lưu kho, kho chứa lớn (cho hoạt động logistics), kho chứa có chuyển tiếp đường sắt
– đường bộ, kho chứa có điều hòa, bến liên hợp…
• Đặc điểm về dịch vụ
Nói một cách ngắn gọn, trung tâm logistics là một khu vực được quy hoạch
và xây dựng để quản lý tốt nhất tất cả các hoạt động liên quan đến quá trình vận
chuyển hàng hóa. Cũng như với một khu vực dân cư, khu vực vận chuyển hàng hóa
13
không chỉ bao gồm cơ sở hạ tầng mà còn gồm cả các dịch vụ cần thiết để thỏa mãn
và đáp ứng các yêu cầu phát sinh từ hoạt động vận tải chủ yếu của nó. Các dịch vụ
thường thấy ở một trung tâm logistics là: khu vực hải quan, bưu điện/điện thoại
công cộng/dịch vụ xe buýt, khu vực xếp/dỡ hàng, nhà hàng/quán cà phê…
• Chất lượng vận tải và sự phát triển vận tải liên hợp
Các dịch vụ tiêu chuẩn chất lượng cao chắc chắn là một trong những yếu tố
quan trọng nhất trong việc đảm bảo khả năng cạnh tranh của các công ty, đặc biệt là
trong hoàn cảnh hiện nay cạnh tranh có nghĩa là phải tồn tại được dưới tác động của
quá trình toàn cầu hóa. Trung tâm logistics có thể cung cấp cho hệ thống sản xuất
trong khu vực những giải pháp tốt nhất về hoạt động logistics, vận tải và lưu kho.
Điều này liên quan đến việc kiểm soát cả sự gia tăng trong chi phí vận chuyển và
khả năng cạnh tranh về năng suất công nghiệp. Mục tiêu chính của tất cả những
hoạt động bên trong một trung tâm logistics là để đảm bảo mức độ chất lượng cao,
tạo ra các hiệu ứng tích cực với với hệ thống giao thông vận tải như: tối ưu hóa của
chuỗi logistics, tối ưu hóa việc sử dụng xe vận chuyển, tối ưu hóa việc sử dụng kho
chứa, tối ưu hóa nguồn nhân lực tổ chức, đồng thời giảm tổng chi phí vận chuyển,
giảm tổng số chi phí công nghiệp, giảm chi phí nhân sự, và tăng tổng doanh thu của
• Lưu kho: lưu kho ở trung tâm logistics có thể làm giảm chi phí chuỗi
cung ứng nhờ việc làm giảm chi phí hàng tồn kho và có thể đạt được lợi thế kinh tế
theo quy mô khi mua hàng. Những biến động trong nhu cầu qua các dự án khác
nhau được kết hợp vào một lượng tổng hàng tồn kho nên số lượng hàng phải lưu
kho để dự phòng cho những biến đổi đó cũng sẽ giảm đi.
• Vận tải: Phụ thuộc vào vị trí và chức năng của trung tâm logistics, chi phí
giao dịch có thể thấp hơn hoặc cao hơn tùy theo sự đánh đổi giữa chi phí vận
chuyển trong và ngoài nước. Thời gian vận chuyển cũng có thể ngắn hơn tuy nhiên
còn phụ thuộc vào vị trí của trung tâm và các yếu tố khác.
• Phân phối: trung tâm có thể áp dụng các phương pháp phân phối khác
nhau, hàng hóa được lưu trữ tại một trung tâm logistics có thể được cung cấp với
thời gian tối ưu nhằm đảm bảo hiệu quả của các dự án kinh doanh của các chủ thể.
• Lắp ráp: trung tâm logistics có thể có khả năng lắp ráp để cung cấp các
sản phẩm thực hiện theo đơn đặt hàng chỉ trong một thời gian ngắn. Sản phẩm có
thể được đem đến các trung tâm logistics với các sản phẩm thiết kế theo đơn đặt
hàng để tạo thành các gói lắp ráp.
15
• Gom hàng, sắp xếp và chia hàng: một mặt, hàng mua rời ở mức giá chiết
khấu có thể được phân chia ở trung tâm logistics, sắp xếp lại, và sau đó chuyển đi.
Mặt khác, hàng hóa đến từ các nhà cung cấp khác nhau có thể được gom lại và
chuyển đến một người nhận duy nhất.
• Quản lý mạng lưới phân phối: một trung tâm logistics có thể được thiết
kế nhằm giải quyết và tối ưu hóa việc phân phối hàng hóa bằng việc đưa hàng lên
phương tiện vận chuyển và chọn ra một tuyến đường tốt nhất để chuyên chở. Các
phương tiện có thể tiếp nối nhau hoặc chuyển hàng trực tiếp tùy theo nhu cầu của
dự án.
• Theo dõi giao hàng và đóng gói: sử dụng hệ thống thông tin hiện đại
kết hợp với hệ thống công nghệ thông tin và thương mại điện tử tiên tiến, cũng như
các dịch vụ hỗ trợ khác nhằm thực hiện tốt nhất các chức năng và vai trò của mình.
(Trần Sĩ Lâm, n.d.).
1.3. Tổng quan phát triển trung tâm logistics tại một số quốc gia trên thế giới
Khi những rào cản thương mại dần bị dỡ bỏ và nhu cầu cho dịch vụ logistics
cũng như chi phí tăng lên, các công ty đa quốc gia phải thay đổi cách họ khai thác
các nguyên liệu, sản xuất và phân phối sản phẩm. Theo đó, một trong những vấn đề
căn bản đáng quan tâm của Chính quyền các cảng biển chính là kiểm nghiệm những
phương thức đảm bảo tối ưu hóa các lợi thế cạnh tranh. Những lợi ích tổng thể của
việc có một trung tâm logistics cung cấp các chuỗi dịch vụ giá trị gia tăng, bên cạnh
việc giảm chi phí vận hành có thể thấy rõ ở trung tâm logistics thành công tại cảng
Rotterdam và Singapore, cũng như một vài cảng khác tại Nhật Bản..
1.3.1. Tổng quan phát triển trung tâm logistics tại một số quốc gia Châu
Âu
Điển hình cho trung tâm logistics ở châu Âu là cảng Rotterdam ở Hà Lan.
Cảng Rotterdam thực sự đã đạt được những thành công nhất định trong việc thu hút
các trung tâm logistics của khu vực châu Âu và những hoạt động kinh tế liên quan
đến khu vực cảng. Thực tế, Hà Lan đã thu hút gần 60% trong tổng số các trung tâm
logistics ở các nước Châu Á và các công ty đa quốc gia ở Bắc Mỹ đang hoạt động
tại Châu Âu. Rất nhiều các công ty nước ngoài đã thành lập một trung tâm logistics
thuộc khu vực Châu Âu tại một cảng ở Hà Lan sau đó đã quyết định rời trụ sở
thương mại tại Châu Âu, trung tâm dịch vụ khách hàng và Nghiên cứu – phát triển
thị trường đến Hà Lan. Đó là một trong những nguyên nhân quan trọng tại sao Hà
17
Lan có thể duy trì tốc độ phát triển kinh tế khá cao mặc dù môi trường kinh doanh ở
Châu Âu ngày càng khốc liệt.
Sự phát triển của Hà Lan như là một trung tâm logistics cho các công ty quốc
Rotterdam có thể được phân loại như một siêu trung tâm logistics, được cấu thành
từ ba Đặc khu phân phối: Eemhaven, Botlek và Massvalkte:
Bảng 1.2: Đặc khu phân phối tại cảng Rotterdam
Đặc khu phân
phối
Ngày vận
hành
Diện tích (m2)
Eemhaven
(EDC)
1989
237.000
Ghi chú
Gần cảng chính của ETC
Gần Khu vực Cảng Botlek
Botlek
1990
GĐ 1: 1998
Massvalkte
vững vào các trung tâm phân phối logistics với hy vọng thu hút những chủ tàu và
các công ty xuất-nhập khẩu. Tại cảng Rouen, nơi mà hầu hết đất được sử dụng cho
dịch vụ logistics đều đã được thuê, khu vực logistics đã thu hút thương mại nhanh
chóng bằng cách ưu đãi cho các nhà xuất- nhập khẩu, tiết kiệm chi phí vận tải, lưu
19
kho và nhân công. Một câu chuyện thành công hơn có thể được thấy ở Barcelona,
nơi mà tạo ra một khu vực hoạt động logistics năm 1992. Bốn mươi công ty đã đặt
các cửa hàng trên mạng, tạo ra 9.000 công việc và hoạt động kinh tế, doanh thu bền
vững.
1.3.2. Tổng quan phát triển trung tâm logistics tại một số quốc gia Châu Á
Khu vực Châu Á là nơi duy nhất có kết hợp phát triển giữa kinh tế và xã hội.
Mỗi đất nước trong khu vực đã không ngừng phát triển nền kinh tế lạnh mạnh cho
khu vực và toàn cầu chủ yếu thông qua vận tải đường biển. Đa số các quốc gia đều
có tiềm năng về địa lý để thiết lập và phát triển những cảng mà có thể trở thành
những trung tâm logistics. Mặc dù tốc độ công nghiệp hóa, hiện đại hóa các cảng
diễn ra nhanh chóng diễn ra trong khu vực, lĩnh vực này vẫn còn hạn chế yếu kém
trong quản lý, điều tiết quá mức, và bị hạn chế trong hoạt động. Những cảng thuộc
khu vực này đã không tập trung nỗ lực vào việc tăng mức độ hiệu quả của các dịch
vụ giá trị gia tăng mà những khách hàng ngày nay yêu cầu.
1.3.2.1. Cảng Singapore, Singapore
Cảng Singapore cũng đã giành được những thành công, được coi như là hiện
tượng, bằng cách trở thành một trung tâm vận tải và logistics và bằng cách thu hút
những công ty nước ngoài và những công ty sản xuất, lắp ráp đa quốc gia. Các
chuyên gia vận tải cho rằng Singapore có thể không hơn một vài quốc gia khác
trong khu vực Châu Á, về vị trí địa – kinh tế chiến lược. Thay vào đó, Singapore có
được những thuận lợi chủ yếu bởi nó được xây dựng những cảng vận tải trước khi
xuất hiện các nhu cầu, dưới ảnh hướng của môi trường kinh tế và văn hóa kinh
do của nó. Việc thiết lập các khu vực mậu dịch phi thuế quan làm đơn giản hóa
chung chuyển thương mại ở những hàng hóa phải chịu thuế và hạn ngạch cũng đóng
góp cho sự thành công của Singapore như là những trung tâm sản xuất lưu kho và
phân phối.
Hiện nay, Singapore có 7 trung tâm thương mại mậu dịch phi thuế quan
(FTZ), sáu trong số đó phục vụ hàng hóa chuyên chở bằng đường biển và một cho
hàng hóa chuyên chở bằng đường hàng không, gồm Keppel Wharves, Khu cảng
Tanjong Pagar, Cảng Jurong, Sembawang Wharves, Pasir Panjang Wharves, Keppel
Distripark và Sân bay Changi.
Trong số các FTZ này, Chính quyền cảng PSA cung cấp hơn hai triệu mét
vuông diện dích kho bãi gồm nhà xưởng và trên không, và một chuỗi các trang thiết