KĨ NĂNG GIAO TIẾP CỦA TRẺ TỰ KỶ LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC - Pdf 51

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

NGUYỄN PHƢƠNG THẢO

KĨ NĂNG GIAO TIẾP CỦA TRẺ TỰ KỶ

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Hà Nội – 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------

NGUYỄN PHƢƠNG THẢO

KĨ NĂNG GIAO TIẾP CỦA TRẺ TỰ KỶ

Chuyên ngành: Tâm lý học
Mã số: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÝ HỌC

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Thị Mai Lan


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự hướng

Chữ viết tắt

Đọc là

1

ĐTB

Điểm trung bình

2

KNGT

Kĩ năng giao tiếp

3

GV

Giáo viên

4

ĐLC

Độ lệch chuẩn


MỤC LỤC

3.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ....................... 62
3.3. Đề xuất một số biện pháp nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ
69
Tiểu kết chƣơng 3......................................................................................... 78
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.......................................................................81
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................ 84
PHỤ LỤC.......................................................................................................88


DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1. Phân bố mẫu nghiên cứu................................................................37
Bảng 3.1. Đánh giá chung về KNGT của trẻ tự kỷ.........................................47
Bảng 3.2. Đánh giá nhóm kĩ năng tập trung chú ý.........................................48
Bảng 3.3. Đánh giá nhóm kĩ năng bắt chước.................................................50
Bảng 3.4. Đánh giá nhóm kĩ năng luân phiên................................................52
Bảng 3.5. Đánh giá nhóm kĩ năng nghe hiểu ngôn ngữ.................................54
Bảng 3.6. Đánh giá nhóm kĩ năng sử dụng ngôn ngữ....................................56
Bảng 3.7. KNGT của trẻ tự kỷ so sánh theo biến số mức độ tự kỷ.................58
Bảng 3.8. KNGT của trẻ tự kỷ so sánh theo biến số độ tuổi...........................60
Bảng 3.9. Nhóm yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ theo ý
kiến của giáo viên............................................................................................62
Bảng 3.10: Những yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ theo
ý kiến của giáo viên.........................................................................................63


MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Rối loạn tự kỷ (Autism Spectrum Disorders – ASD) ở trẻ em thể hiện
bằng sự sút kém nghiêm trọng và lan tỏa các chức năng tâm thần trên các
phương diện: tương tác xã hội kém phát triển nghiêm trọng, ngôn ngữ phát

lại càng khó khăn hơn. Tuy nhiên, nếu chúng ta hiểu những khó khăn đó và
tạo ra được một môi trường giao tiếp thân thiện, tích cực để hỗ trợ trẻ khắc
phục những khó khăn trên thì trẻ sẽ dễ dàng hòa nhập cộng đồng hơn.
Ở Việt Nam hiện nay, các công trình nghiên cứu về giao tiếp của trẻ tự
kỷ còn rất ít. Chính vì những lý do nêu trên tôi quyết định chọn đề tài: “Kĩ
năng giao tiếp của trẻ tự kỷ” để làm luận văn tốt nghiệp cho mình. Từ đó
nhằm giúp chúng ta có cái nhìn cụ thể hơn về giao tiếp của những trẻ không
may mắc phải hội chứng tự kỷ.
2. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận, làm rõ thực trạng mư ́ c đô ̣kĩ năng giao tiếp của trẻ
tự kỷ và các yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ. Trên cơ sở
đó đề xuất một số biện pháp tâm lí giáo dục nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp
cho trẻ tự kỷ.
3. Đối tƣợng nghiên cứu
Mứ c đô ̣kĩ năng giao tiếp và các yếu tố ảnh hưởng tới kĩ năng giao tiếp
của trẻ tự kỷ.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
6.1. Xác định cơ sở lý luận nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ.
6.2. Nghiên cứ u thưc trạng mứ c đô ̣kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ và các
yếu tố ảnh hưởng đến kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ.
6.3. Đề xuất một số biện pháp tâm lý – giáo dục nhằm phát triển kĩ năng giao tiếp
cho trẻ tự kỷ.
5. Khách thể nghiên cứu


Chúng tôi tiến hành khảo sát khách thể bao gồm 88 trẻ tự kỷ, 40 giáo
viên dạy trẻ tự kỷ và 20 phụ huynh có con bị tự kỷ tại hai trung tâm Albert
Einstein và Happy House – Thành phố Hà Nội.
6. Giả thuyết nghiên cứu
Kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ bao gồm các nhóm kĩ năng: Kĩ năng tập

- Phương pháp thống kê toán học.
9. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mục lục, tài liệu tham khảo và phụ lục thì luận văn gồm có
ba phần:
- Phần mở đầu
- Phần nội dung: Gồm 3 chương, cụ thể:
+ Chương 1: Cơ sở lý luận về kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ
+ Chương 2: Tổ chức và phương pháp nghiên cứu
+ Chương 3: Kết quả nghiên cứu thực tiễn về kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ
- Phần kết luận và kiến nghị


Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KĨ NĂNG GIAO TIẾP CỦA TRẺ TỰ KỶ
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ
1.1.1. Các nghiên cứu trên thế giới về trẻ tự kỷ và kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ
Xung quanh vấn đề về tự kỷ đã có nhiều công trình khoa học nghiên
cứu để chỉ ra những biểu hiện, bản chất, nguyên nhân… của hội chứng này.
Tuy nhiên, để xác định các kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ thì các nghiên cứu
còn quá ít và chưa mang tính hệ thống. Song các tác giả trong và ngoài nước
cũng đã nêu ra một vài quan điểm, đánh giá có liên quan đến vấn đề kĩ năng
giao tiếp của trẻ tự kỷ.
Những nghiên cứu trên thế giới về trẻ tự kỷ:
Jean Marc Itard (1774 – 1838) đã tiếp nhận một cậu bé “hoang dã” tên
là Victor. Những mô tả cho thấy, cậu bé không có khả năng hiểu và biểu đạt
ngôn ngữ, không có khả năng giao tiếp hoặc nhận thức, cách ứng xử xa lạ với
cuộc sống của xã hội loài người. Victor bị mất khả năng giao tiếp về mặt xã
hội và không có khả năng nhận thức như trẻ bình thường. Ngày nay, người ta
cho rằng Victor chính là trẻ tự kỷ. Để khắc phục tình trạng này Itard đã nghĩ
rằng giáo dục trẻ tự kỷ khác với những trẻ khác [Dẫn theo 7].

M. Mahler cho rằng tự kỷ là biểu hiện không bình thường xuất phát từ
mối quan hệ mẹ con. Đứa trẻ mới sinh ra có mối quan hệ cộng sinh hòa mình
với người mẹ, đây là giai đoạn tự kỷ bình thường, sau đó đến giai đoạn chia
cách cá nhân hóa (nảy sinh tâm lý cá nhân). Có một số rối loạn trong quá trình
này, một điều gì đó không ổn trong giai đoạn tách mẹ và cá nhân hóa. Cơ chế
tự kỷ gắn với sự mất khía cạnh hoạt hóa, mất sự phân biệt với cơ thể người
mẹ, nên đứa trẻ không có sức sống, mất ham muốn về xã hội. Chức năng của
trẻ tự kỷ mang ý nghĩa là thái độ phòng vệ cơ bản của đứa trẻ, không thể xây
dựng được định hướng đối với người mẹ. Đứa trẻ dính chặt vào người lớn và


dùng họ như một bộ phận để kéo dài cơ thể nó. Đây là cách đứa trẻ gạt ra
quyền năng của người mẹ trong giai đoạn đầu tiên.
Nghiên cứu của Robert Rosine Le Eost cho rằng, trẻ tự kỷ dạy cho
chúng ta một điều gì đó mà ta cần nghe. Thế giới của nó là thế giới tự phá
hoại mình, nó chối bỏ thế giới xung quanh và tất cả mọi người làm xuất hiện
hiện thực đối với nó như là một đồ vật. Trước gương nó cảm thấy một cái gì
đó rất khủng khiếp. Trẻ tự kỷ sống trong môi trường ngôn ngữ nhưng không
có lời riêng của nó, lời nói chỉ là sự kết nối máy móc, sự lặp lại mà nó không
thể hiểu. Trẻ tự kỷ tách biệt với người khác, không có nhu cầu giao tiếp với
người khác và luôn cảm thấy mình như bị nuốt chửng trong ham muốn của
mọi người.
Cũng từ những năm 60 của thế kỷ XX, những hiểu biết về tự kỷ đã có
những thay đổi hết sức lớn lao. Đặc biệt, nghiên cứu của Michael Rutter đã
chỉ ra rằng cách chăm sóc, giáo dục của cha mẹ không phải là nguyên nhân
chính dẫn đến việc trẻ bị tự kỷ [Dẫn theo 44, 45].
Trong những năm 70 và 80 của thế kỷ XX, người ta bắt đầu xem xét
đến khái niệm phổ tự kỷ. Trong cuốn sách “The Autistic Spectrum” (Hiện
tượng Tự kỷ), Lorna Wing (1978) đã tìm ra những dấu hiệu rối loạn tự kỷ liên
quan đến nhân vật “Sư huynh Juniper”. Theo nhận định của bà, người này có

giới thiệu những kĩ năng giao tiếp xã hội, giúp trẻ giải quyết những trở ngại
trong việc kết giao bạn bè. Muốn giúp trẻ tự kỷ giao tiếp, phải tạo môi trường
giao tiếp cho trẻ, phải cho trẻ học, chơi với bạn thì mới làm xuất hiện, nảy
sinh nhu cầu giao tiếp. Tác giả đã giúp cho phụ huynh trẻ tự kỷ biết cách lựa
chọn môi trường can thiệp và giáo dục cho trẻ tự kỷ phù hợp để trẻ phát triển
kĩ năng giao tiếp.
Trong bài viết “Activities for young children” trên website aacp.com,
tác giả Steven Gutstin cho rằng để giúp trẻ phát triển kĩ năng giao tiếp cần
phải hình thành và phát triển mối quan hệ xã hội, giúp trẻ hiểu được bản thân


trẻ (tên gọi, các bộ phận cơ thể), hiểu được mối quan hệ giữa trẻ và các đồ vật
trong gia đình (tên gọi, đặc điểm, cách sử dụng), mối quan hệ giữa trẻ và các
sự vật, hiện tượng trong thế giới xung quanh. Tác giả đã giúp cho giáo viên,
phụ huynh biết được một phương pháp mới trong việc phát triển kĩ năng giao
tiếp cho trẻ tự kỷ.
Trong nhiều năm Mark L.Sunberg và Jack Michael cũng đã nghiên
cứu, mô tả đặc điểm giao tiếp của một nhóm khoảng từ 3 đến 6 trẻ, thường là
trẻ tự kỷ, trẻ chậm nói hoặc trẻ có một rối loạn phát triển nào đó. Đôi khi, tác
giả cũng nghiên cứu một nhóm đối chứng (trẻ bình thường) để so sánh đặc
điểm giao tiếp của các nhóm trẻ này [52]. Các nghiên cứu này cũng chỉ ra
rằng có mối liên hệ giữa mức độ tự kỷ với các biểu hiện của kĩ năng giao tiếp.
Trẻ tự kỷ ở mức đô nặng rất khó khăn trong việc hình thành ngôn ngữ diễn
đạt bằng lời nói. Hai ông cũng nhấn mạnh việc đưa nhiều hơn những nội dung
dạy yêu cầu và lời nói bên trong vào dạy trẻ tự kỷ [52] [53].
Một

số tác

giả

những vấn đề cơ bản, chung nhất về cách phát hiện sớm và can thiệp sớm mà
chưa nêu ra cách làm cụ thể ở một nội dung nào trong can thiệp sớm cho trẻ
tự kỷ.
Tác giả Võ Nguyễn Tinh Vân, người Úc gốc Việt đã xuất bản cuốn sách
"Để hiểu Tự kỷ" [44], "Nuôi con bị Tự kỷ" [45], "Tự kỷ và trị liệu" [46], giúp
hiểu rõ về tự kỷ ở trẻ em và giúp cho các phụ huynh biết cách chăm sóc, nuôi
con tự kỷ cũng như cách trị liệu cho trẻ tự kỷ.
Câu lạc bộ gia đình trẻ tự kỷ Hà Nội được thành lập năm 2002 và mở
trang web có tên là www.tretuky.com. Đây là nơi chia sẻ thông tin, tài liệu và
kinh nghiệm chăm sóc, giáo dục trẻ tự kỷ của phụ huynh và các cán bộ
chuyên môn. Bên cạnh đó, câu lạc bộ còn tổ chức nhiều các khóa tập huấn do
các chuyên gia trong nước và nước ngoài giảng dạy nhằm giúp cho mọi người
hiểu rõ hơn về tự kỷ, giúp trẻ tự kỷ hòa nhập cộng đồng. Những hoạt động
thiết thực mà câu lạc bộ tổ chức không chỉ mang lại lợi ích thiết thực cho trẻ
em mắc hội chứng tự kỷ, cha mẹ, giáo viên mà còn góp phần nâng cao nhận
thức cộng đồng về hội chứng tự kỷ ở Việt Nam. Các thông tin về trẻ tự kỷ
ngày càng phổ biến trên đất nước Việt Nam qua đài, báo, truyền hình.
Những nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ:
Các tác giả Hoàng Anh, Đỗ Thị Châu, Nguyễn Thạc khi bàn về kĩ năng
giao tiếp cho rằng “Kĩ năng giao tiếp thực chất là sự phối hợp phức tạp giữa
những chuẩn mực hành vi xã hội của cá nhân với sự vận động của cơ mặt, ánh


mắt, nụ cười (vận động môi miệng), tư thế đầu cổ, vai, tay, chân, đồng thời
với ngôn ngữ nói, viết” [3]. Dựa trên quan điểm đó, các tác giả đã đưa ra 3
nhóm kĩ năng giao tiếp: Nhóm kĩ năng định hướng giao tiếp, nhóm kĩ năng
định vị và kĩ năng điều khiển, điều chỉnh.
Năm 2004, tác giả Đỗ Thị Thảo với đề tài “Xây dựng kế hoạch hỗ trợ
giáo viên và cha mẹ có con tự kỷ trong chương trình can thiệp sớm tại Hà
Nội” [39] nhưng chưa đề cập đến mảng phát triển kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự

lứa tuổi tiểu học ở Hà Nội” cũng cho thấy đối tượng giao tiếp của trẻ tự kỷ
không còn bó hẹp trong quan hệ với cha mẹ, một bộ phận trẻ thích giao tiếp
với bạn bè. Về nội dung giao tiếp của trẻ tập trung vào 3 khía cạnh chính: (1)
nội dung liên quan đến kĩ năng tự phục vụ bản thân; (2) nội dung liên quan
đến việc học tập của trẻ; (3) nội dung liên quan đến đời sống xúc cảm tình
cảm. Như vậy, nội dung giao tiếp cho thấy gần như toàn diện những nhu cầu,
mong muốn thiết thực của trẻ tự kỷ. Khi giao tiếp hầu hết trẻ tự kỷ sử dụng cả
hai hình thức giao tiếp là ngôn ngữ và phi ngôn ngữ. Trẻ đã có sự kiềm chế về
hành vi của bản thân trong quá trình giao tiếp. Kết quả nghiên cứu các yếu tố
ảnh hưởng đến đặc điểm giao tiếp của trẻ tự kỷ chỉ ra: đặc điểm giao tiếp của
trẻ tự kỷ chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, cả yếu tố khách quan và chủ quan.
Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố là không giống nhau. Càng nhiều yếu tố
cùng tác động đến đặc điểm giao tiếp của trẻ tự kỷ thì mức độ ảnh hưởng
càng cao [29].
Nhìn chung, tại Việt Nam đã có một số công trình nghiên cứu về giao
tiếp cho trẻ tự kỷ, nhưng chưa có nhiều công trình đi sâu nghiên cứu về kĩ
năng giao tiếp của trẻ tự kỷ. Nhìn chung những công trình nghiên cứu trên đã
có những tác động nhất định đối với việc phát triển kĩ năng giao tiếp nhưng
vẫn còn thiếu những công trình nghiên cứu kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ. Do
đó, nghiên cứu về kĩ năng giao tiếp cho trẻ tự kỷ là một yêu cầu khách quan
và cần thiết.


Từ những cơ sở khoa học về lịch sử nghiên cứu vấn đề kĩ năng giao
tiếp của trẻ tự kỷ ở cả trong và ngoài nước đã tạo nền tảng lý luận vững chắc
cho đề tài nghiên cứu của tôi.
1.2. Một số vấn đề lý luận về kĩ năng giao tiếp của trẻ tự kỷ
1.2.1. Tự kỷ
1.2.1.1. Khái niệm tự kỷ
Có khá nhiều cách định nghĩa về tự kỉ hay rối loạn phổ tự kỷ:

muốn bù đắp lại hạn chế này bằng các cách giao tiếp khác, ví dụ như điệu bộ
hoặc kịch câm).
+ Sử dụng ngôn ngữ trùng lặp và rập khuôn hoặc sử dụng ngôn ngữ
khác thường.
+ Thiếu những hành động/cách chơi đa dạng hoặc thiếu hoạt động/cách
chơi bắt chước mang tính xã hội phù hợp với mức độ phát triển.
+ Những kiểu hành vi, những mối quan tâm và hoạt động lặp lại hoặc
rập khuôn, thể hiện ở ít nhất một trong những biểu hiện sau:
 Quá bận tâm tới một hoặc một số mối quan hệ có tính rập khuôn và bó hẹp
với một mức độ tập trung hoặc cường độ bất thường.
 Gắn kết cứng nhắc với những thủ tục hoặc nghi thức riêng biệt và không
mang tính chức năng.
 Có những biểu hiện vận động mang tính lặp đi lặp lại hoặc rập khuôn.
 Bận tâm dai dẳng đối với các bộ phận của cơ thể.
Khi xác định khái niệm tự kỷ, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác
giả Nguyễn Thị Hoàng Yến đã nêu ở trên và sử dụng khái niệm này làm khái
niệm công cụ nghiên cứu luận văn.
1.2.1.2. Phân loai tự ky
Theo quan điểm mô tả lâm sàng của bảng phân loại bệnh quốc tế (ICD10) [34] về các rối loạn tâm thần và hành vi, tự kỷ là một hội chứng (gồm


nhiều triệu chứng khác nhau) nằm trong mục “F84” với tên gọi “rối loạn phát
triển lan tỏa” (Pervasive Developmental Disorders). Tự kỷ là một nhóm các
rối loạn đặc trưng bởi các bất thường về hành vi, chất lượng giao tiếp và quan
hệ xã hội.
Rối loạn phát triển lan tỏa là các rối loạn được đặc trưng bởi những bất
thường về chất lượng trong các mối quan hệ xã hội và phương thức giao tiếp
cũng như có một số sở thích và hành vi bị thu hẹp, định hình, lặp đi lặp lại.
Các bất thường về chất lượng này hình thành một nét lan tỏa mà người ta tìm
thấy trong hoạt động của chủ thể ở mọi hoàn cảnh với nhiều mức độ khác

ngưỡng cảm giác (đánh, cấu, đập đầu vào tường không biết đau; trà xát lên da
không thấy rát), một số trẻ lại giảm ngưỡng cảm giác (không muốn ai chạm
vào cơ thể, chạm vào da của trẻ là trẻ sởn gai ốc, không dám đi chân đất, đi
trên thảm gai). Một số trẻ quá nhạy cảm với sự kích thích có thể phản ứng
mạnh mẽ với kết cấu, âm thanh to ồn, hoặc với vị và mùi khác lạ… Do đó
trong trị liệu trẻ tự kỷ người ta cũng quan tâm nhiều đến trị liệu giác quan hay
còn gọi là điều hòa cảm giác [Kolvin, I (1971), Studies in the childhood
psychoses Diagnostic criteria and classification].
Tri giác
Đặc điểm nổi bật trong tri giác của trẻ tự kỉ là tri giác theo kiểu bộ
phận, điều này đã được lí giải theo “Luận thuyết trung tâm của sinh học phân
tử” của nhà sinh vật học Francis Crick (1958), cụ thể:
- Trẻ thường quan tâm đến chi tiết, hơn là để ý đến tổng thể của sự vật, dẫn đến
trẻ thường đưa ra sự liên hệ dựa trên các chi tiết. Điều này cũng cho thấy
rằng, mức độ tư duy khái quát hóa của trẻ tương đối thấp.
- Ngoài ra, trẻ tự kỉ thường có xu hướng tri giác lệch lạc giống “thầy bói xem
voi” bởi vì khả năng thu nhận và xử lí thông tin đầu vào thiếu đầy đủ, thiếu
chính xác.


Những khó khăn về cảm giác và tri giác sẽ ảnh hưởng đến mức độ nhận
thức và hành vi của trẻ tự kỉ.
- Đặc điểm tư duy, tưởng tượng:
Trẻ tự kỉ cũng gặp những khó khăn nhất định trong tưởng tượng. Theo
Võ Nguyễn Tinh Vân (2002), trẻ tự kỉ có một số vấn đề về nhận thức như: trẻ
không nhận biết được những tình huống vui đùa, giả vờ, chơi tưởng tượng,
chơi đóng vai, trẻ gặp khó khăn khi thực hiện vai chơi trong các trò chơi
tưởng tượng [44]. Trẻ tự kỷ rất khó nhìn nhận được ý nghĩa của các sự việc đã
trải nghiệm hoặc ít có khả năng “rút kinh nghiệm”, do đó khả năng học tập
của trẻ gặp rất nhiều khó khăn; phần lớn trẻ có trí nhớ “vẹt” khá tốt và khả


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status