UBND TỈNH NAM ĐỊNH
SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BÁO CÁO SÁNG KIẾN
Tác giả: ....................
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ
Chức vụ: Giáo viên
Nơi công tác: Trường THPT ................-Sở GD&ĐT Nam Định
Nam Định, Tháng 4 năm 2017
THÔNG TIN CHUNG VỀ SÁNG KIẾN
1. Tên sáng kiến:
VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP “ TẬP KÍCH NÃO” TRONG DẠY HỌC
MÔN CÔNG NGHỆ 11 ĐỂ PHÁT TRIỂN TƯ DUY SÁNG TẠOCHO
HỌC SINH.
2. Lĩnh vực áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến được áp dụng trong lĩnh vực dạy học để bồi dưỡng cho người
học năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề.
3. Thời gian áp dụng sáng kiến:
Từ các năm học: 2014- 2015; 2015- 2016; 2016- 2017
4. Tác giả:
Họ và tên: ....................
Năm sinh: 12/07/1987
Nơi thường trú: Trực Đại- Trực Ninh- Nam định
Trình độ chuyên môn: Thạc sĩ
Chức vụ công tác: Giáo viên Công nghệ
Nơi làm việc: THPT ................
Địa chỉ liên hệ: ....................- THPT ................- tp Nam Định
……………………………………………………
1. Mô tả giải pháp trước khi tạo ra sáng kiến
6
…………………….
2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
7
………………………
III. Hiệu quả do sáng kiến mang lại
19
………………………………….
IV. Đề xuất, kiến nghị
23
V.Cam kết
23
……………………………………………………………
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
3
mới toàn diện từ mục tiêu, nội dung, phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá.
Môn Công nghệ là môn học trong chương trình giáo dục phổ thông có
nhiệm vụ cung cấp những kiến thức ban đầu và rèn luyện các kĩ năng lao động
kỹ thuật tối thiểu trong cuộc sống tự lập, làm cơ sở cho việc định hướng và lựa
chọn nghề nghiệp về sau cho học sinh. Nội dung của môn Công nghệ bao gồm
các lĩnh vực lao động thường gặp như lao động thủ công, lao động kĩ thuật đơn
giản, lao động dịch vụ sinh hoạt, lao động nông nghiệp, lao động gia đình v.v...
Trong quá trình học tập học sinh được giới thiệu làm quen với thực tiễn về các
quan hệ giữa người với người, giữa người với các công cụ lao động, với các đối
tượng lao động, với công nghệ sản xuất – dịch vụ, với môi trường thiên nhiên,....
qua đó hình thành thói quen và kĩ năng lao động tự phục vụ, tiến tới tự lập
nghiệp khi trưởng thành.
Một trong những đặc điểm đối tượng nghiên cứu của môn Công nghệ là
“tính đa chức năng và đa phương án”. Đặc điểm này vừa là yêu cầu vừa là điều
kiện để trong dạy học có thể phát triển tư duy sáng tạocho học sinh. Trong dạy
học môn Công nghệ ở trường trung học phổ thông, ngoài việc đáp ứng mục tiêu
môn học giáo viên cần xác định các biện pháp phát triển tư duy sáng tạovà khơi
dậy niềm ham mê sáng tạo cho học sinh giúp các em có thể vận dụng kiến thức
một cách sáng tạo vào cuộc sống lao động. Tuy nhiên, việc bồi dưỡng tư duy
5
sáng tạocho học sinh trong dạy học môn Công nghệ ở các trường trung học phổ
thông hiện nay vẫn chưa được chú trọng và quan tâm nghiên cứu để có được
những biện pháp hữu hiệu cụ thể.
Có khá nhiều biện pháp để phát triển tư duy nói chung và tư duy sáng tạo
nói riêng cho học sinh trong quá trình dạy học. Ở đây, tôi chỉ tập trung vào một
biện pháp là vận dụng phương pháp “Tập kích não” để hướng dẫn học sinh cách
phát hiện ra vấn đề. Tất nhiên, vấn đề do học sinh phát hiện ra không phải là mới
mà chỉ là mới đối với chính học sinh mà thôi.
yếu vẫn còn tự phát, chưa mang tính hệ thống; hầu hết tất cả giáo viên chưa chú ý
đến việc vận dụng các phương pháp luận sáng tạo trong dạy học, thậm chí chưa
nghe, chưa biết về nó. Vì vậy tôi đã đề xuất sử dụng phương pháp tập kích não
nhằm phát triển tư duy sáng tạocủa học sinh trong dạy học môn Công nghệ 11
nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn học. Vì trong bối cảnh khoa học và công
nghệ phát triển mạnh mẽ, lượng tri thức ngày càng nhiều, con người không thể
tiếp thu hết tri thức khi còn ngồi trên ghế nhà trường nên người học cần phải
được trang bị cách học tập, cách nghiên cứu, sự độc lập trong suy nghĩ, trong tư
duy tự giành lấy kiến thức cho mình. Phát triển tư duy sáng tạocho học sinh
trong quá trình dạy học là một trong những nhiệm vụ cần thiết của giáo dục nói
chung và dạy học môn Công nghệ nói riêng, góp phần cung cấp cho học sinh
cách thức tư duy, bước đầu có những ý tưởng sáng tạo, từ đó tạo tiền đề cho
những ý tưởng lớn trong tương lai gần. Ngoài những đặc điểm vốn có của tư
duy, tư duy sáng tạo còn có những đặc điểm riêng biệt. Cần tìm các biện pháp
tác động phù hợp với đặc điểm môn học cũng như đặc điểm tâm – sinh lý của
học sinh để phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh. Nội dung môn Công nghệ 11
gồm nhiều lĩnh vực kĩ thuật, kiến thức trừu tượng, nhiều thuật ngữ chuyên
ngành, nhiều hình vẽ phức tạp. Do đó phát triển tư duy sáng tạocho học sinh
trong quá trình học không những giúp học sinh nắm vững kiến thức mà còn
nâng cao hiểu biết vấn đề, tăng hứng thú học tập, tăng cường niềm tin và thúc
đẩy động lực học tập đúng đắn cho học sinh. Để hình thành và phát triển tư duy
sáng tạocho học sinh cần phải làm cho các em có lòng mong muốn lĩnh hội kiến
thức và vận dụng những kiến thức đó vào thực tiễn cuộc sống.
2. Mô tả giải pháp sau khi tạo ra sáng kiến
7
Các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo đã bắt đầu hình thành từ khi loài
người biết suy nghĩ và được quan tâm nghiên cứu nhiều từ thế kỷ thứ 19. Có thể
và ghi chép lại tất cả những đề xuất của nhóm 1 (không cần ghi tên người đề
xuất). Sau đó từng em trong nhóm 2 nêu nhận xét, phân tích những ý kiến mình
ghi được, có thể kèm theo đánh giá cho mỗi ý kiến được nhận xét trên. Trong
khi đó nhóm 1 chỉ nghe và ghi chép mà không được có ý kiến cắt ngang.
Bước 4: Tổng kết
GV và học sinh cùng tập hợp các ý kiến (giống nhau, khác nhau,... theo
cách bình chọn số đông; không bỏ qua ý kiến nào) nhận xét, chọn lọc các ý
tưởng, phương án phù hợp (tối ưu).
b. Vận dụng cụ thể
Ví dụ 1: Vận dụng phương pháp tập kích não trong dạy học bài “Hình
chiếu vuông góc”, phần vẽ kĩ thuật, môn Công nghệ 11.
Theo qui trình thiết kế bài dạy đã nêu ở trên, ta thực hiện như sau:
* Nghiên cứu nội dung bài dạy
Thực hiện Công của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc điều chỉnh nội dung
dạy học, thực hiện chương trình giảm tải, bài hình chiếu vuông góc chỉ dạy
phương pháp chiếu góc thứ nhất. Nội dung của phương pháp chiếu góc thứ nhất
được tóm tắt như sau:
- Vật thể được đặt trong góc tạo bởi 3 mặt phẳng hình chiếu vuông góc, vật
thể đặt giữa người quan sát và mặt phẳng hình chiếu:
+ Mặt phẳng thẳng đứng gọi là mặt phẳng hình chiếu dứng
+ Mặt phẳng nằm ngang gọi là mặt phẳng hình chiếu bằng
+ Mặt phẳng đồng thời vuông góc với mặt phẳng hình chiếu đứng và mặt
phẳng hình chiếu bằng gọi là mặt phẳng hình chiếu cạnh.
9
Hình 2.2. Phương pháp chiếu góc thứ nhất
- Dùng phép chiếu vuông góc lần lượt chiếu vật thể lên 3 mặt phẳng hình
Nội dung thứ nhất: Trong PPCG1 phải đặt vật thể ở vị trí như thế nào đối
với các mặt phẳng hình chiếu để các hình chiếu thu được phản ánh chính xác bề
mặt của vật thể?
Nội dung thứ hai: Để hình chiếu đứng là hình chiếu chính của bản vẽ và thể
hiện rõ nhất hình dạng của vật thể thì việc lựa chọn các bề mặt vật thể theo các
hướng chiếu cần đảm bảo nguyên tắc gì?
Nội dung thứ ba: Với 3 mặt phẳng hình chiếu đã đủ thể hiện thông tin về
hình dạng, kết cấu và kích thước của vật thể chưa? Có cần thêm hay bớt hình
chiếu hay không?
Học sinh nắm bắt vấn đề và bắt đầu tập kích não:
- Từng HS nhóm 1 đưa ra phương án, ý tưởng của mình về cách giải quyết
các vấn đề nêu trên.
- Các HS nhóm 2 nghe, ghi lại những đề xuất do nhóm 1 nêu ra. Sau khi
nhóm 1 nêu hết các phương án thì nhóm 2 bắt đầu phân tích, nhận xét từng ý
tưởng, phương án đã ghi được của nhóm 1. Trong lúc này nhóm 1 nghe nhóm 2
phân tích đồng thời kết hợp cùng phân tích các ý tưởng, phương án đã đề xuất.
GV cùng HS tổng hợp các ý kiến giải quyết từng vấn đề:
Ở nội dung thứ nhất: GV có thể nêu câu hỏi gợi mở: Trong phép chiếu
vuông góc, đặt các hình phẳng có vị trí như thế nào để hình chiếu thu được
không bị biến dạng? HS dễ dàng thấy được là phải đặt hình phẳng song song với
11
mặt phẳng hình chiếu. Từ đó HS rút ra kết luận thứ nhất: Trong PPCG1, cần
phải đặt vật thể sao cho đa số các bề mặt của vật thể song song với các mặt
phẳng hình chiếu để hình chiếu thu được ít bị biến dạng.
Ở nội dung thứ hai: GV chọn lọc các ý kiến rồi đưa ra kết luận: Để hình
chiếu đứng là hình chiếu chính của bản vẽ thì cần lựa chọn bề mặt nào phản ánh
hình dạng đặc trưng của vật thể để đặt hướng chiếu từ trước vào, đồng thời phải
đảm bảo nguyên tắc có ít nét khuât nhất trên các hình chiếu.
b)
Hình 2.6
Giáo viên tiếp tục hỗ trợ bằng câu hỏi: Ở hai ví dụ trên có thể bớt đi hình
chiếu nào mà vẫn thể hiện đủ thông tin của vật thể?
Học sinh cũng dễ dàng nhận thấy: Hình chiếu đứng và hình chiếu bằng
giống hệt nhau, do đó có thể bỏ đi hình chiếu bằng mà vẫn thể hiện đủ thông tin
vật thể.
Giáo viên giới thiệu thêm, nếu vận dụng tiêu chuẩn ghi kích thước ta có thể
tiếp tục bỏ đi một hình chiếu nữa mà vẫn thể hiện đủ thông tin vật thể bằng cách
sử dụng kí hiệu ghi kèm với con số kích thước (hình 2.7 a, b)
a)
b)
Hình 2.7
Quay lại trường hợp vật thể trong phương pháp chiếu góc thứ nhất học sinh
sẽ xác định được chỉ cần hình chiếu đứng và hình chiếu cạnh là đủ biểu diễn
thông tin vật thể (hình 2.8).
13
Hình 2.8
Hình 2.9
Tuy nhiên trong trường hợp nếu có thêm 1 kết cấu rãnh ở phần đế nằm
ngang thì buộc phải dùng cả 3 hình chiếu mới thể hiện đầy đủ hình dạng kết, cấu
của vật thể (hình 2.9).
+ Trục cam được dẫn động từ trục khuỷu thông qua cặp bánh răng phân phối.
- Nguyên lí làm việc: Động cơ làm việc, trục khuỷu dẫn động trục cam
thông qua cặp bánh răng phân phối làm trục cam quay để dẫn động đóng, mở
các xu páp nạp, thải. Khi vấu cam 1 tác động làm con đội 2 đi lên, qua đũa đẩy 7
làm cò mổ 9 xoay cùng chiều kim đồng hồ quanh trục 8. Kết quả là xu páp 4 bị
ép xuống, xu páp nạp mở để khí nạp vào xi lanh hoặc cửa thải mở để khí cháy
trong xi lanh thoát ra ngoài. Khi vấu cam 1 quay qua vị trí của con đội 2, lò xo
xu páp 3 dãn ra, các chi tiết của cơ cấu trở về vị trí ban đầu làm cho cửa nạp
hoặc cửa thải được đóng kín.
* Xác định nội dung có thể vận dụng phương pháp tập kích não
Sau khi học về cơ cấu phân phối khí dùng xu páp treo, ta thấy để dẫn động
từ trục khuỷu lên trục cam và tác động đến xu páp phải nhờ hàng loạt các chi tiết
phối hợp với nhau do đó kết cấu cồng kềnh, phức tạp. Trước khi sang phần cơ
15
cấu phân phối khí dùng xu páp đặt, có thể cho HS tập kích não tìm cách đưa kết
cấu của cơ cấu phân phối khí xu páp treo đơn giản hơn mà vẫn đáp ứng nhiệm
vụ của cơ cấu, qua đó làm phát triển tư duy sáng tạo cho HS.
* Vận dụng vào bài dạy
Sau khi sử dụng các phương pháp dạy học thông thường học sinh đã biết
được nhiệm vụ, cấu tạo và nguyên lí làm việc của cơ cấu phân phối khí dùng xu
páp treo, ta có thể vận dụng tập kích não tạo điều kiện phát triển tư duy sáng
tạocho học sinh. Cụ thể thực hiện tập kích não như sau:
Giáo viên chia lớp thành 2 nhóm:
- Nhóm 1: Những HS có phản ứng nhanh, hay đề xuất ý tưởng mới.
- Nhóm 2: Những HS có khả năng phân tích, phê phán
Giáo viên nêu vấn đề: “Từ cơ cấu phân phối khí dùng xu páp treo hãy cải
tiến cơ cấu theo hướng giảm bớt một số chi tiết để kết cấu đơn giản hơn mà vẫn
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cơ cấu phân phối khí?”
hiệu quả đồng thời nâng cao hiệu suất cho động cơ. Đây cũng chính là vấn đề
mà nhiều nhà nghiên cứu khoa học đã quan tâm cải tiến làm cơ cấu đơn giản mà
nâng cao được hiệu quả của động cơ đốt trong. Trên hình 2.11 là một trong
những cơ cấu phân phối khí xu páp treo đã được cải tiến.
Trục cam và vấu
cam
Lò xo xu
páp
Xu páp
Pít tông
Đai truyền
Thanh truyền
Trục khuỷu
Hình 2.11. Cơ cấu phân phối khí dùng xu páp treo đã được cải tiến
Ví dụ 3: Vận dụng phương pháp tập kích não trong dạy học phần: “Cấu tạo
của hệ thống bôi trơn cưỡng bức”, bài 25, sách giáo khoa Công nghệ 11.
* Nghiên cứu nội dung bài dạy
Bài dạy gồm các nội dung: nhiệm vụ, cấu tạo, nguyên lí làm việc của hệ
thống bôi trơn cưỡng bức. Các nội dung này mang tính thực tiễn cao nhưng cũng
17
rất trừu tượng, nhất là khi dạy phần nguyên lí làm việc của hệ thống. Do đó ngay
từ khi dạy phần cấu tạo cần tạo điều kiện để học sinh hiểu rõ chức năng của từng
bộ phận đáp ứng được nhiệm vụ của hệ thống.
* Xác định nội dung có thể vận dụng phương pháp tập kích não
Khi dạy cấu tạo của hệ thống bôi trơn cưỡng bức, ngoài việc sử dụng
Học sinh tiến hành tập kích não, cuối cùng học sinh xác định được bộ phận
tiếp theo là bơm dầu để hút dầu từ các te lên ống dẫn dầu đi bôi trơn các bề mặt
ma sát.
Câu hỏi 4: Sau khi dầu đi qua các bề mặt ma sát dầu đem theo các mạt kim
loại do bề mặt ma sát sinh ra nên dầu bị bẩn. Phải khắc phục như thế nào?
Học sinh tiến hành tập kích não, cuối cùng học sinh xác định được cần có
bầu lọc dầu, lưới lọc dầu để lọc sạch cặn bẩn trong dầu.
Câu hỏi 5: Khi dầu đi qua các bề mặt ma sát sẽ thu nhiệt từ các bề mặt này
và các chi tiết khác làm nó nóng lên gây giảm chất lượng bôi trơn. Cần xử lí
hiện tượng này như thế nào?
Học sinh tiếp tục tập kích não, cuối cùng học sinh xác định cần có két làm
mát dầu để giảm nhiệt độ của dầu bôi trơn.
Câu hỏi 6: Lúc đầu động cơ mới làm việc nhiệt độ dầu bôi trơn chưa cao,
nếu dầu đi qua két làm mát ngay có ảnh hưởng đến chất lượng bôi trơn không?
Có cách nào khắc phục được hiện tượng này?
Học sinh tiếp tục tập kích não, cuối cùng xác định cần phải có van khống
chế lượng dầu qua két làm mát để cho dầu bôi trơn đi qua khi nhiệt độ dầu chưa
cao quá mức cho phép.
Câu hỏi 7: Kể tên các bề mặt ma sát cần phải bôi trơn trong động cơ đốt
trong?
Học sinh tiếp tục tập kích não, thảo luận vấn đề và đưa ra câu trả lời cho
vấn đề: các mặt ma sát cần phải bôi trơn là bề mặt ma sát giữa pít tông với xi
lanh, cổ trục khuỷu, cổ trục cam, vấu cam, xu páp, …
Câu hỏi 8: Để đưa dầu bôi trơn tới từng bộ phận, hệ thống phải có kết cấu
nào?
Học sinh tiếp tục tập kích não, thảo luận vấn đề và xác định phải có đường
ống chính và các đường ống nhánh dẫn tới bôi trơn từng bộ phận.
19
20
giải thưởng “sáng tạo kỹ thuật”. Vậy tại sao trong dạy học ta lại không tận dụng
điều này để phát triển tư duy sáng tạo HS. Thực tế ngày nay khoa học phát triển
tốc độ nhanh như vũ bão thì kết cấu, giải pháp kỹ thuật không tránh khỏi lỗi thời
hay không còn phù hợp hiện tại. Do đó cần tạo cho HS có thói quen tìm kiếm tri
thức để cải tạo kỹ thuật cho phù hợp với điều kiện thực tiễn. Thật vậy, tư duy
sáng tạo của HS được phát triển nếu trong quá trình dạy học giáo viên tác động
đúng lúc và kịp thời.
* Kiểm nghiệm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phương pháp tập kích
não vào bài cơ cấu phân phối khí.
Vận dụng phương pháp tập kích não vào bài dạy phù hợp với tư duy của
học sinh, có tính thực tiễn cao, có tác động tích cực đến việc học tập và nghiên
cứu kiến thức mới của học sinh. Ngoài việc vận dụng các phương pháp dạy học
thông thường, nhờ vận dụng phương pháp tập kích não học sinh nắm bài chắc
hơn, tích cực hơn trong tư duy, liên hệ thực tế hơn và sáng tạo hơn trong nghiên
cứu kỹ thuật tức là tư duy sáng tạocủa học sinh được kích thích phát triển.
* Kiểm nghiệm và đánh giá hiệu quả của việc sử dụng phương pháp tập kích
não vào bài hệ thống bôi trơn.
Với phương pháp tập kích não, qua hệ thống các câu hỏi, phối hợp với
phương pháp trực quan giúp học sinh có thể hiểu sâu và tự vẽ dần hệ thống bôi
trơn cưỡng bức dưới dạng sơ đồ hoá vào vở (ví dụ như hình 2.13), từ đó có thể
liên hệ với hệ thống bôi trơn trong thực tiễn cũng như ý thức được phải chăm
sóc, bảo dưỡng động cơ đúng định kì để nâng cao hiệu quả làm việc cũng như
tăng tuổi thọ cho động cơ. Từ việc tự vẽ được sơ đồ hoá hệ thống bôi trơn cưỡng
bức học sinh cũng dễ dàng tìm hiểu được nguyên lí làm việc của hệ thống bôi
trơn qua sơ đồ hoá đã vẽ được. Qua đó cho thấy tư duy sáng tạocủa học sinh
được kích thích phát triển.
dạy học môn Công nghệ 11 ở trường THPT . Qua thực hiện biện pháp đã đề xuất
có thể rút ra một số kết luận sau:
1. Trong môn học Công nghệ 11, có khá nhiều nội dung kiến thức cần vận
dụng linh hoạt vào thực tế mà khả năng tư duy của học sinh lại có hạn chế nhất
định, gây khó khăn cho quá trình nhận thức của học sinh. Biện pháp này đơn
giản, dễ vận dụng, phù hợp với trình độ, khả năng của giáo viên và học sinh
cũng như cơ sở vật chất của các trường THPT nói chung, tạo điều kiện thuận lợi
phát triển tư duy sáng tạo cho học sinh, nâng cao chất lượng dạy và học bộ môn.
2. Qua việc vận dụng phương pháp tập kích não để phát triển tư duy sáng
tạocho học sinh cho thấy biện pháp đề xuất là khá hợp lí, có thể vận dụng vào
quá trình dạy học môn Công nghệ 11 ở trường THPT.
3. Việc vận dụng phương pháp trên để dạy cho học sinh không chỉ đem lại
những ích lợi trong quá trình dạy học môn Công nghệ 11 mà còn có tác dụng gợi
22
ý cho việc áp dụng trong quá trình dạy học các môn khoa học kĩ thuật khác.
Tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp đã đề xuất được kiểm nghiệm, đánh
giá. Cụ thể như sau:
- Tính đúng đắn và khả thi của các biện pháp phát triển tư duy sáng tạo cho
học sinh trong dạy học môn Công nghệ 11 do đề tài đề xuất.
- Mức độ phù hợp với trình độ tư duy của học sinh khi sử dụng các biện
pháp đề xuất.
- Khả năng và mức độ phát triển tư duy sáng tạo của học sinh khi vận dụng
các biện pháp do đề tài đề xuất.
- Khả năng đáp ứng cơ sở vật chất phục vụ quá trình dạy học có vận dụng
các biện pháp đề xuất.
Theo kết quả thống kê của phiếu xin ý kiến giáo viên và các ý kiến trao đổi trực
tiếp với giáo viên của các trường THPT khác nhau thuộc địa bàn tỉnh Nam Định,
có thể rút ra một số điểm chung sau:
IV.Đề xuất, kiến nghị
Để nâng cao chất lượng dạy học môn Công nghệ phổ thông, góp phần đào
tạo người lao động tích cực, chủ động và sáng tạo, cần tiếp tục nghiên cứu vận
dụng các biện pháp nhằm phát triển tư duy sáng tạocho học sinh. Cụ thể là:
- Tiếp tục triển khai việc vận dụng phương pháp luận sáng tạo khoa học kĩ
thuật vào quá trình dạy học bộ môn nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho việc phát
triển tư duy sáng tạocho học sinh và phục vụ tốt cho việc nâng cao chất lượng
giảng dạy bộ môn.
- Sau khi thực hiện vận dụng các biện pháp phát triển tư duy sáng tạocho
học sinh trong dạy học môn Công nghệ 11 cần nghiên cứu quá trình thực hiện để
hoàn thiện và vận dụng chung cho môn Công nghệ.
- Các trường THPT cần tăng cường trang bị cơ sở vật chất, thiết bị giảng
dạy tạo điều kiện cho giáo viên ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học để
vận dụng các biện pháp đề xuất được hiệu quả hơn.
V.CAM KẾT:
Tôi xin cam kết sáng kiến kinh nghiệm này không sao chép, vi phạm bản
quyền và chịu trách nhiệm về cam kết của mình.
24
TÁC GIẢ SÁNG KIẾN
....................
XÁC NHẬN CỦA CƠ QUAN ĐƠN VỊ ÁP DỤNG SÁNG KIẾN
……………………………………………………………………………………
…………………………………………………………………………………...
……………………………………………………………………………………
……………………………………………………………………………………
…………...............................................................................................................