Đa dạng sinh
học ở Việt Nam -
Thực Trạng &
Giải Pháp
Trang 1
MỤC LỤC
Đa dạng sinh học ở Việt Nam - Thực Trạng & Giải Pháp...................................................1
MỤC LỤC..................................................................................................................................2
MỞ ĐẦU
Trang 2
Việt Nam được quốc tế công nhận là một trong những quốc gia có tính đa
dạng sinh học cao nhất trên thế giới, với nhiều kiểu rừng, đầm lầy, sông suối,
rạn san hô... tạo nên môi trường sống cho khoảng 10% tổng số loài chim và
thú hoang dã trên thế giới.
Việt Nam được Quỹ Bảo tồn
động vật hoang dã (WWF) công nhận
có 3 trong hơn 200 vùng sinh thái toàn
cầu; Tổ chức bảo tồn chim quốc tế
(Birdlife) công nhận là một trong 5
vùng chim đặc hữu; Tổ chức Bảo tồn
thiên nhiên thế giới (IUCN) công nhận
có 6 trung tâm đa dạng về thực vật.
Việt Nam còn là một trong 8
"trung tâm giống gốc" của nhiều loại
cây trồng, vật nuôi như có hàng chục
giống gia súc và gia cầm. Đặc biệt các
nguồn lúa và khoai, những loài được
coi là có nguôn gốc từ Việt Nam, đang
là cơ sở cho việc cải tiến các giống lúa
và cây lương thực trên thế giới.
Hệ sinh thái của Việt Nam rất phong phú, bao gồm 11.458 loài động
Trang 4
Tuy nhiên, số lớn những loài thú, chim và bò sát bị đe doạ hoặc nguy
cấp được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam (MOSTE, 1992) là một vấn đề rất
được quan tâm. Tổng số lượng những loài bị đe doạ là cao đối với một nước
và phản ánh tình trạng nghiêm trọng về sự đe dọa đối với sinh cảnh hoang dại
ở Việt Nam. Những loài như là trâu rừng,
hươu Eld, tê giác Sumatra và trĩ Edwards
đã trở nên tuyệt trủng ở Việt Nam thế kỷ
này, và không có hành động bảo tồn khẩn
cấp, voi châu Á, tê giác Java và loài sao la
mới được phát hiện cũng có một tương lai
tương tự không xa. Vào thời điểm mà ai
cũng có thể tin rằng toàn bộ động vật trên
thế giới đã được khoa học mô tả hết, con
Sao La (Pseudoryx nghetinhensis), một
loài sừng rỗng cổ, và hoẵng lớn
(Megamuntiacus vuquangensis), to gần gấp 2
lần con hoẵng thường, cho thấy rằng mặc cho
con người đã sử dụng quá mức sinh sản tự
nhiên của Việt Nam, công tác bảo vệ hữu hiệu
có thể giúp bảo quản những loài đặc hữu và có
giá trị. Cùng với việc xác định loài bò xám, một
loài bò hoang, đầu thế kỷ này, Việt Nam là một nước có giá trị bảo tồn đa
dạng sinh học cao được quốc tế biết đến. Tuy nhiên, số lớn những loài thú,
chim và bò sát bị đe doạ hoặc nguy cấp được liệt kê trong Sách đỏ Việt Nam
(MOSTE, 1992) là một vấn đề rất được quan tâm. Tổng số lượng những loài
bị đe doạ là cao đối với một nước và phản ánh tình trạng nghiêm trọng về sự
đe dọa đối với sinh cảnh hoang dại ở Việt Nam. Những loài như là trâu rừng,
hươu Eld, tê giác Sumatra và trĩ Edwards đã trở nên tuyệt trủng ở Việt Nam
thế kỷ này, và không có hành động bảo tồn khẩn cấp, voi châu Á, tê giác Java
những đỉnh cao trên 300m trên mặt nước biển trung bình.
Nước Việt Nam có hình chữ S với những đồng bằng châu thổ rộng lớn
ở miền Nam (sông Mê Kông) và miền Bắc (sông Hồng) nối với nhau bởi phần
miền Trung ven biển, nhiều núi và hẹp.
Nơi hẹp nhất chỉ có 50km rộng và Việt
Nam có đường biên giới dài (3700 km).
Hầu hết trên lãnh thổ sông đổ trực
tiếp ra biển chỉ riêng một số phần
ở cao nguyên miền Trung đổ sang
phía Tây vào lưu vực sông Mê
Kông của Cămpuchia.
Khí hậu thay đổi theo độ cao
. Nhiệt độ trung bình ở miền Nam
là 27
0
C trong khi ở miền Bắc chỉ
có 21
0
C. Cứ 100m độ cao nhiệt độ
giảm khoảng 0,5
0
C. Hầu hết cả
nước nhận khoảng 2000 mm mưa
hàng năm, chỉ có một vài nơi miền Trung lượng mưa lên tới 3000. Lượng mưa
bị tác động bởi ba đợt gió mùa chính. Gió mùa đông khá lạnh và khô thổi từ
hướng đông bắc và chỉ tác động đến vĩ độ 16
0
Bắc về phía Nam. Gió mùa
đông nam và gió mùa tây thổi vào các tháng mùa hè mang mưa từ biển vào.
Lượng nắng chiếu khá cao, trung bình khoảng 130 kcal/cm
thấp miền nam Việt Nam và một số
mảng rừng nhỏ ở miền Bắc.
Rừng mưa mùa: Bao gồm rừng
khộp cao nguyên miền Trung cũng
như một số rừng khô ven biển ở miền
đông nam bộ.
Rừng lá rộng thường xanh/nửa rụng lá đất thấp: Rừng nhiệt đới ở miền
Nam, á nhiệt đới ở miền Bắc. Một số khu vẫn còn trong điều kiện nguyên
thuỷ.
Rừng thường xanh trên núi/rừng lá rộng nửa thường xanh: Còn tìm thấy
những cánh rừng lẻ ở một vài tỉnh.
Trang 7
Rừng trên hệ núi đá vôi: Rừng
thuần loại kết hợp với đất pha đá vôi.
Hầu hết còn lại những khu đá tai mèo
không thích hợp cho canh tác nông
nghiệp ở nhiều nơi rừng đã bị xuống
cấp do cháy rừng, khai thác gỗ và khai
khoáng.
Rừng thường xanh trên núi cao
và rừng thông hỗn giao: Phần lớn phân
bố ở cao nguyên Đà Lạt, vùng núi miền
trung và phía Bắc dãy Hoàng Liên Sơn
với những khoảnh rừng thay đổi mang
dấu ấn địa phương và tính đặc hữu của
khu vực cao.
Thực vật ở khu: xen kẽ ở những
đỉnh núi cao nhất, đặc biệt là dãy Hoàng Liên Sơn bắc Việt Nam. Trên những
triền dốc cao ở Hoàng Liên Sơn nơi núi nhấp nhô bị mây che phủ những vùng
rộng, những loài thực vật ở đây đặc biệt ưa nước.
khác biệt.
4: MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ VEN BIỂN:
Địa hình và thuỷ văn:
Với bờ biển dài trên 3260km trải dài suốt 13 vĩ độ từ bắc xuống nam,
môi trường biển của Việt Nam được đặc trưng bởi một dải rộng về sự đa dạng
hình dạng loài theo địa lý, khí hậu, thuỷ văn, kinh tế và địa chính trị.
Trên 3000 đảo trong khơi và ngoài khơi rải rác khắp lãnh thổ Việt Nam,
gồm cả những quần đảo, Trường Sa và Hoàng Sa. Tổng diện tích ngoài các
đặc khi kinh tế (EEZ) lên tới khoảng một triệu km
2
.
Thềm lục địa phản ánh đúng hình thể đất nước, rộng và nông ở Bắc và
Nam, nhưng hẹp và sâu ở miền Trung từ Đà Nẵng đi Mũi Dinh. Cả hai thềm
lục địa Bắc và Nam nông và có nhiều mảng cát lầy. Phía Bắc có độ sâu kém
phía nam khoảng 90m và phía Nam
có 50 đằng áp rộng 360 km dọc bờ
biển. Nhiều đảo đá vôi rải rác trong
các khu vực này, đặc biệt ở bắc vịnh
bắc bộ. Dọc bờ biển từ miền Bắc và
miền Trung là những thềm cát, trải
rộng đến tận tổ hợp những hệ đầm
phá ở Huế. Từ Đà Nẵng xuống phía
Nam là bờ đá ngầm.
Ba khu vực riêng biệt có thể
chia theo điều kiện thuỷ văn khác
nhau; Vịnh Bắc Bộ, Trung và Nam
Việt Nam.
Miền Trung và miền Nam Việt Nam chỉ đặc trưng bởi hai mùa - gió
màu tây nam (mùa hè) và gió mùa đông bắc (mùa đông). Vịnh Bắc bộ có 4
mùa riêng biệt. Nhiệt độ mặt biển trong mùa đông (tháng 1 đến tháng 3) thay
sinh thái tự nhiên khác có thành
phần loài nghèo hơn. Kiểu hệ sinh
thái nông nghiệp và khu đô thị là
những kiểu hệ sinh thái nhân tạo,
thành phần loài sinh vật nghèo nàn.
Xét theo tính chất cơ bản là thảm
thực vật bao phủ đặc trưng cho rừng
mưa nhiệt đới ở Việt Nam, có thể
thấy các kiểu rừng tiêu biểu: rừng
kín vùng thấp, rừng thưa, trảng
truông, rừng kín vùng cao, quần hệ lạnh vùng cao. Trong đó, các kiểu và kiểu
phụ thảm thực vật sau đây có tính ĐDSH cao hơn và đáng chú ý hơn cả: kiểu
rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới; kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô
Trang 10
nhiệt đới; kiểu rừng kín cây lá rộng, ẩm ướt nhiệt đới núi thấp; kiểu phụ rừng
tręn núi đá vôi.
b) Hệ sinh thái đất ngập nước:
Công ước Ramsar định nghĩa "Đất ngập nước là những vùng đầm lầy, than
bùn hoặc vùng nước bất kể là tự nhiên hay nhân tạo, thường xuyên hay tạm
thời, có nước chảy hay nước tù, là nước
ngọt, nước lợ hay nước biển kể cả
những vùng nước biển có độ sâu không
quá 6 mét khi triều thấp". Đất ngập
nước (ĐNN) Việt Nam rất đa dạng về
loại hình và hệ sinh thái, thuộc 2 nhóm
ĐNN: ĐNN nội địa, ĐNN ven biển.
Trong đó có một số kiểu có tính ĐDSH
cao:
Rừng ngập mặn ven biển: Rừng
ngập mặn có các chức năng và giá trị
biển...
Việt Nam có 2 vùng ĐNN quan trọng là ĐNN vùng cửa sông đồng
bằng sông Hồng và ĐNN đồng bằng sông Cửu Long:
ĐNN ở vùng cửa sông đồng bằng sông Hồng có diện tích 229.762 ha.
Đây là nơi tập trung các hệ sinh thái với thành phần các loài thực vật, động vật
vùng rừng ngập mặn phong phú, đặc biệt là nơi cư trú của nhiều loài chim
nước.
ĐNN đồng bằng sông Cửu Long có diện tích đất ngập nước 4.939.684
ha. Đây là bãi đẻ quan trọng của nhiều loài thủy sản di cư từ phía thượng
nguồn sông Mê Công. Những khu rừng ngập nước và đồng bằng ngập lũ cũng
là những vùng có tiềm năng sản xuất cao. Có 3 hệ sinh thái tự nhiên chính ở
đồng bằng sông Cửu Long, đó là hệ sinh thái ngập mặn ven biển; hệ sinh thái
rừng tràm ở vùng ngập nước nội địa và hệ sinh thái cửa sông.
Mỗi kiểu hệ sinh thái ĐNN đều có khu hệ sinh vật đặc trưng của mình.
Tuy nhiên, đặc tính khu hệ sinh vật của các hệ sinh thái này còn phụ thuộc vào
từng vùng cảnh quan và vùng địa lý tự nhiên.
c) Hệ sinh thái biển:
Việt Nam có đường bờ biển dài
3.260 km và vùng đặc quyền kinh tế rộng trên
1 triệu km2 với nguồn tài nguyên sinh vật
biển khá phong phú. Trong vùng biển nước ta
đã phát hiện được chừng 11.000 loài sinh vật
cư trú trong hơn 20 kiểu hệ sinh thái điển
hình, thuộc 6 vùng ĐDSH biển khác nhau.
d) Đặc trưng của đa dạng hệ sinh thái ở Việt
Nam:
Tính phong phú và đa dạng của các kiểu hệ sinh thái: Với một
diện tích không rộng, nhưng trên lãnh thổ Việt Nam có rất nhiều kiểu hệ sinh
thái khác nhau. Ở từng vùng địa lý không lớn cũng tồn tại nhiều kiểu hệ sinh
thái.