HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ KHU VỰC I
KỶ YẾU
ĐỀ TÀI KHOA HỌC CẤP CƠ SỞ NĂM 2018
TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ
ĐẾN QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT
VÀ QUAN HỆ SẢN XUẤT Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
Mã số: CSTC.02.18
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Nam Thắng
Thư ký đề tài: Nguyễn Lê Thạch
HÀ NỘI, THÁNG 9/2018
1
Tập thể cộng tác viên
Bình
Hà
Hậu
Minh
Ngọc
Nhung
Tặng
Thạch
Thắng
Trường
Tuyến
tuyêt
Học viện chính trị khu vực I
Học viện chính trị khu vực I
Học viện chính trị khu vực I
Học viện chính trị khu vực I
Học viện chính trị khu vực I
Học viện chính trị khu vực I
Học viện chính trị khu vực I
Học viện chính trị khu vực I
Học viện chính trị khu vực I
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
TS. Nguyễn Nam Thắng
4
2
BẢN CHẤT VÀ VAI TRÒ CỦA CÁCH MẠNG CÔNG
14
NGHIỆP 4.0
ThS. Nguyến Thanh Bình
KHÁI NIỆM, NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA
25
CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ (4.0)
QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT HUY NHÂN TỐ CON
78
NGƯỜI TRONG ĐIỀU KIỆN CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP
LẦN THỨ TƯ
TS. Đặng Ánh Tuyết
NHỮNG KHUYẾN NGHỊ VẬN DỤNG QUAN HỆ BIỆN
CHỨNG GIỮA LỰC LƯỢNG SẢN XUẤT VÀ QUAN HỆ SẢN
87
3
XUẤT TRONG ĐIỀU KIỆN CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP
LẦN THỨ TƯ Ở VIỆT NAM
TS.Nguyễn Nam Thắng
Ths.Nguyễn Văn Trường
TS.Nguyễn Lê Thạch
KẾT LUẬN
102
TS. Nguyễn Nam Thắng
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
106
MỞ ĐẦU
dễ bị thay thế bởi quá trình tự động hóa và người máy... Cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư là cơ hội cho mọi dân tộc, nhất là các dân tộc đi sau có thể
phát triển nhanh bằng đi tắt, đón đầu, điều này rất cần thiết đối với các nước
đang có nhu cầu phát triển như Việt Nam. Cũng như ba cuộc cách mạng công
nghiệp trước, dân tộc nào nắm bắt được cơ hội do cuộc cách mạng công
nghiệp đem lại thì phát triển, giàu có; ngược lại, dân tộc nào không nắm bắt
được sẽ bị gạt ra ngoài sự phát triển.
5
Khẳng định vai trò to lớn của khoa học công nghệ trong tiến trình cách
mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Cương lĩnh xây dựng đất nước thời kỳ
quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) xác định: “Khoa
học công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất
hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường, nâng cao năng suất, chất lượng,
hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển khoa
học công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới” 1. Văn
kiện Đại hội XII của Đảng tiếp tục khẳng định: “Phát triển mạnh mẽ khoa học
công nghệ, làm cho khoa học công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu, là
động lực quan trọng nhất để phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, kinh tế tri
thức, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh
tế; bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh”2.
Hiện nay, Việt Nam đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới với
việc hoàn tất nhiều hiệp định thương mại tự do quy mô lớn như TPP, FTA với
EU, Liên minh kinh tế Á - Âu..., việc tiếp cận thành tựu cách mạng sản xuất
mới sẽ tạo ra công cụ đắc lực giúp Việt Nam tham gia hiệu quả chuỗi giá trị
toàn cầu và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước,
nhằm phát triển lực lượng sản xuất tiên tiến và xây dựng quan hệ sản xuất
các công nghệ hiện đại như thế nào để có thể cải thiện phẩm chất, tốc độ, giá
cả để có giá trị hơn. Bên cạnh đó, người tiêu dùng, người dân cũng có được
những quyền lợi nhất định khi sự minh bạch ngày càng rõ hơn. Sự quan tâm
của người dân, và các khuôn mẫu mới về hành vi, sinh hoạt của người dân
(ngày càng xây dựng dựa trên quyền truy cập vào các mạng di động và dữ
liệu) buộc các doanh nghiệp phải thích nghi với cách mà họ thiết kế, tiếp thị,
và cung cấp các sản phẩm và dịch vụ. Khi công nghệ và tự động hóa lên ngôi,
họ sẽ đối mặt với áp lực cần nâng cao chất lượng, cải tiến và đổi mới các dây
chuyền công nghệ, tuyển nhân lực có năng lực về công nghệ, đồng thời phải
đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt của doanh nghiệp nước ngoài.
Những điều này là thực sự khó khăn trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam
vẫn còn thua kém rất lớn các doanh nghiệp nước ngoài về công nghệ, cũng
như nhân lực và vốn đầu tư như hiện nay.
Cách mạng công nghiệp lần thứ tư vừa tạo ra thời cơ, song cũng đang
đặt ra nhiều thách thức mới đối với các nước đang phát triển như Việt Nam.
7
Đó là thách thức tụt hậu xa hơn, lao động chi phí thấp mất dần lợi thế, khoảng
cách công nghệ và tri thức nới rộng hơn dẫn đến phân hóa xã hội sẽ sâu sắc
hơn... Chính phủ, các doanh nghiệp, các trung tâm nghiên cứu và cơ sở giáo
dục tại Việt Nam cần phải nhận thức được và sẵn sàng thay đổi, phải có chiến
lược phù hợp để phát triển, đảm bảo sự phù hợp biện chứng giữa việc phát
triển lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong thời kỳ Internet vạn vật và
cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Tất cả những thuận lợi và khó khăn như trên đang đặt những thách thức
và cơ hội cho sự phát triển của nhân loại nói chung và quan hệ biện chứng giữa
quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất ở Việt Nam nói riêng. Hơn nữa, việc
nghiên cứu này còn có tác dụng trong việc triển khai gảng dạy các chuyên đề
cách mạng không giống như bất kỳ điều gì mà nhân loại đã trải qua” đang
diễn ra mạnh mẽ. Klaus Schwab tin rằng, cuộc cách mạng công nghiệp lần
thứ tư này nằm trong sự kiểm soát của tất cả các quốc gia nếu như chúng ta
biết hợp tác trên quy mô toàn cầu. Cuốn sách này được kết cấu thành 3
chương: Chương đầu tiên cung cấp một góc nhìn tổng quan về cuộc cách
mạng công nghiệp lần thứ tư; Chương thứ hai trình bày các biến đổi chính về
công nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang diễn ra;
Chương cuối cùng phân tích một cách chuyên sâu những tác động cũng như
các hàm ý chính sách mà cuộc cách mạng này đặt ra và từ đó tác giả đưa ra
những ý tưởng, giải pháp thiết thực, hữu hiệu để các quốc gia có thể thích ứng
và khai khác tiềm năng từ những biển đổi to lớn từ cuộc cách mạng này. Giáo
sư Klaus Schwab chỉ ra rằng, nhân loại đang đứng trước một cuộc cách mạng
có thể làm thay đổi cơ bản cách chúng ta sống, làm việc và liên hệ với nhau.
Cuộc cách mạng này là cuộc cách mạng có sự kết hợp của công nghệ trong
lĩnh vực vật lý, số hóa và sinh học, đang tạo ra những khả năng hoàn toàn mới
9
và có tác động sâu sắc đối với các hệ thống chính trị, xã hội, kinh tế của thế
giới. Với tốc độ, quy mô và tác động của những thành tố công nghệ mới, “một
cuộc cách mạng không giống như bất kỳ điều gì mà nhân loại đã trải qua”
đang diễn ra mạnh mẽ. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư này nằm trong
sự kiểm soát của tất cả các quốc gia nếu như chúng ta biết hợp tác trên quy
mô toàn cầu.
Tại Diễn đàn kinh tế thế giới năm 2016 - Diễn đàn Davos mùa Hè lần
thứ 10 đã được khai mạc ngày 27/6/2016 tại Thiên Tân, Trung Quốc có chủ
đề "Cuộc CMCN lần thứ 4 và những tác động" có sự tham dự của khoảng
1.700 chính trị gia, doanh nhân, học giả và đại diện truyền thông đến từ hơn
90 quốc gia và khu vực. GS. Klaus Schwab, người Đức, Chủ tịch Diễn đàn
khái niệm, các động lực của cuộc cách mạng, những thách thức và cơ hội, tới
những tác động của nó đối với chính phủ, doanh nghiệp, người dân, cũng như
chiến lược và chính sách của một số nước trước cuộc cách mạng này.
Công trình khoa học “Cách mạng công nghiệp lần thứ tư – Cuộc cách
mạng của sự hội tụ và tiết kiệm” xuất bản năm 2018, của TSKH. Phan Xuân
Dũng, một trong những nhà khoa học, nhà quản lý, hoạch định chính sách đầu
ngành của Việt Nam đã chỉ ra rằng, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư 4
xuất hiện đã và đang tạo ra những bước ngoặt phát triển cho các cá nhân,
doanh nghiệp và các quốc gia trên thế giới. Làn sóng Cách mạng công nghiệp
lần thứ tư thu hút sự quan tâm đặc biệt của đông đảo công chúng. Công trình
khoa học này truyền tải cho chúng ta câu chuyện về cuộc Cách mạng công
nghiệp lần thứ tư hàm chứa sự thay đổi lớn lao, toàn diện, không chỉ về khoa
học và công nghệ mà còn cả kinh tế, văn hóa và xã hội. Công trình khoa học
này là nguồn động lực thúc đẩy tư tưởng đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và hội
nhập mạnh mẽ trong giới trẻ Việt Nam hiện nay, những con người sẽ chiếm
lĩnh cơ hội mới, rút ngắn khoảng cách và bắt kịp các quốc gia phát triển khác
11
về trình độ công nghệ, về khoa học kỹ thuật, nâng cao vị thế quốc gia, đưa
Việt Nam sánh vai cùng các cường quốc năm châu.
Đúng như tên gọi của công trình Cách mạng công nghiệp 4.0, vấn đề
đặt ra cho phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập quốc tế của Việt Nam,
PGS,TS. Trần Thị Vân Hoa đã trình bày những vấn đề cơ bản nhất về lịch sử
ra đời của các cuộc cách mạng công nghiệp, đặc biệt là cách mạng công
nghiệp 4.0; các xu hướng công nghệ của cách mạng công nghiệp 4.0; những
tác động và chính sách ứng phó với cách mạng công nghiệp 4.0; những cơ
hội, thách thức và yêu cầu đặt ra của cách mạng công nghiệp 4.0 đối với phát
triển kinh tế - xã hội của Việt Nam. Từ những phân tích về tác động của cách
Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến quan hệ biện
chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất ở Việt Nam.
4..2. Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài tập trung nghiên cứu sự tác động của cuộc cách mạng công
nghiệp lần thứ tư đến quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và quan hệ
sản xuất ở Việt Nam hiện nay (2012 - 2020).
5. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
5.1. Cơ sở lý luận
Đề tài được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa duy vật biện
chứng thể hiện trong các nguyên tắc khách quan, toàn diện, lịch sử - cụ thể.
Nghiên cứu đề tài dựa trên chủ nghĩa duy vật lịch sử, cụ thể là lý luận Hình
thái kinh tế - xã hội khi phân tích quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất
và quan hệ sản xuất; cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng; tồn tại xã hội và
ý thức xã hội...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
13
Cùng với phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ
nghĩa duy vật lịch sử, đề tài còn sử dụng kết hợp các phương pháp khoa học
khác, như phân tích văn bản, kết hợp phân tích và tổng hợp, lịch sử và lôgic,
so sánh chỉ ra các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức, hệ thống hóa,
… nhằm thực hiện mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài nêu ra.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài góp phần làm rõ các nội dung ảnh hưởng của cuộc cách mạng
công nghiệp lần thứ tư đến quan hệ biện chứng giữa lực lượng sản xuất và
quan hệ sản xuất ở Việt Nam.
Đề tài dự báo đề xuất những khuyến nghị nhằm khai thác có hiệu quả
những tác động tích cực và kiềm chế, giảm thiểu những tác động tiêu cực của
trong sản xuất và hình thành các dây chuyền lắp ráp hàng loạt. Cuộc cách
mạng này còn đi cùng với một nhóm các phát minh về động cơ đốt trong, máy
bay và điện ảnh. Bởi vậy, nó còn được gọi là Cách mạng công nghệ. Cách
mạng công nghiệp 2.0 diễn ra từ năm 1870 đến năm 1914. Cách mạng công
nghiệp 3.0 bao gồm việc sử dụng máy tính và các dây chuyền tự động hóa
trong lực lượng sản xuất. Cuộc cách mạng này dựa trên nền tảng của công
nghệ số, máy tính cá nhân cùng với sự phát triển của Internet và được khởi
đầu từ những năm 1960. Cuối cùng là công nghiệp 4.0 diễn ra như một cuộc
15
cách mạng trong giao tiếp giữa con người và máy móc. Công nghiệp 4.0 là
viễn cảnh của sự gia tăng số hóa trong quá trình sản xuất.
Bản chất của Cách mạng công nghiệp 4.0 là khả năng máy móc giao
tiếp với con người thông qua kết nối internet hoặc bằng các phương tiện khác.
Cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ được tạo ra bởi làn sóng đổi mới trong các lĩnh
vực như ôtô không người lái, robot thông minh, vật liệu nhẹ hơn và bền chắc
hơn, và các quy trình sản xuất được thiết lập trên nền tảng của công nghệ in
3D. Công nghiệp 4.0 là thành quả của việc số hóa liên tục, trong đó tất cả mọi
thứ trong chuỗi tạo giá trị được nối mạng và tất cả các thông tin liên quan có
thể được trao đổi trực tiếp và độc lập giữa các liên kết chuỗi riêng lẻ. Nói
cách khác, công nghiệp 4.0 là việc áp dụng trí tuệ nhân tạo, sự kết nối và tin
học hóa rộng rãi hơn trong quá trình sản xuất. Cuộc cách mạng công nghiệp
lần thứ tư có thể được tóm tắt như là một sự mở rộng khả năng kết nối máy
móc với các máy khác và cuối cùng kết nối với người tiêu dùng một nơi nào
đó để tổ chức sản xuất một cách thông minh.
Bởi vậy, khái niệm Công nghiệp 4.0 có thể được mô tả như là một thuật
ngữ bao trùm, đề cập đến một loạt các khái niệm hiện thời và động chạm tới
một số ngành trong lĩnh vực công nghiệp. Các động lực chính cho cuộc cách
Hiện chúng ta đang đứng trên đường biên của cuộc cách mạng công
nghiệp sẽ làm thay đổi về cơ bản cách chúng ta sống, làm việc, và liên hệ với
nhau. Về quy mô, phạm vi và sự phức tạp, sự thay đổi của nó sẽ không giống
với bất kỳ những gì mà loài người đã từng trải qua trước đây.
2. Các yếu tố cấu thành của công nghiệp 4.0
Kagermann cùng các cộng sự3 và Hermann cùng các cộng sự4 đã xác
định ba thành phần của Công nghiệp 4.0. Chúng bao gồm những Hệ thống
thực tế ảo (Cyber Physical Systems - CPS), Kết nối vạn vật (Internet of
1
Kagermann, H., Helbig, J., Hellinger, A., and Wahlster, W. (2013). Recommendations for Implementing the
strategic initiative INDUSTRIE 4.0: securing the future of German manufacturing industry; final report of
the Industrie 4.0 working group. Forschungsunion.
2
Hermann, M., Pentek, T., and Otto, B. (2016). Design principles for industrie 4.0 scenarios, in 49th Hawaii
International Conference on System Sciences (HICSS) IEEE. p. 3928-3937.
3
Kagermann et al. (sđd).
4
Hermann et al. (sđd).
17
Things - IoT) và Nhà máy thông minh (Smart Factory). Chúng sẽ được mô tả
như sau.
2.1. Các hệ thống thực tế ảo (CPS)
Cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư được xây dựng dựa trên việc thực
hiện các hệ thống thực tế ảo (CPS), có tính năng tích hợp dựa trên kết nối đầu
2
18
- Cảm biến phức hợp và bộ truyền động, lưu trữ và phân tích dữ liệu và
khả năng tương thích mạng1.
2.2. Kết nối vạn vật (IoT)
Theo Kagermann và cộng sự, Kết nối vạn vật (IOT) và Kết nối dịch vụ
(IoS) đang thúc đẩy cuộc cách mạng công nghiệp thứ tư như là "Sự kết nối
vạn vật và dịch vụ có thể tạo ra các mạng lưới kết hợp toàn bộ quá trình sản
xuất nhờ vậy chuyển đổi các nhà máy thành môi trường thông minh” 2. Điều
lưu ý là, thuật ngữ Kết nối vạn vật đôi khi được sử dụng ám chỉ cho cuộc cách
mạng công nghiệp thứ tư. Tuy nhiên, kết nối vạn vật chỉ được xem là một
trong những thành phần chính của công nghiệp 4.0, như được xác định bởi
Hermann và cộng sự3. Bằng việc giới thiệu giao thức mạng toàn cầu IPv6,
hiện tại có đủ địa chỉ có sẵn để xác định duy nhất, tài nguyên mạng, thông tin,
vật thể và con người, đang tạo ra IoT và IoS4.
Hermann và cộng sự định nghĩa IOT là một mạng trong đó CPS hợp tác
với nhau thông qua các lược đồ địa chỉ duy nhất5. Slack và cộng sự mô tả nó
như là một sự kết hợp của chip RFID, cảm biến và giao thức mạng toàn cầu
cho phép kết nối vị trí và trạng thái thực của các vật thể 6. Vì "vạn vật" và "vật
thể" có thể được hiểu là CPS, IoT và CPS là các thành phần được liên kết chặt
chẽ của công nghiệp 4.07. Công nghệ mạng toàn cầu trong tương lai sẽ nâng
cao hiệu suất của các hệ thống thực tế ảo (CPS). Khả năng đưa ra một định
danh duy nhất cho mọi đối tượng vật lý (vật thể thực) sẽ cho phép các vật thể
1
Hermann et al. (sđd).
tiếp với nhau qua IoT, hỗ trợ con người và máy móc trong thực hiện nhiệm
vụ3. Nó cho phép thu thập, phân phối và truy cập thông tin liên quan đến sản
xuất trong thời gian thực4. Radziwon và cộng sự đưa ra định nghĩa toàn diện
hơn về thuật ngữ này: “Nhà máy thông minh là một giải pháp sản xuất cung
cấp các quy trình sản xuất linh hoạt và thích ứng để giải quyết các vấn đề phát
sinh trên một cơ sở sản xuất với các khung điều kiện thay đổi nhanh và năng
động trong một thế giới độ phức tạp ngày càng tăng. Giải pháp đặc biệt này,
một mặt, có thể liên quan đến tự động hóa, được hiểu là sự kết hợp giữa phần
1
Anderl, R. (2014). Industrie 4.0-advanced engineering of smart products and smart production, in 19th
International Seminar on High Technology, Technological Innovations in the Product Development,
Piracicaba, Brazil.
2
Slack et al. (sđd)
3
Hermann et al. (sđd).
4
Lucke, D., Constantinescu, C., and Westkämper, E. (2008). Smart factory-a step towards the next
generation
of manufacturing, in Manufacturing systems and technologies for the new frontier. The 41st CIRP
Conference
on Manufacturing Systems. Springer: Tokyo, Japan. p. 115-118.
20
mềm, phần cứng và/hoặc cơ khí, điều này sẽ dẫn đến tối ưu hóa sản xuất, do
đó sẽ giảm lao động không cần thiết và sự lãng phí tài nguyên. Mặt khác, nó
có thể được hình dung ra trong viễn cảnh của sự hợp tác giữa các đối tác công
22
Nhờ cảm biến và kết nối, các sản phẩm sẽ được làm giàu bởi các dịch vụ
(chẳng hạn như bảo trì dự báo) hoặc thậm chí chuyển thành dịch vụ. Ví dụ
một nhà sản xuất động cơ có thể không bán động cơ nữa trong tương lai
nhưng cung cấp chúng như một dịch vụ cho khách hàng. Sau đó, ông ta sẽ chỉ
tính phí theo công suất của các động cơ mà khách hàng sử dụng.
3.3. Đặt người tiêu dùng vào trung tâm của tất cả các hoạt động
Người tiêu dùng ngày nay yêu cầu các sản phẩm và dịch vụ phải được
sản xuất có tính riêng biệt (Sản xuất cho tôi - “Made-for-Me”). Các hàng hóa,
máy móc và sản phẩm thông minh sẽ cho phép các nhà sản xuất giảm kích
thước lô hàng và sản xuất các sản phẩm tùy chỉnh mà không phải trả thêm chi
phí. Việc số hóa sẽ dẫn đến việc tìm nguồn cung ứng từ đám đông
(crowdsourcing) dễ dàng hơn, điều này sẽ dẫn đến một quy trình thiết kế
nhanh hơn.
3.4. Đặt con người vào trung tâm của quá trình sản xuất
Khi máy móc ngày càng trở nên thông minh hơn, công việc trong dây
chuyền sản xuất sẽ được làm giàu và nhân bản hóa. Thao tác thủ công đơn
giản sẽ biến mất. Công nhân sẽ trở thành điều phối viên đảm bảo sản xuất
trơn tru và chỉ can thiệp khi một máy móc yêu cầu phải hành động. Tính linh
hoạt sẽ là yếu tố thành công quan trọng. Người lao động sẽ được chỉ định nơi
cần trợ giúp. Điều này sẽ đặt nhu cầu cao hơn về mặt quản lý sự phức tạp, giải
quyết vấn đề và tự tổ chức, nhưng cũng cho phép lực lượng lao động trở nên
linh hoạt hơn. Các ca làm việc cố định mỗi ngày sẽ được bổ sung bằng năng
lực lập kế hoạch năng động và tự tổ chức để xem xét các ưu tiên của nhân
viên. Điều này sẽ cải thiện sự cân bằng giữa cuộc sống và công việc của tất cả
nhân viên; đồng thời cho phép thời gian phản ứng ngắn hơn đối với một tình
huống thay đổi trật tự.
International Symposium on Object Oriented Real-Time Distributed
Computing (ISORC), 2008. IEEE. p. 363-369.
Lee, J., Bagheri, B., and Kao, H.-A. (2015). A cyber-physical systems
architecture for industry 4.0-based manufacturing systems. Manufacturing
Letters, 3: p. 18-23.
Lucke, D., Constantinescu, C., and Westkämper, E. (2008). Smart factory-a
step towards the next generation of manufacturing, in Manufacturing systems
24
and technologies for the new frontier. The 41st CIRP Conference on
Manufacturing Systems. Springer: Tokyo, Japan. p. 115-118.
Radziwon, A., Bilberg, A., Bogers, M., and Madsen, E.S. (2014). The smart
factory: exploring adaptive and flexible manufacturing solutions. Procedia
Engineering, 69: p. 1184-1190.
Slack, N., Chambers, S., and Johnston, R. (2010). Operations management.
Pearson Education.
Yoon, J.-S., Shin, S.-J., and Suh, S.-H. (2012). A conceptual framework for
the ubiquitous factory. International Journal of Production Research, 50(8): p.
2174-2189.
KHẢI NIỆM, NỘI DUNG, ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA CUỘC
CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP LẦN THỨ TƯ (4.0)