Tại sao nói khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa tác động của cách mạng công nghiệp 4 0 đến sự phát triển của việt nam theo anh chị chúng ta nên làm gì để tận dụng cơ hội để rút ngắn quá tr - Pdf 55

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KIẾN TRÚC TP.HCM
KHOA LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ


Bộ môn: ĐƯỜNG LỐI CÁCH MẠNG ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TIỂU LUẬN
Đề tài: Tại sao nói khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện
đại hóa? Tác động của cách mạng công nghiệp 4.0 đến sự phát triển của Việt Nam? Theo anh
chị chúng ta nên làm gì để tận dụng cơ hội để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa?

Lớp: NT15A1
Niên khóa: 2018-2019

TP HCM ngày…..tháng…..năm 2019



MỤC LỤC
A. ĐẶT VẤN ĐỀ:
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I : TẠI SAO NÓI KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ LÀ NỀN TẢNG VÀ
ĐỘNG LỰC CỦA CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA?
I.1. Quan niệm về Công nghiệp hóa, Hiện đại hóa, Khoa học và công nghệ
I.1.a. Về công nghiệp hóa, hiện đại hóa
I.1.b. Về khoa học- công nghệ
I.2. Tính tất yếu phải phát triển khoa học công nghệ của đất nước ta sau giải phóng
I.2.a. Tác dụng của công nghiệp hoá hiện đại hoá
I.2.b. Thực trạng xã hội Việt Nam sau giải phóng và những yêu cầu cấp bách được đặt ra

thiện. Vì vậy, công nghiệp hoá - hiện đại hoá (CNH-HĐH) là một xu hướng khách quan, phù
hợp với xu thế của thời đại và hoàn cảnh đất nước góp phần tạo dựng cơ sở vật chất kĩ thuật
cho Chủ Nghĩa Xã Hội, hoàn thiện quan hệ sản xuất. Do CNH-HĐH có ý nghĩa vô cùng to lớn
với nước ta. Để đạt được mục tiêu đó, phải sử dụng cả nội lực và ngoại lực của một quốc gia
để có thể vừa nâng cao trình độ chuyên môn, năng suất lao động,chất lượng sản phẩm,...vừa
tiếp thu và lĩnh hội các thành tựu khoa học kỹ thuật từ các nước đi trước trên thế giới, đặc biệt
là trong quá trình Công nghiệp hóa- Hiện đại hóa của nước ta và sự bùng nổ của Công nghệ
4.0 hiện nay.
Nhận thấy được tầm quan trọng của vấn đề trên nên em đã lựa chọn “Tại sao nói khoa học
và công nghệ là nền tảng và động lực của công nghiệp hóa, hiện đại hóa? Tác động của cách
mạng công nghiệp 4.0 đến sự phát triển của Việt Nam? Theo anh chị chúng ta nên làm gì để tận
dụng cơ hội để rút ngắn quá trình công nghiệp hóa?” làm đề tài nghiên cứu và báo cáo cho bộ
môn “ Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam”.
phạm vi đề tài rộng nên trong mà tầm hiểu biết của em còn hạn chế nên không tránh khỏi
những sai sót , mong cô chỉ dẫn để bài tiểu luận của em được hoàn thiện hơn.
2. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
Làm rõ các luận điểm:
-

Khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của nền công nghiệp hóa, hiện đại hóa

-

Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến sự phát triển của Việt Nam

3


Tìm ra những giải pháp, trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và mỗi công dân nhằm rút ngắn quá
trình Công nghiệp hóa

4


CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi căn bản toàn diện các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch
vụ và quản lí kinh tế xã hội từ sử dụng lao động thủ công là chính sang sử dụng một cách phổ
biến sức lao động, cùng với công nghệ, phương tiện, phương pháp tiên tiến hiện đại, dựa trên
sự phát triển của công nghiệp và tiến bộ khoa - công nghệ, tạo ra năng suất lao động xã hội
cao.
I.1.b. Về khoa học công nghệ
Khoa học là một hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, con người, tư duy của con người. Nó
nghiên cứu và vạch ra những mối quan hệ nội tại, bản chất của các sự vật, hiện tượng, quá
trình, từ đó chỉ ra những quy luật khách quan của sự vận động và phát triển của tự nhiên, xã
hội và tư duy.
Công nghệ theo nghĩa chung nhất có thể coi đó là tập hợp tất cả những sự hiểu biết về con
người vào việc biến đổi, cải tạo thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu sống của con người sử tồn tại
và phát triển của xã hội.
I.2. Tính tất yếu phải phát triển khoa học công nghệ của đất nước ta
I.2.a. Tác dụng của công nghiệp hoá hiện đại hoá
-

Nó tạo điều kiện để biến đổi về chất lượng sản xuất, tăng năng suất lao động, tăng sức
chế ngự của con người đối với tự nhiên, tăng trưởng và phát triển kinh tế. Do đó góp
phần ổn định và nâng cao đời sống nhân dân.

-

Tạo điều kiện vật chất cho việc củng cố vai trò kinh tế của nhà nước, nâng cao năng lực
tích lũy, nhờ đó làm tăng sự phát triển tự do và toàn diện trong mọi hoạt động kinh tế
của con người.


đã gây ra những khó khăn cho việc đảm bảo lương thực, giải quyết công ăn việc làm cho
những người lao động. Bên cạnh đó, nước ta còn chịu ảnh hưởng nặng nề do sự nô dịch
của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân để lại. Đồng thời các cường quốc lại đang
thực hiện chính sách kìm hãm sự phát triển nhằm duy trì tình trạng bất bình đẳng của họ
trong sự phân công lao động quốc tế.

-

Về trình độ kỹ thuật- công nghệ, so với các nước tiên tiến trên thế giới, nước ta lạc hậu
từ 50 đến 100 năm, so với các nước tiên tiến ở mức trung bình, ta lạc hậu từ 1 đến 2 thế
hệ.
Trong quá trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Chủ nghĩa xã hội đòi hỏi một cơ sở vật
chất – kỹ thuật cao hơn trên cả hai mặt : trình độ kỹ thuật và cơ cấu sản xuất, gắn với
thành tựu của cách mạng khoa học – kỹ thuật hiện đại. xây dựng cơ sở vật chất – kỹ
thuật cho chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan và được thông qua công nghiệp
hoá hiện đại hoá. Vì cơ sở vật chất – kỹ thuật là điều kiện trọng yếu nhất, quyết định
nhất có liên quan đến sự phát triển về chất đối với lực lượng sản xuất, và năng suất lao
động.

Từ đó tạo ra những yêu cầu cấp bách:
-

Phải xây dựng cơ sở vật chất- kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội

-

Rút ngắn khoảng cách tụt hậu xa về kinh tế, kỹ thuật và công nghệ giữa Việt Nam và
thế giới

-

- Khoa học công nghệ sẽ giải quyết nhiệm vụ bảo vệ môi trường, cải thiện điều kiện
sống và làm việc, giảm lao động nặng nhọc, độc hại; biến đổi cơ cấu lao động theo
hướng nâng cao tỷ trọng lao động chất xám, lao động kỹ thuật, giảm lao động phổ
thông, lao động chân tay,...
- Khoa học công nghệ hạn chế ảnh hưởng của thiên nhiên, cho phép phát triển công
nghiệp ngay cả khi thời tiết không thuận lợi.

7


- Khoa học công nghệ giúp xây dựng năng lực công nghệ quốc gia, làm tăng khả năng
cạnh tranh giữa các doanh nghiệp trong nền kinh tế và mở rộng hơn nữa là lợi thế cạnh
tranh giữa các quốc gia trên thế giới.
Tóm lại, khoa học- công nghệ giúp tiết kiệm và thay thế sức người, sức của trong sản xuất, quy
trình sản xuất hiện đại tạo ra tác phong làm việc công nghiệp, chuyên nghiệp và kỷ luật cao.
KHCN cũng là yếu tố quyết định giúp chống lại “nguy cơ tụt hậu về kinh tế so với nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới”.
Ngay từ khi bắt đầu quá trình đổi mới, Đảng và Nhà nước đã quan tâm hoàn thiện và đổi mới
quan điểm, các chủ trương, chính sách trong lĩnh vực khoa học và công nghệ. Nghị quyết 26
của bộ Chính trị (Khóa VI ) đã nêu rõ: “Đại hội lần thứ VI của Đảng đề ra đường lối đổi mới,
coi khoa học và công nghệ là một động lực mạnh mẽ của sự nghiệp đổi mới, ổn định tình hình
và phát triển kinh tế xã hội theo định hướng XHCN, coi những người làm khoa học công nghệ
là đội ngũ cán bộ tin cậy, quý báu của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta”. Nghị quyết của Hội
nghị lần VII BCHTW (Khóa VII) trong phần về chủ trương phát triển công nghiệp và công
nghệ đến năm 2000 đã nêu rõ quan điểm: “Khoa học, công nghệ là nền tảng của CNH- HĐH.
Kết hợp công nghệ truyền thống với công nghệ hiện đại tranh thủ đi nhanh vào hiện đại ở
những khâu quyết định”. Trong báo cáo chính trị tại Đại hội VIII, Đảng lại nhấn mạnh: “Khơi
dậy trong nhân dân lòng yêu nước, ý chí quật cường, phát huy tài trí của người Việt, quyết tâm
đưa nước nhà ra khỏi nghèo nàn và lạc hậu bằng KHCN”. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ
IX của Đảng đã chỉ ra: “Con đường CNH- HĐH ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian vừa

nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội.

-

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) đã xác định, ở miền Bắc, công
nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ nhằm xây
dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá là con đường tất
yếu để phát triển nhanh nền kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân, thực hiện những
mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Công nghiệp hoá phải có kế hoạch, phải có giải pháp cụ
thể và phải giải quyết những mối quan hệ, trong đó có mối quan hệ cơ bản là giữa tích
luỹ cho công nghiệp hoá và cải thiện đời sống. Chú trọng mối quan hệ giữa công nghiệp
và nông nghiệp, nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp, công nghiệp phát triển
lại thúc đẩy nông nghiệp, phải coi công nghiệp và nông nghiệp như hai chân của nền
kinh tế "Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa có hai chân là công nghiệp và nông nghiệp". Phát
triển kinh tế "gắn liền với phát triển khoa học và kỹ thuật, với sự phát triển văn hóa của
nhân dân". Nửa đầu thập niên sáu mươi công nghiệp hóa được đẩy mạnh trên miền Bắc
theo đường lối Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng. Do hoàn cảnh chiến
tranh nên từ 1965 phải chuyển hướng kinh tế. Tuy vậy, Đảng ta vẫn chủ trương tiếp tục
xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh, đương nhiên quy mô tốc độ
công nghiệp hoá có sự điều chỉnh. Với đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa,
9


miền Bắc đã đầu tư xây dựng những khu trung tâm công nghiệp lớn và cũng hình thành
phát triển những ngành công nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế như điện, than, cơ khí
luyện kim, hoá chất, v.v... Đẩy mạnh cuộc cách mạng khoa học, kỹ thuật, coi trọng đưa
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các ngành kinh tế, nhất là nông nghiệp (cơ giới hóa, thủy
lợi hóa, cách mạng về giống cây trồng và vật nuôi).
-


-

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng tiếp tục khẳng định: "Phát triển
mạnh và nâng cao hiệu quả hoạt động KH&CN... Kết hợp chặt chẽ hoạt động KH&CN
với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huy vai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy
nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức... Đẩy mạnh nghiên cứu
và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng
và hiệu quả trong từng ngành, từng lĩnh vực của nền kinh tế... Cùng với việc đẩy mạnh xã
hội hóa hoạt động khoa học - công nghệ, Nhà nước tập trung đầu tư vào các chương trình
nghiên cứu quốc gia, phấn đấu đạt trình độ khu vực và thế giới; xây dựng tiềm lực
KH&CN cho một số lĩnh vực trọng điểm, công nghệ cao... Thực hiện chính sách trọng
dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật
viên lành nghề và công nhân kỹ thuật có tay nghề cao...".

-

Hội nghị Trung ương 9 Khóa X (2009) đã ra Nghị quyết 31-NQ/TW "Về một số nhiệm
vụ, giải pháp lớn nhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của
Đảng", về KH&CN, Nghị quyết ghi: "Tiếp tục đổi mới đồng bộ cơ chế quản lý và chính
sách phát triển KH&CN; nghiên cứu xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chiến lược, quy
hoạch, kế hoạch phát triển KH&CN quốc gia và các ngành, các sản phẩm quan trọng.
Phát triểrr thị trường KH&CN. Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu
khoa học với sản xuất kinh doanh, giáo dục và đào tạo. Có chính sách, chế độ đãi ngộ và
điều kiện làm việc tốt hơn cho cán bộ nghiên cứu khoa học, nhất là cán bộ đầu ngành, có
trình độ cao".

-

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã khẳng định: “Hoạt động nghiên
cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển

quyết định thành công của sự nghiệp phát triển KH&CN. Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và
đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựng chiến lược, kế
hoạch phát triển KH&CN; phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán bộ, cơ
chế tự chủ của các tổ chức KH&CN phù hợp với kinh tế thị trường, định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đầu tư cho nhân lực KH&CN là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng
tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc. Đảng và Nhà nước có chính sách phát triển, phát huy
và trọng dụng đội ngũ cán bộ KH&CN. Ưu tiên và tập trung mọi nguồn lực quốc gia cho
phát triển KH&CN. Nhà nước có trách nhiệm đầu tư, khuyến khích các thành phần kinh
tế tham gia phát triển hạ tầng, nâng cao đồng bộ tiềm lực khoa học xã hội và nhân văn,
khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ. Chú trọng nghiên cứu ứng dụng và triển khai;
coi doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ công là trung tâm của đổi mới, trong ứng dụng và
chuyển giao công nghệ, là nguồn cầu quan trọng nhất của thị trường KH&CN. Quan tâm
đúng mức đến nghiên cứu cơ bản, tiếp thu và làm chủ công nghệ tiên tiến của thế giới phù

13


hợp với điều kiện Việt Nam. Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để cập nhật tri thức
KH&CN tiên tiến của thế giới, thu hút nguồn lực và chuyên gia, người Việt Nam định cư
ở nước ngoài và người nước ngoài tham gia các dự án KH&CN của VN. Khuyến khích và
tạo điều kiện thuận lợi để sinh viên, nghiên cứu sinh, thực tập sinh sau khi được đào tạo ở
nước ngoài về nước làm việc.

II. CHƯƠNG II: TÁC ĐỘNG CỦA CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0 ĐẾN SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA VIỆT NAM
II.1. Giới thiệu cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
Cho đến nay, thế giới đã trải qua ba cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật lớn: Thứ nhất, cách
mạng công nghiệp 1.0 (1784) là sự xuất hiện của động cơ hơi nước. Động cơ hơi nước tác
động trực tiếp đến các ngành nghề như dệt may, chế tạo cơ khí, giao thông vận tải. Động cơ
hơi nước được đưa vào ôtô, tàu hỏa, tàu thủy, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nhân

hưởng đến tất cả các lĩnh vực, nền kinh tế, các ngành kinh tế và ngành công nghiệp. Trọng tâm
của các ngành công nghiệp này bao gồm sự đột phá công nghệ trong lĩnh vực trí tuệ nhân tạo
AI, Robots, Internet vạn vật, xe tự lái, công nghệ in 3D, công nghệ Nano..
II.2. Tác động của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đến sự phát triển của Việt Nam
II.2.a. Vai trò của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 đối với sự phát triển toàn cầu
Cách mạng công nghiệp 4.0 là sự tiếp nối cách mạng công nghiệp 3.0 là sản phẩm của cách
mạng KHCN đang diễn ra với quy mô ngày càng lớn hơn, sâu rộng hơn, tốc độ nhanh hơn,
dường như đồng thời trên quy mô toàn cầu, đến mức không thể kịp nhận đoán “hình dạng” của
ngày mai. Nó thể hiện vừa đồng thời, đồng loạt, cộng hưởng, đột biến, bất ngờ, ảnh hưởng dữ
dội, quy mô lớn và sâu rộng so với các giai đoạn lịch sử trước đây trong sự phát triển của khoa
học, kỹ thuật, công nghệ và công nghiệp. Do vậy cách mạng công nghiệp 4.0 có những đặc

15


tính tương đồng với cách mạng KHCN hiện đại và là sự thể hiện trên lĩnh vực công nghiệp của
cách mạng KHCN. Hai cuộc cách mạng công nghiệp này không tách rời nhau trong giai đoạn
hiện nay ở đa phần các nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.

Minh chứng của Công nghệ 4.0 đó là Robot Sophia, cô ấy đã được cấp quyền công
dân của Saudi Arabian. Sophia được tiến sĩ người Mỹ David Hanson, nhà sáng lập công
ty robot Hanson Robotics chế tạo ra tại Hong Kong.
Cách mạng công nghiệp 4.0 đã tiếp tục tạo ra môi trường xã hội đặc biệt, chưa từng có trong
lịch sử. Đó là môi trường thông tin, trong đó phần nhiều lao động thể lực được thay thế bằng
lao động trí tuệ với những phẩm chất và năng lực tinh thần, đòi hỏi tính chất sáng tạo, độc đáo,
cá nhân hóa. Thông tin, tri thức khoa học trở thành điều kiện, môi trường, nhân tố cấu thành và
nội dung thiết yếu của quá trình sản xuất, là nguồn tạo ra của cải vô tận, là nguồn lực đặc biệt
của sự phát triển con người và xã hội. Cách mạng KHCN tạo tiền đề cho nền sản xuất xã hội ở
giai đoạn cách mạng công nghiệp 3.0 vượt qua trình độ sản xuất đại trà, đặc trưng của nền sản
xuất cũ trước đây, theo nghĩa là sản xuất đại trà không còn có thể thống trị, phổ quát. Nền sản

đồng thời nó lại trở thành một trong những thách đố khó vượt qua được đối với các nước đang
phát triển như Việt Nam chúng ta, bởi những nước phát triển có tiềm lực khoa học và công
nghệ mạnh, có thể đi vào tương lai với tốc độ nhanh hơn nhiều so với các nước có tiềm lực
khoa học và công nghệ yếu kém hơn. Nếu không có cách tiếp cận đúng và bắt kịp nhịp độ phát
triển của thế giới và khu vực, Việt Nam sẽ đối mặt với nguy cơ tụt hậu ngày càng xa về công
nghệ, tình trạng dư thừa lao động kỹ năng thấp và sự bất bình đẳng trong xã hội.
Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư, là con đẻ mới nhất của cách mạng KHCN, đang bắt
đầu diễn ra trên thế giới, đang tạo ra một thách đố và cơ hội lớn đối với dân tộc Việt Nam hiện

17


nay. Chưa bao giờ trong lịch sử nước ta lại có những điều kiện và tiền đề như hiện nay cả về
phương diện chính trị, xã hội, kinh tế, nhân lực và cả các quan hệ quốc tế để có thể vận dụng
và thực hiện cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Nếu chúng ta biết tận dụng tối đa và có hiệu
quả những điều kiện và tiền đề đang có thì không chỉ cách mạng công nghiệp lần thứ tư nói
riêng, mà cả cách mạng KHCN nói chung, có thể được triển khai và mang lại những hiệu quả
tích cực ở nước ta trong những thập kỷ tới, có thể biến nó trở thành công cụ quyết định trong
việc rút ngắn khoảng cách tụt hậu so với các nước phát triển trên thế giới. Khoảng ba thập niên
cuối cùng của thế kỷ 20, chính nhờ sử dụng có hiệu quả các thành tựu của cách mạng KHCN
hiện đại, của cách mạng công nghiệp 3.0 mà các nước như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore và
vùng lãnh thổ Đài Loan đã “hóa rồng” một cách ngoạn mục. Ấn Độ hiện cũng đang là một
trong những quốc gia có nhiều thành công trong việc tiếp nhận và vận dụng các thành tựu của
cách mạng KHCN hiện đại và cách mạng công nghiệp 3.0 để phát triển một số lĩnh vực như
nông nghiệp, công nghiệp phần mềm, công nghiệp ô tô, công nghiệp văn hoá,…
Một trong những nguyên nhân quan trọng, được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới chỉ ra, của
sự sụp đổ của hệ thống XHCN trước đây, chính là đã không vận dụng và phát triển được cách
mạng khoa học - công nghệ hiện đại, đặc biệt là cách mạng công nghiệp 3.0, trong ba thập kỷ
cuối cùng của thế kỷ XX. Nếu không tận dụng được cơ hội do cách mạng KHCN hiện đại và
cách mạng công nghiệp 3.0 và 4.0 tạo ra, để phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa,

ngộ, sắp xếp nguồn nhân lực chất lượng cao để phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ và
công nghiệp, lại phụ thuộc vào thể chế khoa học, công nghệ và công nghiệp của đất nước.
Nhưng thể chế lại phụ thuộc vào nguồn nhân lực chất lượng cao đặc biệt là nguồn nhân lực
chất lượng cao trong lĩnh vực quản lý, mà cụ thể ở đây là quản lý khoa học, kĩ thuật, công nghệ
và công nghiệp, trong các cơ quan, tổ chức hoạt động và ứng dụng khoa học, kỹ thuật, công
nghệ. Họ là những người xây dựng các quy trình, quy tắc, luật pháp, chính sách và trực tiếp
điều hành việc vận dụng và phát triển tiềm lực khoa học, công nghệ của các cơ quan, xí
nghiệp, cơ sở đào tạo, bệnh viện, đơn vị sản xuất, dịch vụ,… Thể chế cho hoạt động khoa học,
kỹ thuật và công nghệ đóng vai trò quyết định cả về định hướng lẫn quy mô, tốc độ phát triển
tiềm lực khoa học, công nghệ và công nghiệp của quốc gia, quyết định sự thành bại của cách
mạng công nghiệp 4.0 trên đất nước ta. Đây là một loại thể chế đặc biệt vừa mang tính chất thị
trường vừa mang tính chất phi thị trường. Tính cực đoan trong tạo dựng và áp dụng thể chế,
hoặc nghiêng quá về phía thị trường, hoặc nghiêng quá về phía phi thị trường, đều không có
tác dụng thúc đẩy, mà lại có tác dụng kìm hãm, thậm chí phá hoại tiềm lực khoa học, kỹ thuật
và công nghệ của đất nước, cản trở cách mạng công nghiệp 3.0 đang diễn ra và cách mạng
công nghiệp 4.0 đang bắt đầu. Ở nước ta hiện nay, qua nhiều thập kỷ phát triển, một mặt, đội

19


ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực khoa học, kĩ thuật, công nghệ và công
nghiệp đã được xây dựng và phát triển đông đảo chưa từng có. Nhiều thành tựu khoa học, kỹ
thuật và công nghệ to lớn, thúc đẩy sự phát triển công nghiệp của đất nước gắn liền với đội ngũ
nguồn nhân lực chất lượng cao trong lĩnh vực này. Nhưng, trên nhiều bình diện, đội ngũ nguồn
nhân lực chất lượng cao đó vẫn chưa đáp ứng được những đòi hỏi của công cuộc xây dựng và
phát triển đất nước ở giai đoạn mới hiện nay của cách mạng KHCN, đặc biệt trong giai đoạn
cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đến. Mặt khác, việc chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch
hoá tập trung, hành chính, quan liêu, bao cấp sang nền kinh tế thị trường có sự điều tiết của
Nhà nước đòi hỏi bước chuyển thể chế quản lý phải đồng bộ và thích hợp để tạo tiền đề cho sự
phát triển của các lĩnh vực khác nhau, trong đó có lĩnh vực khoa học, kỹ thuật, công nghệ và

lực cạnh tranh...
Trong 10 năm qua, nền kinh tế số Việt Nam đã phát triển không ngừng về cả nền tảng hạ
tầng kết nối số lẫn thị trường kinh doanh. Năm 2007, số người sử dụng Internet ở Việt
Nam là 17,7 triệu người. Đến năm 2017, số người sử dụng Internet ở Việt Nam đã tăng
lên mức 64 triệu, xấp xỉ 67% dân số.
Việt Nam hiện xếp thứ 13 trong top 20 quốc gia có số dân sử dụng mạng Internet đông
nhất thế giới. Các doanh nghiệp viễn thông, Internet ở Việt Nam đã phát triển liên tục và
đạt mức doanh thu 6,1 tỉ USD, góp phần tạo ra hơn 851.000 việc làm cho xã hội.

Trình diễn ứng dụng tìm kiếm vị trí cảu Công ty
gannha.com
tại Hội thảo và triển lãm Toàn cảnh Công nghệ thông tin

Truyền thông Việt Nam lần 23
Demo robot tìm kiếm nơi xảy
ra thảm hoạ thiên tai

21


- Cách mạng công nghiệp 4.0, tác động trực tiếp vào đời sống xã hội và con người, làm tăng
tuổi thọ, sức khoẻ, thể lực, trí lực nối dài và gia tăng gấp nhiều lần năng lực trí tuệ và sức
mạnh cơ bắp.
Các cuộc cách mạng công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp 4.0 cho phép tạo ra những
công dân có thể trạng tốt, nó không chỉ có tác động trong giai đoạn phát triển cho đến
trưởng thành của một con người mà còn cả trong giai đoạn hình thành trong bụng mẹ,
thậm chí ảnh hưởng đến cả sức khỏe của bố mẹ thông qua việc sử dụng các công nghệ
tiên tiến, khoa học thông qua các cuộc kiểm tra sức khỏe định kì, các đợt khám chữa
bệnh,...
Bên cạnh đó, nó còn tạo ra con người có kỹ năng, kỹ xảo lao động, có trình độ chuyên

III.1. Một số điều kiện để rút ngắn quá trình CNH- HĐH ở nước ta
Quá trình thực hiện sự nghiệp CNH- HĐH là một quá trình diễn ra lâu dài, liên tục trong nhiều
năm, tuy nhiên, sau một vài năm tiến hành cho thấy ở nước ta xuất hiện một số điều kiện và
yếu tố chủ quan cho phép nước ta có thể rút ngắn tiến trình CNH- HĐH của Việt Nam, sự rút
ngắn đó tạo ra rất nhiều thuận lợi cho việc đưa đất nước nhanh tiến lên XHCN
Chúng ta là một trong số các nước đi sau trong tiến trình CNH- HĐH trên thế giới, vì thế, ta
thừa hưởng được những thành tựu của cuộc cách mạng khoa học công nghệ trên thế giới đang
phát triển ở đỉnh cao. Vì vậy trong điều kiện hội nhập toàn cầu, CNH-HĐH ở nhiều quốc gia
có điều kiện rút ngắn hơn do được tiếp thu những thành tựu khoa học.Đồng thời, phải hội tụ
những thành quả bước đầu trong kinh tế, trong cơ sở hạ tầng, trong đội ngũ lao động và còn có
thể nhiều yếu tố khác nữa, cụ thể là:
-

Sau nhiều năm đổi mới kinh tế, nước ta đã có nhiều khởi sắc, tốc độ tăng trưởng liên tục
trong nhiều năm liền, nhiều công nghệ đã có khả năng thích nghi và dần dần chúng ta
đã làm chủ công nghệ tiên tiến của nước ngoài trong nhiều lĩnh vực như viễn thông,
khai thác dầu khí, năng lượng, cơ khí ô tô, điện tử, xây dựng, sinh học,.. Khoa học công
nghệ đã góp phần quan trọng trong việc huy động và sử dụng một cách có hiệu quả các
nguồn lực trong nước góp phần thúc đẩy kinh tế phát triển. Trên cơ sở đó một số yếu tố
của nền kinh tế tri thức đã được hình thành và phát huy tác dụng.

-

Nước ta đã tạo ra hệ thống kết cấu hạ tầng khá đồng bộ, tương đối hiện đại phục vụ cho
sự nghiệp phát triển như hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt, sân bay, hệ thống
cầu cảng, hệ thống cáp truyền tải điện, hệ thống thông tin liên lạc trong nước và quốc tế
đã và đang tạo tiền đề cho việc phát triển. Mặt khác có thể thấy chúng ta đã hình thành


hàng trăm khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao với hệ thống kết cấu hạ

các nước trong khu vực Đông Nam Á ASEAN, Tổ chức Hợp tác Kinh tế Châu Á- Thái Bình

Dương APEC, tiến tới gia nhập WTO. Sự gia nhập các tổ chức lớn tạo tiền đề, điều kiện và

cũng là thách thức cho các nước huy động và phân bổ nguồn lực phát triển, đồng thời giúp

các quốc gia xây dựng nền kinh tế trên cơ sở nền kinh tế mở, đa phương lành mạnh, cởi mở,

cạnh tranh. Vì vậy, hội nhập kinh tế quốc tế là phương thức để các nước đi sau thực hiện
nhanh sự nghiệp CNH- HĐH đất nước.
-

Chúng ta biết rằng “ nhân lực là nguồn lực của mọi nguồn lực”, chúng ta đã tạo được nguồn

nhân lực có kiến thức khoa học, kinh nghiệm thực tế phong phú và chất lượng, từng bước đáp

ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH- HĐH. Hệ thống các trường đại học, cao đẳng, các viện,

trung tâm nghiên cứu triển khai ngày càng mở rộng và được nâng cao đáp ứng cho quá trình
CNH- HĐH ngày càng tăng của đất nước

Tóm lại sau hơn 20 năm đổi mới nền kinh tế Việt Nam đã có tốc độ tăng trưởng nhanh và ổn định,

nguồn thu và dự trữ của ngân sách ngày càng tăng đã và đang cho phép chúng ta tăng cường cho đầu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status