Luận văn chế định tài sản riêng của vợ, chồng theo luật hôn nhân và gia đình năm 2014 - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐÀO THỊ TUYẾT

CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI


ĐÀO THỊ TUYẾT

CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG
THEO LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH NĂM 2014

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN VĂN CỪ


TANDTC:

Tòa án nhân dân tối cao

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU

1

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu

1

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2


3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn

4

4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn

5

5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn

6



Khái niệm thời kỳ hôn nhân

1.1.4.

Khái niệm tài sản riêng và xác định tài sản riêng của vợ, chồng 15

14

1.2. Ý nghĩa của quy định tài sản riêng của vợ, chồng và chế định tài sản riêng
của vợ, chồng

17

1.3. Chế định tài sản riêng của vợ, chồng theo pháp luật Việt Nam

20

1.3.1. Chế định tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật thời kỳ phong kiến
20
1.3.2. Chế định tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật thời Pháp thuộc 21
1.3.3. Chế định tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật ở miền Nam nước
ta trước ngày thống nhất đất nước (1954-1975)

23


1.3.4. Chế định tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật Hôn nhân và gia
đình của Nhà nước ta từ năm 1945 đến nay



62

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

67

CHƯƠNG 3. THỰC TIỄN THI HÀNH LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH
NĂM 2014 VỀ CHẾ ĐỊNH TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG

69

3.1. Thực tiễn thi hành chế định tài sản riêng của vợ, chồng

69

3.1.1. Nhận xét chung

69

3.1.2. Thực tiễn xét xử của Tòa án về chế định tài sản riêng của vợ, chồng 72
3.2. Một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các quy định về chế
định tài sản riêng của vợ, chồng

78


3.2.1. Nâng cao hiệu quả xét xử của Tòa án trong các tranh chấp liên quan
đến tài sản của vợ chồng


chồng tham gia rộng rãi vào các giao dịch dân sự, kinh tế,… đã là hiện tượng
mang tính tất yếu, khách quan; không chỉ thể hiện sự bình đẳng của vợ, chồng
trong quan hệ HN&GĐ mà còn góp phần không nhỏ cải thiện đời sống vật
chất, tinh thần của vợ, chồng và của cả gia đình. Bên cạnh đó, việc pháp luật
hiện hành ghi nhận và bảo hộ quyền có tài sản riêng của vợ, chồng trong thời
kỳ hôn nhân còn góp phần tạo ra hành lang pháp lý để vợ, chồng chủ động
tham gia vào các quan hệ pháp luật khác. Tuy vậy, bên cạnh những mặt tích
cực này thì quan hệ HN&GĐ cũng bộc lộ những hạn chế, đặc biệt là các tranh
chấp liên quan đến tài sản của vợ chồng (tài sản chung, tài sản riêng, nghĩa vụ
chung, nghĩa vụ riêng) ngày càng nhiều, phức tạp và gay gắt.
Trong bối cảnh đó, Luật HN&GĐ năm 2014 được ban hành và có hiệu
lực từ ngày 01/01/2015. Sau gần 2 năm đi vào thực thi trong đời sống, Luật
HN&GĐ năm 2014 đã góp phần không nhỏ trong việc xây dựng và điều


9

chỉnh các quan hệ HN&GĐ nói chung, các quan hệ pháp luật liên quan đến tài
sản của vợ chồng nói riêng.
Trong những năm qua ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu
liên quan đến vấn đề tài sản của vợ chồng, tuy nhiên chưa có một công trình
nghiên cứu độc lập về tài sản riêng của vợ, chồng; đặc biệt là về vấn đề xác
định tài sản riêng của vợ, chồng theo quy định của pháp luật HN&GĐ hiện
hành. Bên cạnh đó, trong thực tiễn xét xử của Tòa án, vì nhiều lí do khác nhau
mà việc áp dụng các quy định về tài sản riêng của vợ, chồng còn gặp nhiều
vướng mắc; đặc biệt là trong việc xác định tài sản riêng của vợ, chồng. Từ
những vấn đề nêu trên cho thấy việc đi sâu nghiên cứu về vấn đề xác định tài
sản riêng của vợ, chồng là hết sức cần thiết. Đây cũng là lí do tác giả lựa chọn
và nghiên cứu đề tài “Chế định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật Hôn
nhân và gia đình năm 2014”.

nhân và gia đình Việt Nam”, NXB Tư Pháp, 2008
- Nguyễn Văn Cừ, “Quyền sở hữu của vợ chồng theo Luật HN&GĐ
năm 2000”, Tạp chí Luật học số 6/2002
- Nguyễn Văn Cừ, “Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật HN&GĐ
Việt Nam”, Luận án tiến sĩ luật học năm 2005


11

- Nguyễn Văn Cừ “Tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất,
kinh doanh” đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường (2008) do TS Nguyễn
Văn Cừ làm chủ nhiệm
- Nguyễn Hồng Hải, “Nghĩa vụ tài sản giữa vợ và chồng theo quy định
của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000”, Tạp chí Luật học, Số 4 năm 2000.
- Nguyễn Hồng Hải, Trường Đại học Luật Hà Nội, Luận văn thạc sĩ,
“Xác định tài sản của vợ chồng, một số vấn đề lý luận và thực tiễn”, Hà Nội,
2002
Song, chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận được thừa nhận
trong Luật HN&GĐ năm 2014 có nhiều thay đổi. Do đó, luận văn là công
trình nghiên cứu một cách toàn diện chế độ tài sản riêng của vợ, chồng theo
Luật HN&GĐ năm 2014.
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn
- Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu chế định tài sản riêng của vợ, chồng theo Luật
HN&GĐ năm 2014. Cụ thể là nghiên cứu các vấn đề sau: Khái niệm tài sản,
sở hữu tài sản, căn cứ xác định tài sản riêng của vợ, chồng; quyền và nghĩa vụ
của vợ, chồng đối với tài sản riêng; quyền và nghĩa vụ riêng của vợ chồng...
- Phạm vi nghiên cứu:
Chế định tài sản riêng của vợ, chồng đã được thừa nhận ở nhiều nước
trên thế giới. Trong lịch sử, ở Việt Nam cũng đã từng ghi nhận sự tồn tại của

- Trên cơ sở phân tích lý luận, đánh giá thực tiễn, luận văn nêu lên một
số kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định có liên quan đến vấn đề xác định
tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Tác giả viết luận văn dựa trên một số câu hỏi nghiên cứu sau:
- Khái niệm tài sản là gì? Quyền sở hữu tài sản là gì?
- Quy định pháp luật hiện hành về chế định tài sản riêng của vợ, chồng
như thế nào?
- Các quy định hiện hành về chế định tài sản riêng của vợ, chồng có
vướng mắc, bất cập gì?
- Các TAND áp dụng pháp luật về chế định tài sản riêng của vợ, chồng
ra sao?
- Ý thức của người dân, của vợ, chồng như thế nào đối với các quy định
của pháp luật hiện hành về chế định tài sản riêng của vợ, chồng?
- Cần có các giải pháp hoàn thiện như thế nào để thực thi pháp luật về
chế định tài sản riêng của vợ, chồng đạt hiệu quả cao?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Luận văn được xây dựng và hoàn thiện trên cơ sở các nguyên lý của
chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của


14

chủ nghĩa Mác – Lênin về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý
thức xã hội. Theo đó, pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng,
được hình thành trên cơ sở thực tiễn đời sống xã hội. Cả trong lý luận và thực
tiễn đều chứng minh rằng: hệ thống pháp luật nói chung, các quy định cụ thể
của pháp luật nói riêng phải phù hợp với các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội
thì mới có tính khả thi, qua đó góp phần cho xã hội ổn định và phát triển.
Ngoài ra, trong quá trình triển khai đề tài này, chúng tôi đã sử dụng một

chế định tài sản riêng của vợ, chồng. Qua một số giải pháp hoàn thiện đó, có
thể đề xuất hướng hoàn thiện đối với TAND các cấp, giúp cho việc thực thi
pháp luật được tốt hơn.
8. Bố cục (các chương) của luận văn
Ngoài lời nói đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành ba chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế định tài sản riêng của vợ, chồng
Chương 2: Quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về chế định tài sản
riêng của vợ, chồng.
Chương 3: Thực tiễn thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về chế
định tài sản riêng của vợ, chồng


16

CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHẾ ĐỊNH
TÀI SẢN RIÊNG CỦA VỢ, CHỒNG
1.1.

Một số khái niệm chung

1.1.1. Khái niệm chế định pháp luật và chế định tài sản của vợ
chồng
1.1.1.1.

Khái niệm chế định pháp luật

Theo từ điển luật học “Chế định pháp luật là tổng thể các quy phạm
pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội gần gũi, có cùng tính chất trong
phạm vi mỗi ngành luật vốn bao gồm nhiều chế định”.

đảm quyền lợi của gia đình, trong đó có lợi ích cá nhân của vợ và chồng.
Những quy định của pháp luật về chế định tài sản của vợ chồng là cơ sở tạo
điều kiện để vợ chồng chủ động thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình
đối với tài sản của vợ chồng.
Thứ ba, căn cứ xác lập, chấm dứt chế định tài sản của vợ chồng phụ
thuộc vào sự phát sinh, chấm dứt của quan hệ hôn nhân hay nói cách khác,
chế định tài sản của vợ chồng thường chỉ tồn tại trong thời kỳ hôn nhân.


18

Như vậy, chế định tài sản của vợ chồng được pháp luật ghi nhận nhằm
điều chỉnh các quan hệ tài sản của vợ chồng, tạo điều kiện để vợ, chồng có
những cách “xử sự” theo yêu cầu của pháp luật và phù hợp với đạo đức xã
hội.
Chế định tài sản riêng của vợ, chồng là tổng hợp các quy phạm pháp
luật điều chỉnh về căn cứ, nguồn gốc; quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng đối
với tài sản riêng.
1.1.2. Khái niệm thời kỳ hôn nhân
Theo Khoản 13 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Thời kỳ
hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày
đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân.”
Như vậy, thời kỳ hôn nhân được giới hạn từ thời điểm đăng ký kết hôn
hoặc hôn nhân được công nhận là có hiệu lực đến thời điểm chấm dứt hôn
nhân do một bên vợ hoặc chồng chết, vợ hoặc chồng bị tuyên bố chết, do ly
hôn bằng bản án hoặc quyết định thuận tình ly hôn có hiệu lực pháp luật.
Trong suốt thời kỳ này, do sự tồn tại của quan hệ hôn nhân nên đời
sống chung của vợ chồng được thiết lập, tính chất cộng đồng của hôn nhân
cũng được thể hiện rõ nét, đồng thời vợ chồng có các quyền và nghĩa vụ với
nhau theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2014: Vợ chồng có nghĩa vụ

thì khối lượng tài sản trong xã hội cũng tăng lên thúc đẩy hình thành ý thức về
việc xác lập khối tài sản riêng để phục vụ các nhu cầu cá nhân. Điều này hoàn
toàn phù hợp với tâm lý của con người trong việc mong muốn sở hữu khối tài
sản độc lập và chủ động trong quá trình sử dụng tài sản.


20

Bên cạnh đó, trước khi kết hôn có thể mỗi bên vợ, chồng đã tự tạo lập
được một khối tài sản nhất định do chính công sức lao động của mình. Về bản
chất, khối tài sản này là thuộc sở hữu riêng của một bên vợ, chồng. Do đó,
nếu sau khi kết hôn tài sản này đương nhiên trở thành tài sản chung, một bên
vợ, chồng còn lại trở thành chủ tài sản và có đầy đủ quyền năng pháp lý đối
với tài sản thì hoàn toàn mâu thuẫn với nguyên tắc xác lập quyền sở hữu tài
sản được quy định trong BLDS.
Ngoài ra, bên cạnh mối quan hệ giữa vợ và chồng, các thành viên trong
gia đình còn rất nhiều mối quan hệ với các thành viên khác trong xã hội.
Trong quá trình giao lưu, ngoài nhu cầu về tình cảm, mỗi cá nhân có thể có
rất nhiều các nhu cầu chính đáng liên quan tới tài sản như: làm từ thiện, tặng
quà lưu niệm, cấp dưỡng cho con riêng,…Trong các trường hợp này, nếu áp
dụng chế độ tài sản chung thì sẽ làm cản trở nhiều nhu cầu chính đáng của cá
nhân, cản trở sự phát triển của xã hội.
1.2. Ý nghĩa của quy định tài sản riêng của vợ, chồng và chế định tài
sản riêng của vợ, chồng
Pháp luật hiện hành ghi nhận và bảo hộ quyền có tài sản riêng cũng như
quy định các căn cứ để xác định tài sản riêng của một bên vợ, chồng là thực
sự cần thiết và có ý nghĩa đặc biệt quan trọng cả trong lý luận cũng như thực
tiễn.
Việc ghi nhận vợ, chồng có quyền có tài sản riêng là sự hiện thực hóa
những nguyên tắc Hiến định ghi nhận quyền sở hữu tài sản của cá nhân, là sự

quan đến tài sản riêng được minh bạch hóa về mặt chủ thể. Đây là tiền đề tạo
ra môi trường pháp lý thuận lợi, ổn định để vợ, chồng chủ động tham gia vào
các quan hệ kinh tế, xã hội đồng thời góp phần đảm bảo quyền lợi của các bên
có liên quan.


22

Xác định cụ thể tài sản riêng của một bên vợ, chồng là căn cứ quan
trọng để giải quyết các tranh chấp có liên quan đến tài sản của vợ chồng.
Thông thường, trong đời sống hôn nhân ít khi đặt ra vấn đề xác định tài sản
chung hay riêng nhưng khi vợ, chồng có nhu cầu phân định tài sản riêng thì
các quy định của pháp luật là căn cứ pháp lý để các bên hoặc Tòa án xác định
đâu là tài sản riêng của vợ, chồng, đồng thời xác định rõ trách nhiệm của mỗi
bên vợ, chồng trong việc quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản riêng đó. Việc
xác định tài sản riêng không chỉ để bảo vệ quyền lợi của bên vợ, chồng có tài
sản mà qua đó còn góp phần đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người
thứ ba ngay tình, của cộng đồng và của xã hội.
Việc quy định hạn chế quyền của một bên vợ, chồng đối với tài sản
riêng của mình trong một số trường hợp đã tạo điều kiện để vợ, chồng thể
hiện trách nhiệm với gia đình thông qua việc đưa tài sản riêng vào sử dụng
chung, qua đó xây dựng ý thức cùng chung sức xây dựng gia đình ấm no,
hạnh phúc. Đây là điều kiện cần thiết để bảo vệ quyền lợi của các thành viên
trong gia đình, tránh những mâu thuẫn xảy ra làm tổn thương đến tình cảm và
sự đoàn kết trong gia đình, giúp vợ, chồng xác định được quyền và nghĩa vụ
về tài sản đối với gia đình, đối với nhau và đối với con cái.
Trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, Luật Hôn nhân và Gia đình điều
chỉnh các quan hệ về nhân thân và tài sản giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và các
con, giữa các thành viên khác trong gia đình. Việc thực hiện và áp dụng chế
định tài sản của vợ chồng góp phần củng cố, bảo đảm thực hiện các quyền và

rẽ. Bởi lẽ xã hội thời kỳ này chịu ảnh hưởng nặng nề của hệ tư tưởng Nho
giáo, tư tưởng trọng nam khinh nữ, người phụ nữ phải tam tòng,… đã ăn sâu
vào trong tiềm thức và đời sống của mỗi người. Trong gia đình truyền thống,
yếu tố tình cảm, lợi ích tinh thần được coi trọng hơn các yếu tố vật chất. Việc


24

người đàn ông là trụ cột của gia đình, người phụ nữ khi xuất giá trở thành
người của gia đình chồng, sống và phục tùng những quy củ lễ giáo của gia
đình chồng được coi như một lẽ đương nhiên trong cuộc sống. Bởi thế, người
chồng mặc nhiên được coi là chủ gia đình đồng thời là chủ sở hữu các tài sản
trong gia đình và có toàn quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến tài sản vì
lợi ích của gia đình. Còn người vợ không có quyền sở hữu tài sản, ngay cả đối
với tài sản chung của vợ, chồng. Với thực trạng xã hội như thế, pháp luật
phong kiến hoàn toàn không dự liệu các quy định về tài sản chung hay tài sản
riêng của vợ, chồng, mọi tài sản đều là của chung và vấn đề xác định tài sản
riêng của vợ, chồng cũng không được đặt ra.
1.3.2. Chế định tài sản riêng của vợ, chồng trong pháp luật thời
Pháp thuộc
Năm 1858 thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, triều đình nhà
Nguyễn đã đi từ nhượng bộ này đến nhượng bộ khác và cuối cùng đã đầu
hàng vô điều kiện. Thời kỳ Pháp thuộc kéo dài gần tám chục năm, với chính
sách nham hiểm “chia để trị”, thực dân Pháp đã chia nước ta thành ba miền và
ở từng miền cho ban hành và áp dụng các bộ luật riêng điều chỉnh các quan hệ
HN&GĐ, trong đó có chế độ tài sản của vợ chồng.
- Ở Bắc Kỳ áp dụng BLDS năm 1931 (DLBK)
- Ở Trung Kỳ áp dụng BLDS năm 1936 (DLTK)
- Ở Nam Kỳ cho ban hành tập Dân luật giản yếu năm 1883 (DLGYNK)
Tập Dân luật giản yếu năm 1883 (DLGYNK)



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status