Luận văn pháp luật về tổ chức và hoạt động của công ty tài chính ở việt nam - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ HOÀNG LÂM

PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

ĐỖ HOÀNG LÂM

PHÁP LUẬT VỀ TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG
CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60380107


Đỗ Hoàng Lâm


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi, được thực
hiện dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Phạm Thị Giang Thu. Các số liệu, ví dụ và trích
dẫn trong Luận văn đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực. Những số liệu phục vụ cho việc
phân tích, nhận xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có
ghi rõ trong phần tài liệu tham khảo.
Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm
trước hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình.
Tôi xin chân thành cảm ơn!

XÁC NHẬN CỦA GIẢNG
VIÊN HƯỚNG DẪN

PGS.TS Phạm Thị Giang Thu

Hà Nội, ngày tháng
năm 2016
NGƯỜI CAM ĐOAN

Đỗ Hoàng Lâm


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1

CTTC


Ngân hàng nhà nước Việt Nam

7

TCTD

Tổ chức tín dụng

8

TĐKT

Tập đoàn kinh tế

9

TNHH

Trách nhiệm hữu hạn

10

VBQPPL

Văn bản quy phạm pháp luật


MỤC LỤC
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

1.1.2. Các loại hình Công ty tài chính
11
1.1.3. Vị trí, vai trò của Công ty tài chính
13
1.2. Khái quát Pháp luật về tổ chức và hoạt động của Công ty tài chính
14
1.2.1. Khái niệm pháp luật về tổ chức và hoạt động của Công ty tài chính
14
1.2.2. Các yếu tố chi phối pháp luật về tổ chức và hoạt động của Công ty tài chính
16
1.2.3. Nội dung pháp luật về tổ chức và hoạt động của Công ty tài chính
20
Chương 2
24
THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA
CÔNG TY TÀI CHÍNH Ở VIỆT NAM
24
2.1. Sự hình thành và phát triển của pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động
của Công ty tài chính ở Việt Nam
24
2.1.1. Giai đoạn đầu pháp luật về Công ty tài chính ở Việt Nam
25
2.1.2. Giai đoạn pháp luật về các công ty tài chính gắn với các tập đoàn, tổng công ty
nhà nước
26
2.1.3. Giai đoạn pháp luật tái cơ cấu các công ty tài chính ở Việt Nam
27
2.2. Thực trạng pháp luật về tổ chức của Công ty tài chính
30
2.2.1. Thành lập, tổ chức lại, giải thể và phá sản

77
3.3.1. Về hệ thống pháp luật Công ty tài chính
77
3.3.2. Về các quy định pháp luật tổ chức của các CTTC
79
3.3.3. Về các quy định pháp luật hoạt động của các CTTC
81
3.3.4. Về tăng cường quản lý giám sát Công ty tài chính
87
3.3.5. Về bản thân các Công ty tài chính
88
KẾT LUẬN
90


9

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam có những bước phát triển
mạnh mẽ, tốc độ tăng trưởng GDP luôn ở mức cao của thế giới, trong sự phát triển
vượt bậc ấy, không thể không kể đến vai trò của các kênh lưu chuyển tiền tệ trong
nền kinh tế. Các kênh tài chính này đóng vai trò to lớn trong việc phân phối hiệu
quả các nguồn lực kinh tế từ đó thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế cũng kéo theo sự phát triển của
cả hệ thống tài chính nói chung và của thị trường tài chính, trung gian tài chính nói
riêng. Tài chính- ngân hàng trở thành một lĩnh vực kinh doanh đầy tiềm năng, hứa
hẹn nhiều thời cơ, lợi nhuận, nhưng cũng chứa không ít rủi ro. Sự phát triển của thị
trường tài chính cùng với sự ra đời và phát triển trung gian tài chính đã góp phần
tích cực tạo nguồn vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh của thành phần kinh tế.


hàng, các Tổ chức tín dụng như đã nêu trên thì việc nghiên cứu pháp luật tổ chức và
hoạt động của Công ty tài chính có ý nghĩa lý luận và thực tiễn to lớn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định hiện hành của pháp luật
điều chỉnh tổ chức và hoạt động của các Công ty Tài chính tập trung vào các quy
định pháp luật chuyên ngành trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, từ đó đề xuất các
kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt
động của các Công ty Tài chính, khuyến khích sự phát triển của các Công ty Tài
chính ở Việt Nam.
Nội dung nghiên cứu của luận văn được giới hạn trong phạm vi để làm sáng
tỏ những vấn đề lý luận pháp luật của Công ty tài chính; phân tích, đánh giá thực
trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật về tổ chức và hoạt động của Công ty
tài chính nói chung, từ đó đề xuất phương hướng và các giải pháp hoàn thiện pháp
luật về tổ chức và hoạt động của Công ty tài chính ở Việt Nam.
Về thời gian nghiên cứu, những vấn đề về thực trạng pháp luật và thực thi
pháp luật về tổ chức, hoạt động của Công ty tài chính ở Việt Nam được xem xét
nghiên cứu từ nhiều nguồn tài liệu tham khảo trong các giai đoạn khác nhau từ khi
Công ty tài chính được thành lập lần đầu tiên theo Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã
tín dụng và công ty tài chính năm 1990 cho đến thời điểm hiện nay.
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là nhằm: Làm rõ vấn đề lý luận về Công
ty tài chính và pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động Công ty tài chính ở Việt
Nam hiện nay. Đánh giá các mặt đã đạt được và phân tích những bất cập, hạn chế
của mảng pháp luật nói trên để từ đó đưa ra định hướng và giải pháp hoàn thiện về
tồ chức và hoạt động của Công ty tài chính.
5. Các câu hỏi nghiên cứu của luận văn
Trong luận văn, một số vấn đề sau đây được tác giả đưa ra nghiên cứu, xem
xét:
- Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật về tổ chức và hoạt động

Ngoài phần mở đầu và kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các mục viết
tắt, luận văn được chia làm 3 chương.
Chương 1. Những vấn đề chung về Công ty tài chính và pháp luật về tổ
chức và hoạt động của Công ty tài chính
Chương 2. Thực trạng pháp luật điều chỉnh tổ chức và hoạt động của Công
ty tài chính ở Việt Nam
Chương 3. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về tổ chức và hoạt động của
Công ty tài chính ở Việt Nam


13

PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CÔNG TY TÀI CHÍNH VÀ PHÁP LUẬT VỀ
TỔ CHỨC VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA CÔNG TY TÀI CHÍNH
1.1. Khái quát chung về Công ty tài chính
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm Công ty tài chính
1.1.1.1. Khái niệm Công ty tài chính
Trong nền kinh tế thị trường, hệ thống kinh tế của mỗi quốc gia có nhiều
loại thị trường hoạt động, nhưng về cơ bản có ba loại: thị trường các yếu tố sản
xuất, thị trường sản phẩm hàng hoá và dịch vụ, và thị trường tài chính. Trong các
thị trường đó, thị trường tài chính đóng vai trò quan trọng, có tính chất quyết định
đến sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Trong đó có hai kênh dẫn vốn truyền
thống then chốt, đó là kênh dẫn vốn tài trợ gián tiếp thông qua các trung gian tài
chính và kênh dẫn vốn tài trợ trực tiếp thông qua thị trường tài chính.
Các trung gian tài chính (hay còn gọi là “định chế tài chính trung gian”) là
các tổ chức chuyên hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ. Hoạt
động chủ yếu và thường xuyên của các tổ chức này là đứng ra làm trung gian cung
cấp các dịch vụ tài chính – tiền tệ, với đặc trưng: tạo ra sức hút mạnh mẽ, đa dạng

Ở nhiều nước, các CTTC phát triển đa dạng ở những giai đoạn khác nhau
xuất phát từ nhu cầu tài chính, tín dụng. CTTC xuất hiện rất sớm ở các nước Châu
Âu, Châu Mỹ, do sự có mặt của CTTC cũng như sự phát triển của nó gắn liền với
sự ra đời và phát triển của thị trường chứng khoán.
Ở Thụy Điển các CTTC được thành lập từ giữa những năm 1960 phát triển
mạnh vào những năm 1970 và đến nay giữ một vị trí quan trọng trong các tổ chức
tài chính trung gian. Năm 1986 ở nước này đã có tới 244 CTTC với tài sản có 84 tỷ
Krone.
Ở Nhật Bản, các CTTC được hình thành từ những năm 1954, nhằm phục vụ
cho các cơ sở KD nhỏ, đến nay ở nước này đã có hàng loạt CTTC ra đời, nhiều
CTTC đã nổi lên và chiếm giữ những vị trí quan trọng trong hệ thống các cơ quan
tài chính của Nhật với số vốn hàng nghìn tỷ Yên và chi phối hoạt động của nhiều
lĩnh vực trong nền kinh tế xã hội Nhật Bản.4
Ở Mỹ: CTTC tại Mỹ được xếp vào loại hình các tổ chức tài chính phi ngân
hàng cùng với các quỹ tương hỗ, quỹ tương trợ thị trường tiền tệ. CTTC tại Mỹ huy
động vốn chủ yếu bằng cách phát hành các cổ phiếu và trái phiếu, sử dụng nguồn
vốn huy động được để cho vay người tiêu dùng, tài trợ thương mại, cho thuê kinh
doanh... Hầu hết các TĐKT của Mỹ đều có CTTC.
Ở Pháp, các CTTC phát triển rất mạnh vào thập niên 70 của thế kỷ XX.
Hiện nay tại Pháp các CTTC với quy mô hoạt động khác nhau, nhưng phần lớn có
quy mô nhỏ.
Ở Ma-lai-xia: CTTC đầu tiên ra đời vào năm 1960, đến năm 1969 có luật
về CTTC. Sau khi có luật, nhiều CTTC được ra đời bởi 1 ngân hàng mẹ hoặc 1
3

Tống Quốc Trường (2009), Hoạt động của Công ty Tài chính Dầu khí thuộc Tập đoàn Dầu khí Việt Nam:
Kinh nghiệm và giải pháp, Luận án Tiến sỹ kinh tế, Trường Đại học Kinh tế quốc dân, Hà Nội, tr.18
4
Trần Công Diệu (2002), Những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển công ty tài chính ở Việt Nam, Luận
án Tiến sỹ Khoa học Kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội, tr.57.

vực của hoạt động ngân hàng và không được nhận từ công chúng tiền gửi không kỳ
hạn và có kỳ hạn ít hơn một năm.7
Các nước theo hệ thống ngân hàng của Anh lại định nghĩa CTTC là một
loại hình tổ chức tài chính phi ngân hàng, được thành lập để cung cấp các loại dịch
vụ tài trợ khác nhau cho các khách hàng là các doanh nghiệp sản xuất hoặc các cá
nhân. Các CTTC có thể cung cấp các khoản cho vay, cho thuê tài chính, bao thanh
toán và các hình thức tín dụng ngắn hạn và dài hạn khác.8
Ở Sing-ga-po, hoạt động của các CTTC chịu sự điều chỉnh của Luật CTTC.
Nguồn vốn chủ yếu của các CTTC là khoản tiền gửi có kỳ hạn, được các CTTC
dùng để cấp tín dụng tiêu dùng dưới dạng trả dần hoặc cho vay để mua bất động
sản. Để đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh, CTTC không được nhận tiền
gửi không kỳ hạn; không được kinh doanh vàng bạc, ngoại tệ; không được cho một
khách hàng vay quá 30% vốn tự có...9
Ở Việt Nam, sau khi Pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty
tài chính năm 1990 đặt cơ sở pháp lý đầu tiên cho sự ra đời và hoạt động của
7

Trần Công Diệu (2002), Những giải pháp nhằm hoàn thiện và phát triển công ty tài chỉnh ở Việt Nam, Luận
án tiến sĩ kinh tế, Học viện Ngân hàng, Hà Nội, tr.20.
8
Tống Quốc Trường, tlđd chú thích 3, tr 46
9
Tống Quốc Trường, tlđd chú thích 3, tr 53.


17

CTTC. Khái niệm CTTC ban đầu được đưa ra là công ty quốc doanh hoặc cổ phần,
hoạt động chủ yếu là cho vay để mua, bán hàng hoá, dịch vụ bằng nguồn vốn của
mình hoặc vay của dân cư. Cùng sự lớn mạnh của nền kinh tế, sự biến chuyển của

hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của


18

cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng theo
quy định của pháp luật”
1.1.1.2. Đặc điểm Công ty tài chính
Hệ thống ngân hàng, TCTD ở mỗi quốc gia do nhiều bộ phận hợp thành,
mỗi bộ phận lại có vị trí và vai trò khác nhau. Ở nước ta hiện nay hệ thống ngân
hàng, TCTD gồm: NHNN và các TCTD. Tuy các CTTC được thành lập dưới các
hình thức khác nhau với tên gọi và phạm vi hoạt động nghiệp vụ khác nhau nhưng
các CTTC đều nằm trong hệ thống TCTD. CTTC mang đầy đủ các đặc trưng của
một TCTD nói chung và những đặc điểm riêng thể hiện ở các điểm sau:
Thứ nhất, CTTC là một loại hình trung gian tài chính với chức năng cơ
bản là chuyển vốn từ nơi dư thừa vốn tới nơi thiếu hụt vốn. Do vậy, nó mang những
đặc điểm cơ bản của một trung gian tài chính, theo đó trung gian tài chính là cầu nối
gắn liền người có vốn – cho vay với những người cần vốn – đi vay, hoạt động huy
động vốn và cho vay của các trung gian tài chính có thể diễn ra trực tiếp với các chủ
thể kinh tế hoặc thông qua thị trường tài chính. 10
Thứ hai, CTTC là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu,
thường xuyên và mang tính nghề nghiệp một số các hoạt động ngân hàng. Đây là
dấu hiệu cơ bản để phân biệt doanh nghiệp là TCTD với các loại hình doanh nghiệp
kinh doanh trong các lĩnh vực khác, kể cả các doanh nghiệp có hoạt động ngân hàng
không thường xuyên như các công ty bảo hiểm, công ty kinh doanh chứng khoán.
Đặc điểm này có ý nghĩa quyết định đến cơ chế điều chỉnh của pháp luật đối với tổ
chức và hoạt động của các CTTC. Các hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh
doanh có đặc trưng là lấy tiền tệ làm đối tượng kinh doanh trực tiếp, hoạt động ngân
hàng là một hoạt động kinh doanh đặc thù, tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao, khó quản lý,
khó giám sát, có thể tác động tích cực và tiêu cực của hoạt động kinh doanh của các

NHNN có các quy định pháp luật riêng cho CTTC nói chung và cho từng loại hình
CTTC nói riêng.
1.1.2. Các loại hình Công ty tài chính
Có nhiều tiêu chí khác nhau để phân loại CTTC. Tùy từng đặc điểm phát
triển của mỗi nền tài chính – tiền tệ, hệ thống pháp lý mà mỗi quốc gia có những sự
phân chia CTTC khác nhau. Ở các nước trên thế giới, các CTTC thường được phân
chia thành 3 loại hình là: 13
- CTTC bán hàng: Các CTTC này gián tiếp cấp tín dụng cho người tiêu
dùng để mua hàng từ một nhà phân phối hoặc một nhà sản xuất nào đó.
- CTTC tiêu dùng: CTTC loại này cung ứng phần lớn nguồn vốn của mình
cho các gia đình và cá nhân vào mục đích mua sắm hàng hóa tiêu dùng.
- CTTC thương mại: Các công ty này chuyên cung cấp tín dụng bằng cách
mua lại hoặc chiết khấu các khoản phải thu của doanh nghiệp. Ngoài ra, còn cung
cấp cho khách hàng các hợp đồng cho thuê tài chính và một số dịch vụ khác.
Theo quy định của pháp luật Việt Nam, các CTTC thường được phân loại
theo yếu tố nước ngoài, theo loại hình doanh nghiệp và theo các hoạt động kinh
doanh.
12

Lê Thị Thu Hà (2011), Tổ chức kiểm toán nội bộ tại các Công ty tài chính Việt Nam, Luận án tiến sỹ kinh
tế, Trường Đại học kinh tế Quốc dân, Hà Nội, tr.10.
13 Học viện tài chính (2014), Giáo trình tài chính – tiền tệ, Nxb. Tài chính, Hà Nội, tr. 210.


20

Căn cứ vào yếu tố nước ngoài, CTTC có thể được phân loại thành:
+ CTTC Việt Nam là CTTC được thành lập, tổ chức bởi các cá nhân, tổ
chức Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam.
+ CTTC liên doanh được thành lập, tổ chức bằng vốn góp của bên Việt

21

(i) CTTC bao thanh toán là CTTC chuyên ngành, hoạt động chính trong
lĩnh vực bao thanh toán
(ii) CTTC tín dụng tiêu dùng là CTTC chuyên ngành, hoạt động chính trong
lĩnh vực tín dụng tiêu dùng.
(iii) Công ty Cho thuê Tài chính là CTTC chuyên ngành, hoạt động chính là
cho thuê Tài chính.
1.1.3.Vị trí, vai trò của Công ty tài chính
1.1.3.1. Vị trí của Công ty Tài chính
CTTC là một loại hình trung gian tài chính. Cùng với các loại hình trung
gian tài chính khác tạo nên kênh dẫn vốn gián tiếp (hay kênh tài chính gián tiếp) có
chức năng dẫn vốn từ người sở hữu vốn sang người sử dụng vốn bằng cách tập hợp
các khoản vốn nhàn rỗi lại rồi cho vay. Kênh tài chính gián tiếp lại kết hợp với kênh
dẫn vốn trực tiếp (thị trường tài chính) tạo nên một khâu quan trọng của hệ thống tài
chính. Đến lượt nó, khâu tài chính này lại kết hợp với 3 khâu tài chính cơ bản là tài
chính công, tài chính doanh nghiệp và tài chính hộ gia đình để tạo nên một hệ thống
tài chính hoàn bị. Như vậy, CTTC là một bộ phận để cấu thành của hệ thống tài
chính của một quốc gia.
Hoạt động của các CTTC đồng thời còn góp phần làm phong phú thêm các
dịch vụ tài chính - ngân hàng, đáp ứng nhu cầu phát triển đa dạng của thị trường tài
chính tiền tệ trong nền kinh tế thị trường. Như vậy, có thể thấy, khi nền kinh tế càng
phát triển thì vai trò của trung gian tài chính càng quan trọng. Bên cạnh các trung
gian tài chính khác, CTTC cũng góp phần tạo thêm một kênh dẫn vốn cho nền kinh
tế, đáp ứng được nhu cầu vay vốn trung và dài hạn cho các doanh nghiệp, đặc biệt
là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, phục vụ nhu cầu sinh hoạt tiêu dùng của cá nhân...
1.2.2. Vai trò của các Công ty Tài chính
Một là, thúc đẩy nền kinh tế phát triển, tạo vốn cho nền kinh tế. Nó cho
phép sử dụng triệt để các nguồn vốn mà các công ty này đang nắm giữ. Đồng thời
nó còn huy động thêm một lượng vốn quan trọng trong nền kinh tế vào quá trình

nhau, trong đó có thể nói quản lý bằng pháp luật là công cụ quan trọng nhất. Pháp
luật dưới góc độ luật học được hiểu như là tổng thể các quy tắc xử sự có tính bắt
buộc chung, do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận, thể hiện ý chí của giai cấp cầm
quyền, được Nhà nước đảm bảo thực hiện bằng biện pháp giáo dục, thuyết phục và
cưỡng chế, được đảm bảo bằng Nhà nước.
Xét về khái niệm tổ chức, theo nghĩa rộng, tổ chức không chỉ có nghĩa là
quá trình sắp xếp và bố trí hệ thống, bộ máy, các công việc, giao quyền hạn và phân
phối các nguồn lực để cùng thực hiện một nhiệm vụ, môt chức năng chung mà còn
bao hàm các phương thức, cơ sở hình thành trước đó để phát sinh việc tổ chức, quản
lý hay việc thay đổi, chấm dứt việc tổ chức, quản lý đó. Bởi bất kỳ một chủ thể kinh
doanh nào muốn tồn tại, tổ chức và hoạt động được cần phải có thủ tục khai sinh
thành lập ra nó, cũng như việc tổ chức lại, giải thể, phá sản đối với chủ thể này.
Xét về khái niệm hoạt động dưới góc độ kinh tế là phạm vi, khả năng thực
hiện một hoặc nhiều chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ thể trong mối quan hệ


23

đối với chủ thể khác để thực hiện vai trò, chức năng của mình. Tùy những chủ thể
khác nhau mà có những hoạt động khác nhau và chức năng, nhiệm vụ khác nhau.
Các chủ thể kinh doanh có hoạt động kinh doanh, hoạt động thương mại là hoạt
động chính, nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ,
đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác. Đối với
các CTTC nói riêng và các TCTD nói chung là các chủ thể kinh doanh đặc thù,
được phép thực hiện một hoặc một số các hoạt động ngân hàng phù hợp với quy
định pháp luật.
Sự ra đời và phát triển của CTTC phát sinh mối quan hệ giữa CTTC với
Khách hàng, giữa CTTC với NHNN, với các TCTD, tổ chức tài chính khác. Để điều
chỉnh các quan hệ phát sinh đó, Nhà nước phải ban hành nhiều quy phạm pháp luật
khác nhau ở nhiều văn bản khác nhau nhằm đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh

cũng ngày càng được hoàn thiện và theo kịp sự chuyển biến của nền kinh tế thị
trường. Nó đã tạo ra được những cơ sở pháp lý với các quy định tương đối đầy đủ
và hoàn thiện có thể kể đến các VBQPPL quy định chung Luật doanh nghiệp, Luật
đầu tư…, các VBQPPL chuyên ngành như Luật các TCTD năm 2010, Nghị định
39/2014/NĐ-CP và các văn bản hướng dẫn của NHNN về tổ chức và hoạt động của
CTTC.
Có thể hiểu:“Pháp luật về Công ty Tài chính là tổng hợp các quy phạm
pháp luật do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành điều chỉnh các quan hệ xã
hội phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động của Công ty Tài chính với các
bên chủ thể có liên quan”
Với các quy phạm pháp luật về tổ chức và hoạt động của CTTC, nhà nước
đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các CTTC cạnh tranh bình đẳng, lành
mạnh với các thành phần kinh tế khác trong xã hội, đáp ứng yêu cầu đòi hỏi đặt ra
cho các CTTC.
1.2.2. Các yếu tố chi phối pháp luật về tổ chức và hoạt động của Công ty
tài chính
Có rất nhiều yếu tố chi phối đến pháp luật về tổ chức và hoạt động của
CTTC, sau đây là những yếu tố cơ bản và chủ yếu nhất:
1.2.2.1.Chính sách phát triển kinh tế của Nhà nước
Đối với bất kỳ quốc gia nào, chính sách của Nhà nước cũng luôn là một
công cụ quan trọng để quản lý vĩ mô, điều chỉnh cơ cấu nền kinh tế. Ở Việt Nam,
do đặc thù của nền kinh tế trước đây, Nhà nước điều tiết nền kinh tế theo cơ chế
quản lý kinh tế tập trung, bao cấp, thực hiện nguyên tắc độc quyền nhà nước về
ngân hàng. Theo nguyên tắc này, kinh doanh ngân hàng là lĩnh vực độc quyền của
nhà nước. Trong nền kinh tế quốc dân các ngân hàng đều thuộc sở hữu nhà nước.
Thực hiện chủ trương đổi mới toàn diện, sâu sắc và triệt để theo Nghị quyết
Đại hội Đảng VI và các Nghị quyết Đại hội Đảng sau đó, công cuộc đổi mới đất
nước được triển khai mạnh mẽ, nền kinh tế chuyển dần từ cơ chế kế hoạch hóa tập
trung sang cơ chế thị trường định hướng XHCN có sự quản lý của Nhà nước và
từng bước hội nhập kinh tế quốc tế. Nhà nước không còn giữ vai trò độc quyền mà

NHTM, CTTC, quỹ đầu tư... góp phần tích cực vào việc tạo nguồn vốn cho hoạt
động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Sự di
chuyển và phân bổ nguồn vốn trong xã hội cho đầu tư phát triển được tiến hành phù
hợp, hiệu quả hơn điều đó đóng vai trò tích cực vào sự tăng trưởng kinh tế đất nước.
Tháng 5/1990, Hội đồng Nhà nước thông qua 2 Pháp lệnh Ngân hàng. Hệ
thống ngân hàng bắt đầu quá trình chuyển đổi mạnh mẽ, căn bản và toàn diện phù
hợp với chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần của Đảng, Nhà
nước. Năm 1997, Quốc hội thông qua Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và Luật



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status