Những điểm mới về pháp luật BHYT
Nguồn: .tapchibaohiemxahoi.org.vn
Bảo vệ và chăm sóc sức khỏe nhân dân luôn là mục tiêu và mối quan tâm sâu sắc
của Đảng và Nhà nước. Công dân có quyền hưởng chế độ bảo vệ sức khỏe là một
nguyên tắc hiến định và được thể chế hóa trong các văn bản pháp luật. BHYT là
một trong những giải pháp quan trọng thể hiện nguyên tắc này. Ra đời năm 1992,
qua 13 năm thực hiện, BHYT đã khẳng định được tính đúng đắn và cần thiết phục
vụ mục tiêu bảo vệ, chăm sóc sức khoẻ nhân dân.
Tính đến năm 2004, cả nước có 18 triệu người được hưởng chế độ BHYT, chiếm
22% dân số cả nước. Số thu BHYT liên tục tăng qua các năm và luôn đạt khoảng
1/3 ngân sách Nhà nước dành cho y tế. Năm 2004 số thu BHYT là 2.260 tỷ đồng,
bằng 38,3% ngân sách y tế. Những giá trị kinh tế và xã hội mà BHYT mang lại
ngày càng khẳng định vai trò quan trọng của BHYT. Nhận thức được vai trò thiết
yếu của BHYT trong bảo vệ và chăm sóc sức khỏe, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ
IX khẳng định "thực hiện công bằng trong chăm sóc sức khỏe, tiến tới BHYT toàn
dân". Tuy nhiên, quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn triển khai thực hiện
BHYT đang gặp không ít khó khăn, nảy sinh nhiều bất cập. Một mâu thuẫn phát
sinh giữa nhu cầu khám chữa bệnh BHYT ngày càng cao và sự lỗi thời trong các
quy định về BHYT đang trở thành một thách thức trong xã hội.
Ngày 16/5/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 63/2005/NĐ-CP thay thế Nghị
định 58/1998/NĐ-CP ngày 13/8/1998. Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ra đời đã
khắc phục những hạn chế trước mắt trong các quy định về BHYT, mở rộng phạm
vi đối tượng thụ hưởng chính sách và cải thiện nâng cao quyền lợi cho đối tượng
thụ hưởng. Những điểm mới của Nghị định 63/2005/NĐ-CP được thể hiện dưới
các góc độ dưới đây:
Về kỹ thuật lập pháp
Nghị định mới thể hiện sự tiến bộ trong kỹ thuật lập pháp. Các điều quy định được
mô tả rõ ràng, từ ngữ sử dụng mang tính quy phạm hơn. Nghị định cũng đã bổ
sung mới Điều 2 “Giải thích từ ngữ”. Theo đó các khái niệm được sử dụng trong
và các ngành sự nghiệp khác; trạm y tế xã phường, thị trấn; các tổ chức khác có sử
dụng lao động; người lao động, xã viên làm việc và hưởng tiền công theo hợp
đồng lao động từ đủ 3 tháng trở lên trong các hợp tác xã.
- Các đối tượng khác được bổ sung bao gồm: người nghèo theo Quyết định số
139/2002/QĐ-TTg ngày 15/10/2002 của Thủ tướng Chính phủ; thân nhân sỹ quan
nghiệp vụ đang công tác trong lực lượng công an nhân dân; cựu chiến binh thời kỳ
chống Pháp, Mỹ
Nghị định cũng quy định các doanh nghiệp có từ 1 lao động trở lên cũng phải
tham gia BHYT bắt buộc (thay vì 10 lao động như trước đây).
2. Mở rộng quyền lợi BHYT cho đối tượng tham gia
Quyền lợi BHYT cho đối tượng tham gia luôn được xác định là một nội dung quan
trọng trong việc hoàn thiện chính sách BHYT cũng như trong thực tiễn triển khai
thực hiện. Việc sửa đổi, bổ sung các quy định về BHYT đều hướng tới mục đích
cải thiện và mở rộng quyền lợi BHYT ở mức cao nhất có thể. Nghị định
63/2005/NĐ-CP đã sửa đổi, bổ sung nhiều quy định nhằm mở rộng quyền lợi cho
người tham gia BHYT. Các quy định đó gồm:
- Mở rộng phạm vi thanh toán cho các trường hợp: chi phí phục hồi chức năng; chi
phí vận chuyển trong trường hợp phải chuyển tuyến chuyên môn kỹ thuật đối với
người nghèo, người thuộc diện chính sách, người sinh sống, công tác ở vùng núi,
vùng sâu, vùng xa.
- Điều 12 đã thu hẹp phạm vi các trường hợp không được hưởng quyền lợi BHYT.
Theo đó các trường hợp trước đây không được quỹ BHYT thanh toán như: tai nạn
giao thông, bệnh bẩm sinh và dị tật bẩm sinh, nay được thanh toán theo Nghi định
mới.
- Đối với việc sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao: theo Điều 8, khoản 2 thì quỹ BHYT
thanh toán chi phí sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao. Bộ Y tế phối hợp với Bộ Tài
chính quy định danh mục dịch vụ kỹ thuật cao và mức tối đa được quỹ BHYT
thanh toán. Người bệnh BHYT chỉ phải trả phần chênh lệch. Tuy nhiên, một số đối
tượng như hưu trí, đối tượng hưởng trợ cấp BHXH hàng tháng, người có công với
cách mạng, người tham gia kháng chiến và con đẻ của họ bị nhiễm chất độc hoá
cũng quy định UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cân đối trong
nguồn ngân sách địa phương và huy động sự đóng góp của các cơ quan, tổ chức,
cá nhân để hỗ trợ mức đóng BHYT tự nguyện cho nhân dân địa phương, đặc biệt
cho đối tượng cận nghèo, nhằm thúc đẩy sự tham gia BHYT tự nguyện của nhân
dân.
4. Quản lý Nhà nước về BHYT
Chính phủ giao cho Bộ Y tế thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về BHYT. Bộ
Tài chính, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bộ Nội vụ trong phạm vi nhiệm
vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về
BHYT. Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm
quản lý Nhà nước về BHYT trên địa bàn tỉnh, thành phố.
Ngoài ra, Nghị định 63 có nhiều quy định chi tiết hơn:
- Điều 6 quy định các nội dung liên quan đến thẻ BHYT như việc phát hành thẻ,
giá trị sử dụng của thẻ, các trường hợp thẻ không có giá trị sử dụng... Những nội
dung này rất có ý nghĩa về mặt pháp lý nhưng Nghị định 58 còn bỏ ngỏ.
- Điều 9 cho phép cơ quan BHXH ký hợp đồng với cơ sở y tế tư nhân có đủ điều
kiện chuyên môn kỹ thuật để khám chữa bệnh cho người bệnh BHYT. Bộ Y tế
quy định tiêu chuẩn cơ sở khám chữa bệnh đủ điều kiện khám chữa bệnh BHYT.
- Điều 14 bổ sung thêm các hình thức thanh toán giữa cơ sở khám chữa bệnh và cơ
T