MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Yêu cầu thực tiễn của sự nghiệp đổi mới, cải cách hành chính nhà nước
đòi hỏi phải có đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở đáp ứng được về năng
lực, trình độ, khả năng thích ứng nhiệm vụ được phân công, phải đạt tiêu
chuẩn theo quy định. Một nội dung được hội nghị lần thứ 5 Ban Chấp hành
Trung ương Đảng khóa IX xác định: “Xây dựng đội ngũ cán bộ cơ sở có năng
lực tổ chức và vận động nhân dân thực hiện đường lối của Đảng, pháp luật
của Nhà nước, công tâm, thạo việc, tận tụy với dân, biết phát huy sức dân,
không tham nhũng, không ức hiếp dân, trẻ hóa đội ngũ, chăm lo công tác đào
tạo, bồi dưỡng, giải quyết hợp lý và đồng bộ chính sách đối với cán bộ cơ sở”
[5].
Hoạt động của chính quyền cơ sở đóng vai trò chủ chốt, gắn liền với sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Để xây dựng cấp xã vững mạnh, thực
sự là nền tảng của chế độ, là nền móng của tòa nhà xã hội, vấn đề có ý nghĩa
quyết định là phải xây dựng đội ngũ CBCC cấp xã có tính chuyên nghiệp, có
đủ phẩm chất, trình độ và năng lực, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự
nghiệp phát triển của đất nước. Thực tế đã chứng minh đội ngũ CBCC nói
chung và cán bộ chuyên trách (CBCT) cấp cơ sở nói riêng có vai trò quan
trọng trong việc xây dựng và hoàn thiện bộ máy chính quyền cơ sở cũng như
có vai trò quan trọng trong việc hoạch định, triển khai và tổ chức thực hiện
chính sách của Đảng, Nhà nước; quyết định sự thành công hay thất bại của
đường lối, chính sách do cơ quan, tổ chức vạch ra. Hiệu lực, hiệu quả của
chính quyền cấp cơ sở suy cho cùng được quyết định bởi trình độ, phẩm chất,
năng lực và hiệu quả công tác của CBCC cấp cơ sở.
Báo cáo tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 3 (khóa
VIII) của Bộ Chính trị về chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh CNH-HĐH đất
1
nước đã chỉ rõ: trình độ, năng lực, kiến thức về kinh tế thị trường, luật pháp,
sách đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ CBCT cấp cơ sở, đề ra những định
hướng, giải pháp chính sách tăng cường thực hiện chính sách ĐTBD nhằm
nâng cao năng lực, chất lượng CBCT cấp cơ sở từ thực tiễn Quận 6 để góp
phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ chính trị trong giai đoạn hiện nay là yêu
cầu cấp bách. Đây chính là lý do học viên chọn đề tài “Thực hiện chính
sách đào tạo bồi dưỡng đối với cán bộ chuyên trách cấp cơ sở từ thực tiễn
địa bàn Quận 6, Thành phố Hồ Chí Minh” để làm đề tài nghiên cứu cho
luận văn thạc sĩ chuyên ngành Chính sách công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Cán bộ và thực hiện công tác ĐTBD đối với CBCT cấp cơ sở có vai trò
rất quan trọng, được xem là nhiệm vụ trọng tâm trong việc nâng cao chất
lượng đội ngũ CBCT cấp cơ sở. Liên quan đến chủ đề này, đã có khá nhiều
công trình tiêu biểu được nhiều tác giả phân tích, nghiên cứu, đánh giá như:
-
Đề tài khoa học cấp Nhà nước KX.04.09 của Tiến sĩ Thang Văn Phúc,
Bộ Nội vụ, Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức đáp ứng yêu cầu của Nhà
nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nội dung đề tài nêu lên yếu tố khách quan
của việc xây dựng đội ngũ CBCC đáp ứng yêu cầu của Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa và yêu cầu về số lượng, chất lượng đối với đội ngũ CBCC
trong điều kiện mới. Đề tài đã có chương riêng về thực trạng và giải pháp xây
dựng đội ngũ CBCC cấp cơ sở, đề xuất quan điểm, giải pháp xây dựng đội
ngũ CBCC trong hệ thống chính trị nói chung và CBCC trong các cơ quan
Đảng, tổ chức chính trị - xã hội, cơ quan nhà nước. Trong đó có đề cập đến
yêu cầu chung của bộ máy nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đặc điểm
của hệ thống chính trị cơ sở và đội ngũ nhân lực chuyên môn ở địa phương
hiện nay.
-
-
Tác giả Đặng Khắc Ánh với bài “Đào tạo, bồi dưỡng theo vị trí việc
làm - Những khó khăn và kiến nghị”, Tạp chí Quản lý nhà nước số 2/2012 đã
phân tích sự cần thiết phải ĐTBD theo vị trí việc làm và cho rằng những hạn
chế trong ĐTBD CBCC ở nước ta thời gian qua có nguyên nhân chủ yếu là do
hoạt động ĐTBD chủ yếu cung cấp những kiến thức và kỹ năng chung, chưa
bảo đảm cung cấp các kiến thức và kỹ năng cần thiết phù hợp với từng vị trí
công việc. Do đó, cần thiết phải triển khai ĐTBD CBCC theo vị trí việc làm,
4
đồng thời cần lưu ý khắc phục những khó khăn như: Số lượng các vị trí việc
làm trong bộ máy nhà nước rất lớn khiến cho việc phân nhóm khó khăn;
Chương trình phải được thiết kế đa dạng, mềm dẻo; Năng lực của các cơ sở
ĐTBD chưa tương xứng, chưa đáp ứng yêu cầu của việc ĐTBD theo vị trí
việc làm. Trên cơ sở đó, bài viết đưa ra một số kiến nghị: Khẩn trương tiến
hành phân tích tổng thể và phân loại các vị trí việc làm trong bộ máy công vụ;
Xây dựng và hoàn thiện hệ thống bảng mô tả công việc; Định kỳ khảo sát nhu
cầu ĐTBD; Thiết kế lại các chương trình ĐTBD theo hướng “modul hóa”;
Đổi mới hoạt động đánh giá chất lượng ĐTBD; Nâng cao năng lực cho các cơ
sở ĐTBD.
-
Tác giả Lê Vĩnh Tân với bài “Sắp xếp, đào tạo CBCC cấp xã góp
phần nâng cao hiệu quả hoạt động của chính quyền cơ sở tại tỉnh Đồng
Tháp”, Tạp chí Quản lý nhà nước số 1/2012 đã khái quát chủ trương của tỉnh
3.
Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Nghiên cứu và đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả thực hiện
chính sách ĐTBD đối với CBCT cấp cơ sở từ thực tiễn trên địa bàn Quận 6,
TP.HCM đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ CNH-HĐH đất nước.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt mục đích nghiên cứu trên, luận văn tập trung giải quyết những
nội dung sau:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về thực hiện chính sách
ĐTBD đối với CBCT cấp cơ sở.
-
Vận dụng lý thuyết về chính sách công để phân tích, đánh giá thực
trạng thực hiện chính sách ĐTBD đối với CBCT cấp cơ sở nhằm xác định
được nguyên nhân và những hạn chế yếu kém trong thực hiện chính sách này
từ thực tiễn địa bàn Quận 6 hiện nay.
- Đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm tăng cường thực hiện chính
sách ĐTBD đối với CBCT cấp cơ sở cho cả nước từ thực tiễn địa bàn Quận 6,
TP.HCM trong thời gian tới.
4.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
6
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về thực
hiện chính sách ĐTBD đội ngũ CBCC, trong đó có CBCT cấp cơ sở để xem
xét các nội dung có liên quan.
5.2. Phương pháp luận
7
Để nghiên cứu các nội dung trong luận văn, tác giả sử dụng phương
pháp nghiên cứu chính sách công, từ khâu xác định vấn đề chính sách đến
việc theo dõi, kiểm tra, đôn đốc. Đồng thời sử dụng phương pháp thống kê, so
sánh, công thức toán để tính tỷ lệ %, báo cáo tổng hợp liên quan đến hoạt
động ĐTBD đối với CBCT cơ sở Quận 6, TP.HCM, tình hình phát triển kinh
tế - xã hội của quận, của các phòng ban chức năng của quận, thời gian từ năm
2015 đến năm 2017 để thu thập số liệu, phân tích, tổng hợp thông tin, làm cơ
sở đánh giá thực trạng thực hiện chính sách ĐTBD đối với CBCT từ thực tiễn
Quận 6, TP.HCM. Đặc biệt sử dụng bảng hỏi khảo sát 200 người dân, 301
CBCT cấp cơ sở trên địa bàn Quận 6 về các nội dung có liên quan đến vấn đề
nghiên cứu.
6.
Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1.Ý nghĩa lý luận của luận văn
Từ kết quả đánh giá nghiên cứu chính sách có ý nghĩa về mặt lý luận,
làm sáng tỏ, minh chứng cho các thuyết liên quan đến chính sách công, từ đó
hình thành các tiến trình đề xuất các giải pháp thực hiện chính sách nhằm
nâng cao chất lượng, hiệu quả chính sách đã ban hành.
6.2.Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
1.1.1. Các khái niệm liên quan
1.1.1.1. Cán bộ chuyên trách cấp cơ sở
“Cán bộ” là thuật ngữ dùng để chỉ những người làm việc thường xuyên
trong bộ máy hành chính nhà nước. Họ được bầu cử giữ chức vụ và làm việc
ổn định, được Nhà nước trả lương và đảm bảo những điều kiện vật chất, tinh
thần để thi hành công vụ.
Tại Điều 4 Luật CBCC năm 2008 quy định : “Cán bộ là công dân Việt
Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm
kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi
chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi
chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước.
Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch,
chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước,
tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan,
đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên
nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân
dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy
lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt
Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự
10
nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối
với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập
thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy
định của pháp luật”.
Theo Từ điển Tiếng Việt, “chuyên trách” là chuyên chỉ làm và chỉ chịu
trách nhiệm một việc nào đó. Cán bộ chuyên trách chính là những người được
phân công một nhiệm vụ riêng biệt và chịu trách nhiệm về công việc đó.
d)
Địa chính - xây dựng - đô thị và môi trường (đối với phường, thị
trấn) hoặc địa chính - nông nghiệp - xây dựng và môi trường (đối với xã)
đ) Tài chính - kế toán
e)
Tư pháp - hộ tịch
g)
Văn hóa - xã hội
1.1.1.2. Đào tạo - bồi dưỡng
“Đào tạo” và “bồi dưỡng” là các thuật ngữ được sử dụng rất phổ biến
trong các văn bản quy phạm pháp luật cũng như các tài liệu nghiên cứu ở
nước ta, tuy nhiên cách tiếp cận này cũng theo nhiều chiều khác nhau.
Theo Từ điển Tiếng Việt của Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn
Quốc gia năm 2005: thì thuật ngữ “đào tạo” là làm cho trở thành người có
năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định; “bồi dưỡng” là làm cho năng lực
hoặc phẩm chất của người đó tăng thêm.
“Bồi dưỡng”, theo Đại từ điển do GS. Nguyễn Như Ý chủ biên có nghĩa:
1. Làm khoẻ thêm, mạnh thêm (bồi dưỡng sức khoẻ); 2. Nghĩa là làm cho một
ai đó tốt hơn, trở nên giỏi hơn (ví dụ: bồi dưỡng nghiệp vụ, bồi dưỡng đạo
đức).
Theo Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, “bồi dưỡng” được
định nghĩa: 1. Làm cho tăng thêm sức của cơ thể bằng chất bổ; 2. Làm cho
tăng thêm năng lực hoặc phẩm chất.
đảm nhận được một công việc nhất định; “Bồi dưỡng” là quá trình nâng cao
kiến thức, kỹ năng nghề nghiệp trên cơ sở của mặt bằng kiến thức đã được
đào tạo trước đó.
13
1.1.1.3. Chính sách và thực hiện chính sách
Tùy theo cách tiếp cận khác nhau, có thể có các định nghĩa khác nhau
về chính sách:
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam do Viện Hàn lâm khoa học
xã hội Việt Nam biên soạn đã định nghĩa: “Chính sách là những chuẩn tắc cụ
thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ, được thực hiện trong thời gian nhất
định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó. Bản chất, nội dung và phương hướng
của chính sách tùy thuộc vào tính chất của đường lối, nhiệm vụ chính trị, kinh
tế, văn hóa.”[35]
Theo Hugh Hecslo (1972) định nghĩa: “Một chính sách có thể được
xem như là một đường lối hành động hoặc không hành động thay vì những
quyết định hoặc các hành động cụ thể”.
Theo Atkinson cho rằng, chính sách là một cấu trúc lý thuyết, là một
chuỗi hành động, nhưng đó là hành động nhằm níu giữ cả hai hệ thống giá trị
tương quan với các mục tiêu công và chuỗi niềm tin về cách tốt nhất nhằm đạt
được mục tiêu đó.
Theo Glen Milme thì mô tả, chính sách là quyết tâm và định hướng.
Chính sách định hướng, nhưng không bao gồm các chương trình và chi tiết
hành động.
Theo giáo trình hoạch định và phân tích chính sách của Học viện hành
chính quốc gia (2008) thì “Chính sách được hiểu là những hành động ứng xử
của chủ thể với các hiện tượng tồn tại trong quá trình vận động phát triển
nhằm đạt mục đích tiêu chuẩn nhất định” [12,tr.19].
Từ những nhận định trên, có thể hiểu “Chính sách là chương trình hành
thành quan trọng là: những đường hướng, hành động hay còn gọi là những
quan điểm, định hướng, mục tiêu và biện pháp thực hiện nhằm trang bị kiến
thức, kỹ năng, phương pháp thực hiện nhiệm vụ trong hoạt động công vụ của
15
CBCT cấp cơ sở, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả
ĐTBD góp phần xây dựng đội ngũ CBCT mang tính chuyên nghiệp, có đủ
phẩm chất, trình độ và năng lực thực hiện định hướng phát triển nền hành
chính tiên tiến, hiện đại, đáp ứng yêu cầu phục vụ nhân dân, sự nghiệp phát
triển đất nước và hội nhập quốc tế theo mục tiêu đã xác định.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu: Chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối
với cán bộ chuyên trách cơ sở là tập hợp các quyết định có liên quan của Nhà
nước nhằm lựa chọn mục tiêu, giải pháp, công cụ chính sách để đào tạo, bồi
dưỡng đối với cán bộ chuyên trách cơ sở, góp phần nâng cao khả năng thực
thi công vụ, năng lực lãnh đạo quản lý một cách có hiệu quả, từng bước đào
tạo, bồi dưỡng phát triển kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng khiếu cá
nhân, các yếu tố tiềm năng để nâng cao năng lực làm việc.
Thực hiện chính sách ĐTBD đối với cán bộ chuyên trách cơ sở là toàn
bộ quá trình chuyển hóa ý chí của Nhà nước về ĐTBD đối với cán bộ chuyên
trách cơ sở thành hiện thực đến với các đối tượng quản lý CBCT cơ sở nhằm
đạt mục tiêu ĐTBD đối với cán bộ chuyên trách cơ sở, góp phần nâng cao khả
năng thực thi công vụ, năng lực lãnh đạo quản lý một cách có hiệu quả, từng
bước ĐTBD phát triển kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng khiếu cá nhân,
các yếu tố tiềm năng để nâng cao năng lực làm việc.
1.1.2. Nội dung thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chuyên trách
cơ sở
Thực hiện chính sách ĐTBD cán bộ để xây dựng đội ngũ CBCC nói
chung, cán bộ chuyên trách cơ sở nói riêng có năng lực, có chuyên môn giỏi,
ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ quản lý xã hội là vấn đề cần thiết và cấp
Trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của người cán bộ là mức độ kiến thức
và kỹ năng thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của chức danh công việc theo quy
định. Thể hiện qua bằng cấp chuyên môn được đào tạo, bao gồm: đào tạo
17
trình độ trung cấp, cao đẳng, đại học, sau đại học cho CBCT cơ sở phù hợp
với điều kiện và yêu cầu phát triển của địa phương gắn với quy hoạch sử dụng
lâu dài đáp ứng yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, sự nghiệp
CNH-HĐH và hội nhập quốc tế. Cán bộ làm việc trong cơ quan nhà nước
luôn đòi hỏi có một trình độ, năng lực cũng như phẩm chất cao hơn so với làm
việc trong các lĩnh vực khác. Bởi nhà nước ta là một nhà nước của dân, do
dân và vì dân, đó là công bộc của dân, phải vì lợi ích của dân mà hoạt động.
Để làm được như vậy, cần thường xuyên ĐTBD về chuyên môn nghiệp vụ để
CBCT được rèn luyện từ đó không gặp khó khăn trong quá trình làm việc.
Công tác ĐTBD cũng giúp cho người CBCT linh hoạt, chủ động hơn trong
việc xử lý những vấn đề phát sinh trong công việc.
1.1.2.3. Thực hiện đào tạo, bồi dưỡng về quản lý nhà nước
Mặc dù số lượng CBCT những năm gần đây được ĐTBD tăng lên,
nhưng chất lượng và hiệu quả thực thi công vụ nhìn chung chưa đáp ứng với
yêu cầu mới; Tình trạng CBCT làm việc không theo chuyên môn đào tạo còn
nhiều. Thêm vào đó, việc ĐTBD đối với CBCT chưa được thực hiện đồng bộ,
mới chỉ đào tạo về lý luận chính trị và chuyên môn nghiệp vụ mà chưa chú ý
bồi dưỡng về trình độ quản lý nhà nước, kỹ năng “mềm”, kỹ năng quản lý
điều hành, tổ chức thực hiện, nhất là xử lý những tình huống trong thực tiễn.
Mức độ hài lòng của công dân đối với hoạt động bộ máy nhà nước vẫn bị
đánh giá là chưa cao. Vì thế, nội dung chính sách ĐTBD phải bồi dưỡng
những kiến thức, kỹ năng quản lý nhà nước theo tiêu chuẩn chức danh CBCT,
tiêu chuẩn chức vụ lãnh đạo, cập nhật kiến thức kỹ năng, phương pháp quản
lý, phương pháp thực hiện nhiệm vụ, công vụ được giao, cập nhật kiến thức
quản lý các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của nhà nước vì
mục tiêu bảo vệ địa vị thống trị. Do vậy, việc thực hiện chính sách công là
chuyển tải ý đồ của giai cấp cầm quyền, giai cấp lãnh đạo thông qua nhà nước
19
bằng sức mạnh cưỡng chế. Trong quá trình quản lý, điều hành nền kinh tế
hàng hóa nhiều thành phần, nhà nước phải đối xử với nhiều đối tượng, nhiều
thành phần, nhiều giai cấp tầng lớp khác nhau. Trong hàng loạt các đối tượng
có quan hệ với nhà nước là hoàn toàn không giống nhau: có những đối tượng
quan hệ với nhà nước là đồng sở hữu như các đối tượng thuộc thành phần
kinh tế nhà nước; có những đối tượng mà tính chất sở hữu gần với sở hữu nhà
nước, được nhà nước kết hợp với thành phần kinh tế nhà nước để xây dựng
thành nền tảng của nền kinh tế; có đối tượng mang tính chất kinh tế tư hữu,
liên doanh liên kết đan xen tạo nên sự chằng chịt của nền kinh tế quốc gia.
Trong hệ thống các thành phần hiện có, kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo
mang đặc trưng cơ bản của chế độ xã hội. Để phát huy tác dụng của các đối
tượng trong quá trình vận động đến mục tiêu, nhà nước phải có thái độ ứng xử
một cách thích hợp với mỗi vấn đề phát sinh thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau. Trong quản lý xã hội, công cụ được nhà nước dùng để biểu hiện
thái độ ứng xử của mình đến các đối tượng quản lý là chính sách. Tùy theo
yêu cầu quản lý phát triển nền kinh tế ở từng thời kỳ, nhà nước chủ động ban
hành các chính sách để thể hiện ý chí trong quan hệ với các thành phần kinh tế
theo mục tiêu.
Thực hiện chính sách ĐTBD đối với CBCT cấp cơ sở là cách để Nhà
nước xây dựng, nâng chất, phát triển đội ngũ CBCT cơ sở, xây dựng được đội
ngũ CBCT thực sự có năng lực, biết giải quyết các vấn đề được giao trên
nguyên tắc kết quả, hiệu quả và chất lượng, đáp ứng yêu cầu phát triển đất
nước.
1.1.3.2. Thực hiện chính sách nhằm từng bước thực hiện các mục tiêu chính
yêu cầu quản lý, điều hành của từng địa phương cũng như thích nghi cơ chế
thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
1.1.3.3. Thực hiện chính sách nhằm khẳng định tính đúng đắn của chính sách
21
Một khi chính sách ĐTBD được triển khai thực hiện rộng rãi trong đời
sống xã hội, thì tính đúng đắn của chính sách được khẳng định ở mức cao
hơn, được cả xã hội thừa nhận, nhất là các đối tượng thực hiện chính sách,
chủ thể chính sách, các đối tượng thụ hưởng chính sách. Qua việc thực hiện
chính sách sẽ góp phần hoàn chỉnh mục tiêu, các nội dung chính sách đề ra.
1.1.3.4. Thực hiện chính sách nhằm góp phần hoàn thiện chính sách
Chính sách ĐTBD được hoạch định bởi nhiều chủ thể, một tập thể
trong những điều kiện nhất định. Đặc biệt chính sách ĐTBD khi triển khai bị
tác động rất lớn bởi yếu tố: yếu tố bên trong, yếu tố bên ngoài, yếu tố môi
trường, do đó khi thực hiện nó có thể không đảm bảo với mục tiêu ban đầu.
Khi chính sách ĐTBD hoạch định còn bị tác động bởi các yếu tố như: lợi ích
của các chủ thể hoạch định, ý chí chủ quan của chủ thể đứng đầu, cơ chế của
hệ thống cơ quan hoạch định, thể chế chính trị của quốc gia, tác động của các
nhóm lợi ích… những yếu tố này không phải chỉ ảnh hưởng đến quá trình
hoạch định chính sách, mà còn tác động qua nhiều quá trình như: phân tích,
dự báo, lựa chọn để có được mục tiêu, biện pháp chính sách. Đồng thời, các
quá trình kinh tế, xã hội lại thường xuyên vận động, phát triển, trong khi
chính sách được hoạch định lại dựa chủ yếu vào thực trạng của môi trường
sống và có khoảng cách khá lớn về thời gian kể từ khi hoạch định đến lúc tổ
chức thực hiện. Để việc thực hiện chính sách ĐTBD CBCT đáp ứng đúng
trong thực tế cần kịp thời có những thay đổi, điều chỉnh cũng như có những
biện pháp thực hiện phù hợp.
22
khác cho thấy CBCT cơ sở hàng ngày phải tiếp xúc với nhân dân, giải quyết
những công việc sát với quyền lợi của người dân, thường xuyên nắm bắt tâm
tư, nguyện vọng của nhân dân. Để xây dựng được đội ngũ CBCT có phẩm
chất đạo đức tốt, có bản lĩnh chính trị, có năng lực, có tính chuyên nghiệp cao,
tận tụy phục vụ nhân dân, bên cạnh các khía cạnh khác nhau của công tác tổ
chức cán bộ còn cần phải có các hình thức ĐTBD phù hợp, hiệu quả. Có thể
thấy mục đích của chính sách ĐTBD nhằm xây dựng được đội ngũ CBCT
thực sự có năng lực, biết giải quyết các vấn đề được giao trên nguyên tắc kết
quả, hiệu quả và chất lượng. Đây là điều kiện quan trọng, mang tính quyết
định đến khả năng phân tích, luận giải những vấn đề thực tiễn từ những chủ
trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, trên cơ sở đó vận dụng sáng tạo vào
thực tiễn của đơn vị, của lĩnh vực mà cá nhân đang được phân công phụ trách.
Thông qua ĐTBD giúp cán bộ có thể xử lý các tình huống, hình thành phương
pháp nhận thức khoa học và giải quyết các vấn đề nhanh nhạy và đạt hiệu quả
cao nhất, phục vụ tốt nhất cho người dân, cho cộng đồng - đối tượng được thụ
hưởng từ chính sách.
Do vậy, thực hiện chính sách ĐTBD CBCT cơ sở phải dựa trên nguyên
tắc lợi ích cộng đồng, lợi ích nhân dân để có kế hoạch, lộ trình, cách thức thực
hiện hiệu quả, từng bước nâng cao được mức độ hài lòng của công dân về chỉ
số cải cách hành chính nói chung và cải cách thủ tục hành chính nói riêng.
1.2.2.2. Thực hiện chính sách đào tạo, bồi dưỡng đối với cán bộ chuyên trách
cấp cơ sở phải dựa trên nguyên tắc quản lý và bắt buộc
Ở
nguyên tắc này là nhằm đảm bảo cho việc thực hiện chính sách
ĐTBD đạt được mục tiêu mà chính sách đã đề ra. Việc chế tài cũng được cân
nhắc theo nguyên tắc này để đảm bảo thực hiện chính sách ĐTBD CBCT là
một chương trình có ích đối với đối tượng thụ hưởng và các đối tượng có liên
cấp cơ sở phải dựa trên nguyên tắc kế thừa lịch sử
25