s
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC TRINH
VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI CƠ TU Ở XÃ HÒA BẮC,
HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ VIỆT NAM HỌC
Hà Nội - 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ NGỌC TRINH
VĂN HÓA VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI CƠ TU Ở XÃ HÒA BẮC,
HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Ngành: Việt Nam học
Mã số: 8.31.06.30
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. TRẦN THỊ MAI AN
Hà Nội - 2018
2.5. Công cụ lao động sản xuất................................................................................................ 45
Chương 3: THỰC TRẠNG BIẾN ĐỔI VÀ GIẢI PHÁP BẢO TỒN VĂN HÓA
VẬT CHẤT CỦA NGƯỜI CƠ TU TẠI XÃ HÒA BẮC, HUYỆN HÒA
VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG....................................................................................... 48
3.1. Thực trạng biến đổi văn hóa vật chất của người Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện
Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng................................................................................................. 48
3.2. Nguyên nhân biến đổi văn hóa vật chất của người Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện
Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng................................................................................................. 56
3.3. Thực trạng và giải pháp bảo tồn văn hóa vật chất của người Cơ tu tại xã Hòa
Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng......................................................................... 60
3.3.1. Thực trạng bảo tồn........................................................................................................... 60
3.3.2. Một số giải pháp nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa vật chất của
người Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.......................... 63
KẾT LUẬN.................................................................................................................................... 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO...................................................................................................... 75
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
GĐ:
Giám đốc
Nxb:
Nhà xuất bản
TS:
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc. Xuyên suốt trường kỳ lịch sử của đất
nước, văn hóa các dân tộc (tộc người) là một bộ phận không thể tách rời của nền
văn hóa chung của dân tộc Việt. Trong nhiều năm qua, việc nghiên cứu văn hóa tộc
người được các nhà khoa học thuộc Việt Nam học nói riêng và các ngành khác
thuộc lĩnh vực khoa học xã hội rất chú trọng.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hiện đại hóa đất nước đang diễn ra mạnh mẽ
như hiện nay, các quốc gia trên thế giới đều không ngừng giao lưu gia tăng sự hội
nhập trên mọi khía cạnh đời sống kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa. Cùng với xu
thế đổi mới đó là sự kéo theo những biến đổi mang tính tất yếu của nhiều lĩnh vực,
văn hóa dân tộc Việt Nam nói chung và văn hóa các tộc người thiểu số nói riêng
cũng đang phải trải qua một quá trình đổi mới và hầu hết đều chịu các tác động
nhiều chiều qua lại của xu thế này. Trong thực tế ấy, quá trình tiếp thu và tiếp biến
văn hóa để phù hợp với Hoàn cảnh mới sẽ có khả năng dẫn đến sự mai một văn hóa
tộc người. Đặc biệt, đối với dân tộc thiểu số, văn hóa của họ dễ bị biến đổi hơn do
các yếu tố tác động từ kinh tế thị trường, đô thị hóa…; sự biến đổi này phụ thuộc
vào mức độ giao lưu giữa các tộc người, mức độ diễn tiến đô thị hóa, hiện đại hóa ở
các khu vực; trong đó dễ dàng nhận thấy là môi trường ở khu vực càng gần trung
tâm thành phố càng làm thúc đẩy sự biến đổi hơn. Tộc người Cơ tu ở thành phố Đà
Nẵng là một trường hợp thực tế như vậy.
Đà Nẵng là vùng đất có bề dày lịch sử - văn hóa. Hòa trong dòng chảy văn
hóa cùng với đất mẹ Quảng Nam, nơi đây mang trong mình nhiều giá trị văn hóa
đặc sắc, trong đó văn hóa đồng bào Cơ tu ở khu vực phía Tây thành phố là một ví
dụ. Với dân số hơn 1000 người, tập trung chủ yếu ở ba thôn trên hai xã thuộc huyện
Hòa Vang - một huyện ngoại thành của Đà Nẵng. Cộng đồng Cơ tu ở thành phố Đà
Nẵng tuy có số lượng ít nhưng lại là một minh chứng cho thấy quá trình tộc người
của dân tộc này ở Việt Nam. Những giá trị văn hóa hiện có của cộng đồng đã góp
phần làm cho bản sắc văn hóa của thành phố Đà Nẵng thêm đa dạng, đặc sắc.
sách) về người Cơ tu từ trước đến giờ dường như ít tập trung vào một đối tượng cụ
thể. Mỗi một công trình là sự tổng hợp của “muôn mặt’ thành tố văn hóa trong đời
sống tộc người. Trong đó, tài liệu nhắc đến người Cơ tu ở Việt Nam sơ khai nhất là
của Dương Văn An, Lê Quý Đôn và trong các bộ sử của triều Nguyễn. Trong công
2
cuộc khai thác thuộc địa của người Pháp ở Đông Dương, và thời kỳ đế quốc Mỹ xâm
lược, có không ít các độc giả nước ngoài (chủ yếu là Pháp) đã để tâm nghiên cứu và
công bố những công trình về người Cơ tu được nhiều người biết đến như Louis
Bezacier (1912) với tác phẩm "Interpretation du tatouage frontal des Moi (Ghi chép
về người mọi Katu); Le Pichon (1938) với Les chasseurs de sang (Những người săn
máu/Những kẻ săn đầu); Nancy A. Costello (1972) với Socially Approved Homicide
among the Katu...; hay các tác giả khác như Georges Coedes, J. Hoffet, Janet Hoskins,
Robert Mole... cũng có sự quan tâm đến cộng đồng này ở Việt Nam. Các bài viết/tác
phẩm trên chủ yếu đề cập đến các tiêu chí phân lập cư trú, nguồn gốc tên tự gọi, ngôn
ngữ, và tín ngưỡng tộc người... Đáng lưu ý là sự ảnh hưởng trong bài viết của Le
Pichon về tục xăm mình và tục săn đầu người của người Cơ tu đến học giả và các đọc
giả thời kỳ này như L. Bezacier (1951); M. Murphy và Marilou Fromme (1967); A.
Thomas Krish, 1973); Janet Hoskin (1996); R. Mole (1970); G. Hickey (1993); Nancy
Costello (2002)... Cách viết miêu tả một tục lệ đã bị loại bỏ của đồng bào như một đặc
trưng văn hóa đầy ấn tượng đã tạo nên cái nhìn “không mấy thiện cảm” về tộc người
Cơ tu, khiến dân tộc này từng bị xem là đối tượng quá hiếu chiến, man rợ với hủ tục
khát máu đầu người [48].
Trong bài viết Sơ lược giới thiệu dân tộc Ka-tu tác giả Ngọc Anh được đăng
trên tập san Dân Tộc 16 (năm 1960) đã cung cấp cái nhìn sơ lược nhưng bao quát
khắp các khía cạnh văn hóa tộc người Cơ tu. Từ việc giải thích nguồn gốc tộc
người, phương tiện cư trú, đặc điểm nhân chủng, ngôn ngữ, phương thức sản xuất,
vực, trong đó có đề cập đến các mô hình sở hữu đất đai, quản lý làng bản thông qua
các quy tắc, quy định.
Năm 2002, tác giả Tạ Đức cho ra mắt tác phẩm Tìm hiểu văn hóa Katu,
cuốn sách này đã đặt ra 17 câu hỏi dạng chủ đề và lần lượt giải đáp nó như “Người
Katu là ai, nguồn gốc của họ thế nào?”, “Tên gọi Katu có nghĩa là gì?” … và 7 chủ
đề như “Cột tế Katu và truyền thuyết Ja rai”, … Cứ như vậy, cuốn sách giúp bạn
đọc hiểu hơn về văn hóa tộc người Cơ tu.
Những năm về sau 2004, 2005, 2006, 2007, những công trình nghiên cứu về
người Cơ tu càng rõ nét hơn, tiêu biểu phải kể đến cuốn Katu kẻ sống đầu ngọn
nước; Văn hóa làng miền núi Trung bộ Việt Nam: giá trị truyền thống và những
bước chuyển lịch sử (dẫn liệu từ miền núi Quảng Nam) của tác giả Nguyễn Hữu
Thông, Văn hóa người Cơ-tu của tác giả Lưu Hùng. Trong cuốn “Nhà Gươl của
người Cơ tu (Nhà xuất bản Văn hóa dân tộc, Hà Nội, năm 2006) tác giả Đinh Hồng
4
Hải, qua việc mô tả kiến trúc Gươl và các lễ hội văn hóa của người Cơ tu đã chỉ ra
những khía cạnh đời sống tinh thần của người Cơ tu ở Quảng Nam. Đây là 4 công
trình rất có giá trị miêu tả về toàn bộ hoạt động sinh hoạt văn hóa của tộc người.
Nếu như tác giả Nguyễn Hữu Thông mạnh về việc lý giải tên gọi/tộc danh, về việc
đặt lại sự hiện diện và diễn trình di trú, cũng như vai trò của nhóm Katuic và tộc
người Katu (chữ dùng trong sách của tác giả) trong lịch sử văn hóa của cư dân miền
Trung, mổ xẻ những cung bậc chuyển biến trong văn hóa làng của người Cơ tu thì
nhà nghiên cứu Lưu Hùng lại có thế mạnh về việc khảo tả các đặc trưng văn hóa
phi vật thể và văn hóa vật thể tộc người... Ngoài ra còn có công trình luận án tiến sỹ
“Nghề dệt và trang phục cổ truyền của dân tộc Cơ tu Quảng Nam” được bảo vệ
năm 2009 tại Viện nghiên cứu văn hóa của Trần Tấn Vịnh, tác giả đã tổng quan về
người Cơ tu, mô tả chi tiết về nghề dệt cổ truyền và trang phục cổ truyền của dân
tộc Cơ tu, nghệ thuật trang trí và hệ biểu tượng trong trang trí hoa văn trên y phục
- Nghiên cứu cơ sở lý luận về văn hóa vật chất, các khái niệm về biến đổi văn
hóa tộc người, khái niệm đô thị hóa, các cơ sở biến đổi văn hóa nói chung và văn
hóa vật chất tộc người nói riêng.
- Khảo sát và đánh giá thực trạng biến đổi các thành tố văn hóa vật chất của
đồng bào dân tộc Cơ tu tại nơi cư trú của người dân. Qua đó thấy được mặt tích cực
và hạn chế của sự biến đổi văn hóa vật chất trong quá trình hội nhập, phát triển đô
thị hóa ở thành phố Đà Nẵng.
- Rút ra những vấn đề từ thực tế, nhằm đưa ra những giải pháp bảo tồn các giá
trị văn hóa vật chất truyền thống của đồng bào dân tộc Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện
Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng sao cho phù hợp với sự phát triển chung nhưng vẫn
giữ được những giá trị riêng của văn hóa tộc người.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Các khía cạnh của giá trị văn hóa vật chất: làng, nhà cửa, ẩm thực, trang
phục, phương tiện đi lại, công cụ lao động sản xuất… và sự biến đổi của nó của
cộng đồng người Cơ tu ở xã Hòa Bắc huyện Hòa Vang trong quá trình phát triển
hội nhập, đô thị hóa hiện nay.
6
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Những vấn đề liên quan đến đời sống văn hóa vật chất của cộng đồng người
Cơ tu đang sinh sống ở thôn Tà Lang và Giàn Bí, xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang,
thành phố Đà Nẵng từ năm 1980 đến nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành trên nền tảng khu vực học: Đây là
phương pháp cơ bản để thực hiện nghiên cứu đối tượng trong một không gian văn
này trên địa bàn Đà Nẵng; từ đó có định hướng phù hợp cho sự phát triển gắn với
công tác bảo tồn giá trị văn hóa vật chất truyền thống đậm bản sắc của tộc người
trên địa bàn.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo. Nội dung của đề tài chia
làm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và tổng quan về cộng đồng người Cơ tu ở xã Hòa
Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng
Chương 2: Văn hóa vật chất truyền thống của người Cơ tu tại xã Hòa Bắc,
huyện Hòa Vang, Thành phố Đà Nẵng
Chương 3: Thực trạng biến đổi và giải pháp bảo tồn văn hóa vật chất của
người Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa Vang, thành phố Đà Nẵng.
8
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ CỘNG ĐỒNG NGƯỜI CƠ TU Ở
XÃ HÒA BẮC, HUYỆN HÒA VANG, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
1.1. Khái niệm và cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm trong nghiên cứu
- Khái niệm tộc người
Theo nghĩa hẹp, tộc người là một cộng đồng người có chung tiếng mẹ đẻ.
Hiểu như vậy, tộc người sẽ tương đương với nhóm ngôn ngữ hay với nhóm dân tộc
- ngôn ngữ mà các nhà ngôn ngữ học gọi là nhóm nói tiếng mẹ đẻ. Theo nghĩa đó,
tộc người cũng là dùng để chỉ những tập hợp người khá thuần nhất, sống cạnh nhau
và có chung các đặc điểm về văn hóa mà trong đó yếu tố biểu hiện rõ nhất là việc
sử dụng một ngôn ngữ. Nhưng, vấn đề đặt ra là, có rất nhiều cá nhân sống đây đó
trên thế giới có cùng một ngôn ngữ mẹ đẻ song lại cách xa nhau về nhiều mặt, như
về mặt địa lý (giữa các châu lục), về mặt lịch sử (thuộc nhiều quốc gia khác nhau),
đổi của nhân loại đều chịu ảnh hưởng của Thiên Chúa giáo (coi sự vận động của thế
giới là điều tất yếu để đi đến cái tốt đẹp), đến những lập luận mang tính khoa học của
thuyết Tiến hóa trong bước đầu giải thích mối quan hệ giữa tiến hóa của con người và
sinh vật (đó là sự biến đổi theo quá trình, cái sau phát triển hơn cái khác); hay là sự mô
phỏng tính chu kỳ trong quá trình sinh trưởng của mọi sự vật, có tiêu vong, biến mất
và sau đó cái mới lại xuất hiện (trong mô hình của thuyết Chu kỳ); hoặc những gợi mở
về cơ sở biến đổi của thuyết kinh tế, thuyết tư tưởng, thuyết kỹ thuật, thuyết xung đột,
thuyết thích ứng trong thế kỷ XX... đều chủ yếu lý giải về nội hàm của sự biến đổi;
nhưng trên cơ bản, mọi thuyết đều nhấn mạnh đến tính tất yếu của sự biến đổi, xem đó
như một quy luật vận động khách quan của cuộc sống.
Có nhiều quan niệm về sự biến đổi văn hóa dựa trên nhiều khía cạnh, như ở
phạm vi rộng: đó là một sự biến đổi một phần hay hoàn toàn mới được so sánh với
một nếp sống hay một nền văn hóa tộc người đã được hình thành trước đó; hoặc
trong phạm vi hẹp: biến đổi trong văn hóa là sự thay đổi những giá trị văn hóa đặc
trưng, các thành tố văn hóa vật chất hoặc tinh thần của văn hóa tộc người đó, và sự
biến đổi này tạo nên sự ảnh hưởng sâu sắc đến hầu hết các mặt đời sống của các
thành viên trong một xã hội.
Như vậy có thể thấy rằng: Biến đổi văn hóa là một quá trình, biểu hiện thông
qua nhiều phương diện: phát triển kinh tế xã hội, phục hưng văn hóa truyền thống, hoạt
động tôn giáo, phát triển truyền thông đại chúng, giao lưu văn hóa, qua đó những
10
khuôn mẫu trong phong tục, tập quán truyền thống có sự tiếp biến theo thời gian và
theo nhiều cấp độ khác nhau.
Và dù có các luận giải khác nhau về nguyên nhân biến đổi cũng như định
nghĩa của nó, có thể thống nhất đề cao mặt tích cực của sự biến đổi trong tình hình
phát triển chung của sự phát triển kinh tế, chính trị, xã hội; nhưng cũng không xem
chính các thành viên này với nhau” [7, tr.149]. Theo định nghĩa này, mối quan hệ
giữa cá nhân, tập thể và môi trường là quan trọng trong việc hình thành văn hóa của
con người.
Ở Việt Nam, khái niệm văn hóa có rất nhiều định nghĩa. Chủ tịch Hồ Chí Minh
cho rằng “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và
phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ
thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặt ăn, ở và các phương thức sử
dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” [38, tr.431]. Với cách
hiểu này, văn hóa sẽ bao gồm toàn bộ những gì do con người sáng tạo và phát minh ra.
Cũng giống như định nghĩa của Tylor, văn hóa theo cách nói của chủ tịch Hồ Chí Minh
sẽ là một “bách khoa toàn thư” về những lĩnh vực liên quan đến đời sống con người.
Phạm Văn Đồng cho rằng “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú
và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến
con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch
sử… (văn hóa) bao gồm cả hệ thống giá trị: tư tưởng và tình cảm, đạo đức với phẩm
chất, trí tuệ và tài năng, sự nhạy cảm và sự tiếp thu cái mới từ bên ngoài, ý thức bảo vệ
tài sản và bản lĩnh của cộng đồng dân tộc, sức đề kháng và sức chiến đấu bảo vệ mình
và không ngừng lớn mạnh” [64, tr.22]. Theo định nghĩa này thì văn hóa là những cái gì
đối lập với thiên nhiên và do con người sáng tạo nên từ tư tưởng tình cảm đến ý thức
tình cảm và sức đề kháng của mỗi người, mỗi dân
tộc.
Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu ở Việt Nam và kể cả ở nước
ngoài khi đề cập đến văn hóa, họ thường vận dụng định nghĩa văn hóa do UNESCO
đưa ra vào năm 1994. Theo UNESCO, văn hóa được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa rộng
và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng thì “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng
diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một
cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao
gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người,
những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng…”; còn
văn hóa và ứng xử truyền thống nông thôn” [18, tr.115].
Cũng mang hàm nghĩa như khái niệm của Mạc Đường, Trần Cao Sơn đưa ra
khái niệm: “Đô thị hóa là một quá trình chuyển từ hoạt động nông nghiệp phân tán
sang hoạt động phi nông nghiệp tập trung trên địa bàn nhất định”. Đây thực chất là
13
quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội, với các đặc trưng sau: Một
là, hình thành và mở rộng quy mô đô thị với hạ tầng kỹ thuật hiện đại, dẫn đến
chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp là chủ yếu sang sản xuất công nghiệp và
dịch vụ. Hai là, tăng nhanh dân số đô thị trong tổng số dân cư, dẫn đến thay đổi cơ
cấu giai cấp, phân tầng xã hội. Ba là, chuyển đổi từ lối sống phân tán (mật độ dân
cư thưa) sang sống tập trung (mật độ dân cư rất cao). Bốn là, chuyển từ lối sống
nông thôn sang lối sống đô thị [42, tr.17].
Xem xét bản chất của đô thị hóa, Kammeyer và cộng sự cho rằng: Đô thị
hóa và công nghiệp hóa được nhìn nhận như là những trụ cột của hiện đại hóa. Đô
thị hóa chỉ ra quá trình chuyển đổi của sức sản xuất, đặc biệt nó đưa đến sự chuyển
đổi công nghệ để thúc đẩy hoạt động sản xuất. Đô thị hóa mặt khác liên quan tới
quá trình tập trung dân số ở những khu vực nhất định, các trung tâm đô thị, nơi có
sự di dân ồ ạt từ làng và các cộng đồng nông thôn, nơi tập trung các hoạt động kinh
tế, tổ chức quản lý và quyền lực chính trị [72, tr.671].
Dù tiếp cận dưới những chiều cạnh khác nhau, song sự tương đồng dễ dàng
nhận thấy giữa các nhà nghiên cứu khi bàn về đô thị hóa là nói đến quá trình
chuyển đổi, rút ngắn khoảng cách giữa khu vực nông thôn với đô thị cùng các biểu
hiện đặc thù như: các khuôn mẫu văn hóa đô thị ngày càng trở nên phổ biến, lấn át
dần các khuôn mẫu văn hóa nông thôn truyền thống; sự chuyển dịch mạnh mẽ về
lao động nông thôn từ nông nghiệp sang phi nông nghiệp; sự di cư từ nông thôn
vào thành thị... và kéo theo đó là sự xáo trộn, biến chuyển trên hầu hết các phương
diện của đời sống kinh tế, xã hội cũng như văn hóa.
những niềm tin, các giá trị và hành vi có thể cùng tồn tại bên cạnh các bản sắc văn
hóa quốc gia. Điều này là có thể bởi vì trên thực tế một cá nhân có thể có nhiều
bản sắc” [66, tr.497]. Như vậy có thể thấy tuy có các điểm nghiên cứu khác nhau
nhưng phần lớn các học giả có quan tâm đến vấn đề văn hóa tộc người thiểu số
trong bối cảnh hội nhập và phát triển đều hết sức chú ý đến ý thức và tính chủ động
của chính người dân trong bối cảnh này, trước những thử thách của xã hội hiện đại,
bởi điều này sẽ dẫn đến một quá trình biến đổi có định hướng.
Trong nhiều năm qua, việc nghiên cứu văn hóa tộc người được các ngành
khoa học xã hội, các nhà nghiên cứu quan tâm chú trọng. Từ thập niên 60 đến đầu
thập niên 80 của thế kỷ XIX, các nghiên cứu Văn hóa học, Việt Nam học tập trung
làm rõ các đặc điểm truyền thống của văn hóa các dân tộc thiểu số vào nền văn hóa
chung của dân tộc Việt Nam.
15
Là một trong số các đối tượng nghiên cứu quan trọng của Việt Nam học,
biến đổi văn hóa được xem như kết quả của quá trình vận động xã hội. Khái niệm
biến đổi văn hóa chỉ sự thay đổi của các cơ chế trong một cấu trúc văn hóa cho
trước, được đặc trưng bởi sự thay đổi nội hàm thành tố văn hóa cụ thể.
Biến đổi văn hóa được các nhà khoa học khởi xướng thuyết Tiến hóa luận
như Edward B. Taylor hay L. Morgan đề cập đến từ thế kỷ XIX khi họ phân chia xã
hội theo thứ bậc đơn tuyến và có chung một mẫu hình biến đổi xã hội cũng như
biến đổi văn hóa. E. Taylor cho rằng: “Sự phát triển tiến bộ tiến hóa của các nền
văn hóa là xu hướng chính trong lịch sử loài người. Xu hướng phát triển này là rất
hiển nhiên, vì rằng có nhiều dữ kiện theo tính liên tục của nó có thể sắp xếp vào
một trật tự xác định, mà không thể làm ngược lại” [8, tr.53]. Theo các nhà tiến hóa
luận, biến đổi văn hóa có một mô hình chung, đó là ở những nền văn hóa ngoài
phương Tây được nhìn nhận “kém văn minh”, sự biến đổi văn hóa diễn ra chậm
chạp, đối ngược với văn hóa phương Tây năng động và biến đổi nhanh. Các giai
các tác giả đều khẳng định sự bền bỉ của những giá trị truyền thống và nó sẽ chi
phối sự lựa chọn của từng xã hội cụ thể đến chiều hướng, quy mô, dạng thức biến
đổi của văn hóa [68], [73], [69], [70].
Ở Việt Nam, trong thời gian gần đây đã xuất hiện những công trình nghiên cứu
về biến đổi văn hóa nổi bật như: Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô thị hóa
tại thành phố Hồ Chí Minh (1999) của Tôn Nữ Quỳnh Trân; Ảnh hưởng đô thị hóa đến
nông thôn ngoại thành Hà Nội: Thực trạng và giải pháp (2002) của Lê Du
Phong; Những biến đổi về giá trị văn hóa truyền thống ở các làng ven đô Hà Nội trong
thời kỳ Đổi mới của (2007) Ngô Văn Giá; Văn hóa làng xã trước sự thách thức của đô
thị hóa tại thành phố Hồ Chí Minh (2007) của Nguyễn Thanh Tuấn; Tác động của đô
thị hóa - công nghiệp hóa tới phát triển kinh tế và biến đổi văn hóa - xã hội ở tỉnh Vĩnh
Phúc (2009) của Nguyễn Ngọc Thanh, Nguyễn Thế Trường, Trần Hồng Thu; Biến đổi
văn hóa ở các làng quê Việt Nam hiện nay (Trường hợp làng Đồng Kỵ, Trang Liệt và
Đình Bảng thuộc huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh (2009) của Nguyễn Thị Phương Châm
[53], [41], [20], [57], [46], [11],… Công trình Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong xây
dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay (2008) của Nguyễn Duy Bắc. Đáng
chú ý trong công trình của Nguyễn Duy Bắc, ông cho rằng: “Biến đổi văn hóa chính là
quá trình thay đổi các phương thức sản xuất, bảo quản, truyền bá... các sản phẩm và
các giá trị văn hóa phù hợp với những biến đổi về chính trị, kinh tế, xã hội ở những
thời kỳ nhất định trong sự phát triển của các quốc gia dân tộc và nhân loại” [ 6, tr.36].
Công trình này nhận định bốn nhân tố tác động đến biến đổi văn hóa bao gồm: sự
17
vận động và phát triển của đời sống kinh tế - xã hội; nhân tố tư tưởng, chính trị; kỹ
thuật và công nghệ mới; giao lưu văn hóa.
Các lý thuyết, quan điểm khác nhau được minh hoạ ở trên có đã cho chúng
tôi những cách tiếp cận/luận giải không giống nhau về tác nhân biến đổi, đòi hỏi
phải xem xét từ nhiều góc độ để có câu trả lời thấu đáo về tính đa diện của hiện
số của Nhà nước nói chung, chính quyền thành phố Đà Nẵng nói riêng.
1.2. Tổng quan về cộng đồng người Cơ tu tại xã Hòa Bắc, huyện Hòa
Vang, thành phố Đà Nẵng
1.2.1. Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên
Thành phố Đà Nẵng nằm ở vị trí trung độ của đất nước, bắc giáp tỉnh Thừa
Thiên Huế, tây và nam giáp tỉnh Quảng Nam, đông giáp biển Đông, cách Thủ đô Hà
Nội 764 km về phía Bắc, cách Thành phố Hồ Chí Minh 964 km về phía nam. Không
những nằm trên trục giao thông Bắc - Nam về đường bộ, đường sắt, đường biển và
đường hàng không, Đà Nẵng còn là trung điểm của các di sản văn hóa vật thể và phi
vật thể thế giới bao gồm Quần thể di tích cố đô Huế, Nhã nhạc cung đình Huế, Phố cổ
Hội An, Thánh địa Mỹ Sơn và di sản thiên nhiên thế giới - Vườn quốc gia Phong Nha Kẻ Bàng. Trong phạm vi khu vực và quốc tế, thành phố Đà Nẵng là một trong những
cửa ngõ quan trọng hướng ra biển của Tây Nguyên và các nước Lào, Campuchia, Thái
Lan, Myanma đến các nước vùng Đông Bắc Á thông qua hành lang kinh tế Đông Tây
với điểm kết thúc là cảng biển Tiên Sa. Nhờ biết tận dụng vị trí thuận lợi này, Đà Nẵng
đã sớm có những bước đô thị hóa nhanh chóng, vượt bậc.
Trong những năm gần đây, quá trình đô thị hóa ở Đà Nẵng đã lan rộng ra các
huyện ngoại thành, đặc biệt là huyện Hòa Vang, một huyện ngoại thành duy nhất nằm
trên vùng đất liền của thành phố được nối bởi một hệ thống giao thông tương đối thuận
lợi. Nhiều con đường liên xã, liên huyện và liên tỉnh đã được mở rộng như quốc lộ 1A,
đường giao thông huyết mạch Bắc - Nam chạy từ Cầu Đỏ qua các xã Hòa Châu và Hòa
Phước; quốc lộ 14B chạy qua các xã Hòa Khương, Hòa Phong, Hòa Nhơn nối Quảng
Nam với Đà Nẵng; tuyến đường tránh Nam Hải Vân đi qua các xã Hòa Liên, Hòa Sơn,
Hòa Nhơn; các tuyến đường ĐT 601, 602, 604, 605 do thành phố quản lý và hệ thống
các tuyến đường giao thông liên huyện và liên xã.
Xã Hòa Bắc được thành lập năm 1981, nằm ở phía tây bắc huyện Hòa Vang,
có vị trí địa lý hành chính giáp với xã Hòa Liên, huyện Hòa Vang ở phía nam, giáp
với quận Liên Chiểu ở phía đông. Ngoài ra, Hòa Bắc còn tiếp giáp hai huyện Nam
Đông và Phú Lộc (tỉnh Thừa Thiên Huế) ở phía bắc và huyện Hiên