Cầm giữ tài sản theo quy định của bộ luật dân sự việt nam năm 2015 (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

VÕ THANH HIỀN

ĐỀ TÀI

CẦM GIỮ TÀI SẢN THEO QUY ĐỊNH
CỦA BỘ LUẬT DÂN SỰ VIỆT NAM NĂM 2015

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Chuyên ngành: Luật dân sự và tố tụng dân sự
Mã số: 60380103

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS Phùng Trung Tập

Hà Nội- 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi.
Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong bất kỳ công trình
nào khác. Các số liệu trong Luận văn là trung thực, có nguồn gốc rõ ràng, được
trích dẫn đúng theo quy định.
Tôi xin chịu trách nhiệm về tính chính xác và trung thực của Luận văn này.

Tác giả luận văn


2.4 Nghĩa vụ và quyền của bên cầm giữ ........................................................... 45
2.4.1 Nghĩa vụ của bên cầm giữ .................................................................... 45
2.4.2 Quyền của bên cầm giữ ........................................................................ 48
2.5 Thứ tự ƣu tiên thanh toán từ tài sản ............................................................ 51
2.6 Chấm dứt cầm giữ ....................................................................................... 54
2.7 Thời hạn cầm giữ tài sản và xử lý tài sản cầm giữ ..................................... 56
CHƢƠNG 3 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN QUY ĐỊNH CỦA PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN .............................. 59
3.1 Đối tƣợng của cầm giữ tài sản .................................................................... 59
3.2 Mục đích của cầm giữ tài sản ..................................................................... 61
3.3 Thời điểm xác lập cầm giữ tài sản .............................................................. 63
3.4 Về phạm vi của cầm giữ tài sản .................................................................. 64
3.5 Thời hạn cầm giữ tài sản ............................................................................. 66
3.6 Về chấm dứt quyền cầm giữ tài sản ............................................................ 67
3.7 Cơ chế xử lý tài sản cầm giữ....................................................................... 69
3.8 Về thứ tự ƣu tiên thanh toán ....................................................................... 71
KẾT LUẬN .......................................................................................................... 73
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................. 74


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Bộ luật dân sự năm 2005 đƣợc Quốc hội khóa XI thông qua ngày 14 tháng
6 năm 2005 trên cơ sở kế thừa truyền thống của pháp luật dân sự Việt Nam
vaf phát huy thành tựu của Bộ luật dân sự năm 1995 cùng kinh nghiệm gần 20
năm đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trƣờng định hƣớng xã hội chủ nghĩa và
hội nhập quốc tế. Sau hơn 9 năm thi hành, Bộ luật dân sự đã có tác động tích

nghĩa vụ dân sự bao gồm: cầm cố tài sản; thế chấp tài sản; đặt cọc; ký cƣợc;
ký quỹ; bảo lƣu quyền sở hữu; bảo lãnh; tín chấp; cầm giữ tài sản. Nhƣ vậy,
so với Bộ luật dân sự năm 2005 thì Bộ luật dân sự năm 2015 đã bổ sung hai
biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự mới, đó là: bảo lƣu quyền sở
hữu và cầm giữ tài sản.
Cầm giữ tài sản đƣợc quy định từ Điều 346 đến Điều 350 tại “Phần II.
Thực hiện hợp đồng” với ý nghĩa là biện pháp mà luật cho phép bên có quyền
sử dụng nhằm gây “sức sép” đối với bên có nghĩa vụ trong hợp đồng song vụ
để bên này phải thực hiện nghĩa vụ đã cam kết theo thỏa thuận giữa các bên
trong hợp đồng song vụ.
Xuất phát từ bản chất của cầm giữ tài sản là chiếm giữ tài sản để bên có
nghĩa vụ thực hiện nghĩa vụ, do đó, Bộ luật dân sự năm 2015 đã tiếp cận cầm
giữ tài sản với tƣ cách là một biện pháp bảo đảm đƣợc xác lập theo quy định
của pháp luật. Việc bổ sung cầm giữ tài sản vào Bộ luật dân sự 2015 là cần
thiết nhằm tạo hành lang pháp lý cho các bên tham gia vào giao dịch dân sự
có nhiều phƣơng án để lựa chọn biện pháp bảo đảm, bảo đảm đƣợc tính linh
hoạt cho quá trình ký kết, tham gia, thực hiện hợp đồng dân sự của các chủ
thể, góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế đất nƣớc.


3

Để những quy định về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự trong đó có
những quy định về cầm giữ tài sản thực sự phát huy hiệu lực trên thực tế thì
cần có những nghiên cứu khoa học nhằm làm sáng tỏ các quy định này. Việc
nghiên cứu các quy định về cầm giữ tài sản là công việc cấp thiết, không chỉ
dành cho các nhà khoa học mà còn là công việc của các cơ quan thi hành pháp
luật. Bởi những quy định này không tồn tại độc lập mà còn có mối liên hệ
chặt chẽ với các quy định khác trong tổng thể nội dung Bộ luật dân sự năm
2015.

đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự và cầm giữ tài sản làm cơ sở cho việc xây
dựng các quy định pháp luật.
Ngoài ra luận văn còn tập trung vào việc nghiên cứu, phân tích đánh giá
các quy định của pháp luật hiện hành về cầm giữ tài sản. Trên cơ sở nghiên
cứu, phân tích các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành để đƣa ra các
kiến nghị hoàn thiện pháp luật.
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu một số vấn đề lý luận về biện pháp bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự nói chung và cầm giữ tài sản nói riêng.
Đề tài phân tích các quy định về cầm giữ tài sản theo quy định pháp luật
Việt Nam, cụ thể là theo Bộ luật dân sự năm 2015.
Đề tài đánh giá pháp luật Việt Nam hiện hành về cầm giữ tài sản để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự từ đó đƣa ra những kiến nghị đề xuất hoàn
thiện pháp luật.


6

4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
4.1 Mục tiêu nghiên cứu
Tìm hiểu, phân tích, đánh giá pháp luật Việt Nam hiện hành về cầm giữ
tài sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự từ đó đƣa ra những kiến nghị đề
xuất hoàn thiện pháp luật.
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt đƣợc mục đích trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ sau:


àm rõ đặc điểm của pháp luật về cầm giữ tài sản

 Phân tích đƣợc vai trò, ý nghĩa của cầm giữ tài sản trong sự phát triển

của luận văn đƣợc kết cấu bởi 3 chƣơng:
- Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận về cầm giữ tài sản.
- Chƣơng 2. Pháp luật Việt Nam hiện hành về cầm giữ tài sản.
- Chƣơng 3. Một số kiến nghị hoàn thiện quy định của Pháp luật Việt Nam
hiện hành về cầm giữ tài sản.


8

CHƢƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CẦM GIỮ TÀI SẢN
1.1

Biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự

1.1.1 Khái niệm biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Việc xác lập và thực hiện các giao dịch dân sự trƣớc hết là dựa vào sự tự
giác của các bên tham gia. Nhƣng trong thực tế, không phải bất cứ ai khi tham
gia giao dịch dân sự đều có thiện chí trong việc thực hiện nghiêm chỉnh các
nghĩa vụ của mình. Trong một quan hệ nghĩa vụ, ngƣời có quyền đƣợc chủ
động yêu cầu ngƣời có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ của họ hoặc không
đƣợc thực hiện một công việc nhất định; và chỉ khi nào công việc đó đƣợc
thực hiện đúng thì ngƣời có quyền mới thực hiện đƣợc lợi ích của mình. Tuy
nhiên, về cách thức thì biện pháp thực hiện nghĩa vụ dân sự và việc thực hiện
hay không thực hiện nhƣ thế nào lại phụ thuộc vào hành vi của ngƣời có
nghĩa vụ. Nói cách khác, quyền chủ động của ngƣời có quyền rơi vào thế bị
động bởi phải phụ thuộc vào hành vi của ngƣời khác.
Nhằm khắc phục tình trạng trên và tạo cho bên có quyền trong các quan
hệ nghĩa vụ có đƣợc thế chủ động đƣợc hƣởng quyền dân sự, pháp luật cho
phép các bên có thỏa thuận đặt ra các biện pháp bảo đảm việc giao kết hợp

Về mặt khách quan: bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là sự quy định
của pháp luật, cho phép các chủ thể trong giao dịch dân sự hoặc các quan hệ
dân sự khác áp dụng các biện pháp mà pháp luật cho phép để bảo đảm cho
một nghĩa vụ chính đƣợc thực hiện đồng thời xác định và bảo đảm quyền,
nghĩa vụ của các bên trong các biện pháp đó.

1

Đinh Văn Thanh (2000),“Những quy định chung về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật dân sự Việt
Nam”, Thông tin khoa học pháp lý, Số 2, tr. 90-95.
2
Phạm Công Lạc (1995), Cầm cố và thế chấp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự, Luận văn thạc sĩ uật
học, Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.


10

Về mặt chủ quan: bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là việc thỏa thuận
giữa các bên nhằm đặt ra các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để
bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ, đồng thời ngăn ngừa và khắc phục
những hậu quả xấu do việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa
vụ gây ra.
Phạm vi chế định các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong Bộ luật
dân sự năm 2015 bao trùm cả các biện pháp bảo đảm đối vật (cầm cố, thế
chấp, đặt cọc, ký cược, ký quỹ, bảo lưu quyền sở hữu, cầm giữ tài sản) và
biện pháp bảo đảm đối nhân (bảo lãnh, tín chấp). Chế định cũng điều chỉnh
cả các biện pháp bảo đảm đƣợc xác lập trên cơ sở thỏa thuận và biện pháp bảo
đảm phát sinh do luật định.
Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm đối nhân phát sinh theo thỏa thuận
là xác lập một vật quyền của bên nhận bảo đảm trên tài sản bảo đảm thông

khả năng của bên thứ ba này. Bên nhận bảo đảm không xác lập một vật quyền
nào trên tài sản cụ thể của bên bảo đảm, do đó không đặt ra vấn đề xử lý tài
sản của bên bảo lãnh hay thứ tự ƣu tiên giữa bên nhận bảo lãnh với bên nhận
bảo đảm bằng tài sản.
Nhƣ vậy, có thể hiều, bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là sự thỏa thuận
của các bên trong việc lựa chọn và áp dụng một hoặc một số biện pháp nhất
định nhằm bảo đảm quan hệ nghĩa vụ mà họ đang tham gia. Còn biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là các phƣơng thức dự phòng, do các bên
chủ thể thỏa thuận lựa chọn hoặc phát sinh trên cơ sở do pháp luật quy định
để bảo đảm lợi ích của bên có quyền bằng cách cho phép bên có quyền đƣợc
xử lý những tài sản thuộc sở hữu của bên có nghĩa vụ để khấu trừ giá trị nghĩa
vụ trong trƣờng hợp nghĩa vụ đó bị vi phạm.
Các biện pháp này góp phần bảo đảm cho các quyền và nghĩa vụ đã thỏa
thuận trong hợp đồng đƣợc thực hiện, nói cách khác bảo đảm cho các quan hệ
hợp đồng đƣợc thực hiện theo đúng quy định của pháp luật và đúng thỏa


12

thuận đặt ra. Đây chính là một trong những cơ sở để xây dựng một xã hội ổn
định và phát triển về mọi mặt.
1.1.2

Một số nét khái quát về quá trình hình thành các biện pháp

bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trong quá trình phát triển của pháp luật dân
sự Việt Nam
Để tồn tại và phát triển, thoả mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của
mình, các chủ thể quan hệ pháp luật đều chủ động tích cực tham gia vào các
quan hệ pháp luật dân sự nhƣng cũng có trƣờng hợp chủ thể nghĩa vụ không

và bảo đảm dựa trên quyền sở hữu tài sản.
Các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ quy định trong hai Bộ Dân luật
trên bao gồm: bảo lãnh, điển mại, cầm cố bất động sản, cầm cố động sản và
thế chấp4.
1.1.2.2 Thời kỳ từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến Bộ luật dân
sự năm 1995
Cách mạng tháng 8 thành công, ngày 02/9/1945 nƣớc Việt Nam dân chủ
cộng hào ra đời. Ngày 10/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh 09/SL
cho phép tạm sử dụng một sô điều lệ hiện hành ở Bắc, Trung, Nam cho đến
khi những Bộ luật duy nhất cho toàn quốc đƣợc ban hành: “….nếu những luật
lệ ấy không trái vưới nguyên tắc độc lập của nước Việt Nam và chính thể dân
chủ cộng hòa”. Với tinh thần đó, Bộ luật dân sự Nam Kỳ gián yếu 1883, Bộ
dân luật Bắc kỳ 1931 và Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936 đƣợc tiếp tục thi hành
đến năm 1959 thì bị hủy bỏ. Do đó, các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
theo quy định của các Bộ luật trên cũng đƣợc áp dụng cho đến năm 1959.
Từ năm 1960 đến năm 1989, nền kinh tế nƣớc ta đƣợc tổ chức theo cơ chế
tập trung, quan liêu, bao cấp và đƣợc điều hành theo mệnh lệnh hành chính.
Các quan hệ dân sự, kinh tế trong giai đoạn này đƣợc điều chỉnh bởi các hệ
thống văn bản pháp luật mang ảnh hƣởng sâu sắc của cơ chế kế hoạch háo tập
trung bao cấp cao độ. Phƣơng pháp quản lý hành chính đã làm biến dạng các
4

Nguyễn Anh Tuấn (2013), Cầm cố tài sản- một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội


14

quan hệ dân sự với những đặc trƣng vốn có của nó là sự bình đẳng và quyền
tự định đoạt giữa các chủ thể tham gia quan hệ dân sự. Vì thế, các quan hệ

1992, năm 2005 về các quyền cơ bản của con ngƣời trong lĩnh vực dân sự, tạo
lập hành lang pháp lý cho các giao lƣu dân sự, tạo chuẩn mực pháp lý cho
cách ứng xử của các chủ thể khi tham gia các giao dịch, góp phần làm lành
mạnh quan hệ xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các chủ thể.
Trong pháp luật dân sự, biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là
một trong những chế định quan trọng, đƣợc thể hiện dƣới các hình thức bảo
đảm bằng tài sản, phi tài sản và luôn gắn với hợp đồng song vụ. Nhằm mục
đích bảo đảm và khắc phục rủi ro, vi phạm, bội ƣớc và tranh chấp, không bảo
đảm đƣợc quyền lợi của ngƣời có quyền khi ngƣời vi phạm nghĩa vụ không
có khả năng tài sản để thực hiện nghĩa vụ, giao dịch bảo đảm đã đƣợc quy
định trong mục: Bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự của mục 5, phần thứ ba
trong Bộ luật dân sự năm 2005.
Nội dung của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự chính là
bên có nghĩa vụ dùng tài sản thuộc quyền sở hữu của mình để bảo đảm cho
việc thực hiện nghĩa vụ dân sự của mình đối với bên kia theo hợp đồng. Nếu
đến hạn mà bên có nghĩa vụ không thực hiện hoặc thực hiện không đúng,
không đầy đủ thì tài sản đƣợc bảo đảm sẽ đƣợc xử lý theo thỏa thuận trong
hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự.
Với những nỗ lực nhất định, pháp luật Việt Nam về bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự đƣợc từng bƣớc xây dựng, hoàn thiện thông qua các văn bản
hƣớng dẫn nhƣ: Nghị định 165/1999/NĐ-CP ngày 19/11/1999 của Chính phủ
về các giao dịch có bảo đảm; Nghị định 08/2000/NĐ-CP ngày 10/3/2000 của
Chính phủ về đăng ký giao dịch có bảo đảm; Nghị định số 163/2006/NĐ-CP
của Chính phủ về giao dịch bảo đảm và Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày
22/2/2012 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số
163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006.


16

17

đồng dân sự, cụ thể tại Điều 416 Bộ luật dân sự năm 2005. Đến Bộ luật dân
sự năm 2015, cầm giữ đƣợc ghi nhận là một trong những biện pháp bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ, theo đó, “cầm giữ tài sản là việc bên có quyền (sau đây
gọi là bên cầm giữ) đang nắm giữ hợp pháp tài sản là đối tượng của hợp
đồng song vụ được chiếm giữ tài sản trong trường hợp bên có nghĩa vụ không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ”
Nội dung bảo lƣu quyền sở hữu cũng đã đƣợc nhắc đến trong Bộ luật dân
sự năm 2005 tại Điều 461 về Mua trả chậm, trả dần, theo đó “bên bán được
bảo lưu quyền sở hữu của mình đối với vật bán cho đến khi bên mua trả đủ
tiền, trừ trường hợp có thoả thuận khác”.
Vậy, việc bổ sung hai biên pháp bảo đảm này nhằm tạo hành lang pháp lý
cho các bên tham gia vào giao dịch dân sự có nhiều phƣơng án để lựa chọn
biện pháp bảo đảm. Sự đổi mới này cũng nhằm đảm bảo đƣợc tính linh hoạt
cho quá trình ký kết, tham gia, thực hiện hợp đồng dân sự của các chủ thể,
góp phần thúc đẩy sự phát triển chung của nền kinh tế đất nƣớc.
Có thể nói, những tiếp cận mới của Bộ luật dân sự năm 2015 về bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ có sự ảnh hƣởng và tác động mang tính chất chi phối đến
cơ chế điều chỉnh pháp luật và nhận thức pháp luật trong lĩnh vực giao dịch
bảo đảm và đăng ký biện pháp bảo đảm.
1.1.3 Đặc điểm của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Do bị chi phối bởi mục đích và tính chất bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nên
các biện pháp bảo đảm có những điểm đặc thù so với các giao dịch dân sự
thông thƣờng:
Thứ nhất, các biện pháp bảo đảm mang tính chất bổ sung cho nghĩa vụ
chính nhƣng mang tính độc lập tƣơng đối


18



19

hiệu là các bên phải hoàn trả cho nhau tất cả những gì đã nhận, bên có lỗi phải
chịu trách nhiệm bồi thƣờng thiệt hại.
 Nếu hợp đồng có nghĩa vụ đƣợc bảo đảm bị hủy bỏ hay đơn phƣơng
chấm dứt thực hiện thì các biện pháp bảo đảm cho hợp đồng đó vẫn có giá trị,
hiệu lực thi hành để bảo đảm cho việc thực hiện nghĩa vụ hoàn trả.
 Giao dịch bảo đảm vô hiệu không làm chấm dứt hợp đồng có nghĩa vụ
đƣợc bảo đảm, trừ trƣờng hợp các bên thỏa thuận biện pháp bảo đẩm là một
phần không thể tách rời của hợp đồng chính.
Thứ hai: các biện pháp bảo đảm đều có mục đích nâng cao trách nhiệm
của các bên trong quan hệ nghĩa vụ dân sự
Khi đặt ra biện pháp bảo đảm, các bên hƣớng tới mục đích nâng cao trách
nhiệm thực hiện nghĩa vụ của ngƣời có nghĩa vụ. Ngoài ra, trong nhiều trƣờng
hợp, các bên còn hƣớng tới mục đích nâng cao trách nhiệm trong giao kết hợp
đồng của cả hai bên.
Thứ ba, đối tƣợng của các biện pháp bảo đảm là những lợi ích vật chất
Nghĩa vụ cần đƣợc bảo đảm mang tính chất tài sản nên đối tƣợng của các
biện pháp bảo đảm cũng phải mang tính tài sản. Khi thiết lập quan hệ nghĩa
vụ, không thể đƣa quyền nhân thân làm đối tƣợng của các biện pháp bảo đảm.
Quan hệ nghĩa vụ là loại quan hệ phức tạp, quyền lợi của các bên rất dễ bị
xâm phạm. Do đó, đối tƣợng của các biện pháp bảo đảm phải là lợi ích vật
chất thì mới có thể xác định đƣợc tính ngang giá, qua đó thực hiện việc bù
đắp tổn thất, khắc phục thiệt hại. Lợi ích vật chất là đối tƣợng của các biện
pháp bảo đảm thƣờng là một tài sản. Ngoài ra, còn có thể là một công việc
phải làm, nếu nó mang lại lợi ích cho bên có quyền. Các đối tƣợng này phải
có đủ các yếu tố mà pháp luật đã yêu cầu đối với một đối tƣợng của nghĩa vụ
dân sự nói chung.


Phạm Công Lạc (1996), “Bản chất các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự”, Luật học, (số
chuyên đề về Bộ luật dân sự), tr 31-34.


21

vụ đó cũng đƣợc coi là chấm dứt. Chức năng dự phòng của các biện pháp bảo
đảm cho thấy các biện pháp bảo đảm chỉ đƣợc áp dụng khi nghĩa vụ chính
không đƣợc thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhằm qua đó bảo đảm
quyền lợi cho bên có quyền.
Nhƣ vậy, các biện pháp bảo đảm có ý nghĩa quan trọng trong việc chuyển
quan hệ của chủ thể mang quyền từ từ tính chất đối nhân (phụ thuộc vào việc
thực hiện nghĩa vụ của bên đối tác) sang quan hệ có tính chất đối vật (chỉ cần
tác động trực tiếp vào tài sản bảo đảm để bảo vệ lợi ích của mình). Thông
qua việc áp dụng các biện pháp bảo đảm bên có quyền sẽ không bị động mà
trở thành chủ động trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình
trong các giao dịch dân sự, thƣơng mại đã ký kết.
Xem xét các quy định chung về các biện pháp thực hiện nghĩa vụ dân sự
trong tổng thể những quy định về nghĩa vụ dân sự, chúng ta có thể thấy đƣợc
bản chất pháp lý của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự là một
loại chế tài trong nghĩa vụ dân sự.
Chế tài này do các bên thỏa thuận đặt ra dƣới sự bảo trợ của pháp luật.
Các bên có thể tự áp dụng nhƣ đã thỏa thuận khi có sự vi phạm nghĩa vụ hoặc
nếu không có sự thỏa thuận thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nƣớc có thảm
quyền áp dụng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên có quyền7
1.1.4 Chức năng của các biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự
Mỗi biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự có những đặc rƣng
riêng, đo đó chúng mang những chức năng khác nhau. Tuy nhiên, các biện
pháp này lại có những chức năng chung:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status