Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở việt nam (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ THANH HẢI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN
CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội – 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

TRẦN THỊ THANH HẢI

HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN
CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật
Mã số: 60380101


MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN .................................. 8

1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung của pháp luật về đảm bảo quyền của
người chưa thành niên ................................................................................. ...8
1.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về đảm bảo
quyền của người chưa thành niên ................................................................ 20
1.3. Pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên của một số
quốc gia trên thế giới và kinh nghiệm đối với Việt Nam ............................ 27
Chƣơng 2 QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN VÀ THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ
ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM ...... 33

2.1. Quá trình phát triển của pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa
thành niên ở Việt Nam ................................................................................. 33
2.2. Thực trạng pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở
Việt Nam ...................................................................................................... 37
Chƣơng 3 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA NGƢỜI CHƢA THÀNH NIÊN Ở VIỆT NAM ...... 63

3.1. Quan điểm hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa
thành niên ở Việt Nam ................................................................................. 63
3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành
niên ở Việt Nam ........................................................................................... 69
KẾT LUẬN ..............................................................................................................91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


1


Tuy nhiên, tình trạng vi phạm và xâm hại các quyền của người chưa thành
niên, đặc biệt là tình trạng bóc lột sức lao động, lạm dụng, bạo hành, phân biệt đối
xử… và tình trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên vẫn là vấn đề bức
xúc của xã hội, nhiều trường hợp mang tính chất hình sự. Ở nước ta hiện nay, tuy đã
có một số văn bản pháp luật hiện hành như Bộ luật Lao động; Bộ luật Dân sự; Bộ
luật Tố tụng dân sự; Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Chăm sóc sức


2
khỏe nhân dân; Luật Khám chữa bệnh; Luật Phòng chống HIV/AIDS; Luật Bảo hiểm
y tế; Luật Giáo dục; Luật Giáo dục tiểu học, Luật Phòng chống bạo lực gia đình;
Luật Phòng chống buôn bán người; Luật Nuôi con nuôi; Luật Xử lý vi phạm hành
chính; Luật Người khuyết tật; Luật Đất đai; Luật Thanh niên; Luật Hôn nhân và gia
đình; Luật Quốc tịch; Luật Bình đẳng giới... đều có quy định riêng đối với người
chưa thành niên nhưng nhìn chung, các quy phạm đó thiếu toàn diện, thiếu thống
nhất, chưa đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật, thể hiện chưa đầy đủ
những quy chuẩn cũng như những chính sách đối với các em; nhiều văn bản quy
phạm pháp luật và chính sách còn chồng chéo, mâu thuẫn và trùng lặp; thiếu sự phối
hợp của các cơ quan có liên quan trong việc tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật,
cùng với đó là ý thức chấp hành pháp luật của bộ phận cán bộ, nhân dân chưa tốt,
chưa coi trọng công tác đảm bảo quyền của người chưa thành niên. Vì vậy, pháp luật
về đảm bảo quyền của người chưa thành niên chưa đủ sức để phòng ngừa vi phạm,
tội phạm cũng như bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhóm đối tượng này. Do đó,
cần nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành về đảm bảo quyền
của người chưa thành niên để đề xuất phương hướng, giải pháp hoàn thiện cho phù
hợp với điều kiện phát triển của đất nước.
Chính vì vậy, tác giả chọn việc nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện pháp luật về
đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở Việt Nam” với mong muốn có những
đóng góp không chỉ cho việc bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người
chưa thành niên mà còn nhằm tìm ra những “khoảng trống”, những hạn chế của pháp

bày một cách hệ thống pháp luật Canada trong việc quy định và thực thi việc bảo vệ
trẻ em.
-

Tình hình nghiên cứu ở Việt Nam

 Sách chuyên khảo:
+ “Quyền con người - Tiếp cận đa ngành và liên ngành luật học” - GS.TS Võ
Khánh Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2010 (3 tập 1010 tr);
+ “Quyền con người” (Giáo trình giảng dạy sau đại học) - GS.TS Võ Khánh
Vinh chủ biên, Nxb Khoa học xã hội, 2011 (431 tr);
+ “Giáo trình Lý luận và pháp luật về Quyền con người”, Khoa luật, Đại học
Quốc gia Hà Nội, 2009, Nxb Chính trị quốc gia (670 tr);
+ Bảo vệ các nhóm dễ bị tổn thương trong Tố tụng hình sự. Trung tâm nghiên
cứu quyền con người - quyền công dân và Trung tâm nghiên cứu tội phạm học và tư
pháp hình sự trực thuộc khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội;
+ Quyền, lợi ích của phụ nữ và trẻ em trong quan hệ hôn nhân và gia đình,
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh 1999;
+ Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam, Hoàng Thế Liên, Nxb Giáo
dục 1996;
+Luật Quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, Trung tâm
nghiên cứu quyền con người và quyền công dân trực thuộc khoa Luật - Đại học quốc
gia Hà Nội;


4
+ Nguyễn Đình Lộc, Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật Việt Nam, Nxb
Giáo dục, Hà Nội, 1996.
 Luận án, luận văn:
+ Trần Thắng Lợi, Hoàn thiện pháp luật về người lao động chưa thành niên

5
3. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận văn
Mục đích của luận văn là trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận, qua
đánh giá thực trạng pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên, từ đó,
luận văn đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của
người chưa thành niên ở Việt Nam.
Để đạt được mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, nghiên cứu làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quyền của người
chưa thành niên, pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên, hoàn thiện
pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên.
Thứ hai, phân tích thực trạng những quy định của pháp luật về đảm bảo quyền
của người chưa thành niên ở Việt Nam trên một số lĩnh vực, đánh giá, chỉ ra những
ưu điểm và mặt còn hạn chế, bất cập và nguyên nhân trong xây dựng, hoàn thiện
pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên.
Thứ ba, trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, nêu lên quan điểm và đề
xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên
ở Việt Nam.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các vấn đề lý luận, pháp lý, thực tiễn của
pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên, những giải pháp được đề
xuất nhằm hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở Việt
Nam hiện nay.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Do vấn đề đảm bảo quyền của người chưa thành niên có phạm vi rất rộng,
luận văn chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng pháp luật về đảm bảo quyền của người
chưa thành niên trên các lĩnh vực chính trị - dân sự, lao động, văn hóa, tư pháp, hôn
nhân gia đình, giáo dục… để chỉ ra những ưu điểm, hạn chế làm cơ sở đề xuất quan
điểm, giải pháp hoàn thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu

chức thực hiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở nước ta,
góp phần thống nhất nhận thức xã hội và nâng cao công tác xây dựng hoàn thiện
pháp luật về lĩnh vực này.
6.2. Đóng góp
Luận văn là công trình nghiên cứu pháp luật về đảm bảo quyền của người
chưa thành niên. Với mong muốn góp phần hoàn thiện các quy định pháp luật về
đảm bảo quyền của người chưa thành niên nói riêng và quyền con người nói chung,
luận văn đã có những điểm mới sau đây:
Thứ nhất, góp phần luận giải hệ thống lý luận hoàn thiện pháp luật về đảm bảo
quyền của người chưa thành niên: Chỉ rõ cơ sở để xác định khái niệm người chưa thành
niên, quyền của người chưa thành niên, đảm bảo quyền của người chưa thành niên và
xác định các đặc điểm riêng của đối tượng này để phân biệt với các đối tượng khác,
đồng thời làm căn cứ cho việc hoàn thiện các quy định riêng đối với người chưa thành
niên; chỉ rõ mục đích, ý nghĩa của việc điều chỉnh pháp luật đối với đối tượng này.


7
Thứ hai, luận văn đã phân tích, chỉ ra những kinh nghiệm của một số nước khi
điều chỉnh pháp luật đối với vấn đề đảm bảo quyền của người chưa thành niên. Đây
là một trong cơ sở tham khảo quan trọng nhằm so sánh, học hỏi kinh nghiệm và hoàn
thiện pháp luật về đảm bảo quyền của người chưa thành niên ở nước ta.
Thứ ba, đưa ra sự đánh giá toàn diện về thực trạng về các quy định pháp luật
về đảm bảo quyền của người chưa thành niên, cũng như thực tiễn áp dụng và chỉ ra
những vấn đề cần phải sửa đổi, bổ sung trong hệ thống pháp luật.
Thứ tư, xác định những yêu cầu cần thiết của việc hoàn thiện các quy định
hiện hành về quyền của người chưa thành niên, đề xuất, xây dựng, bổ sung những
quy định thể chế, thiết chế nhằm hoàn thiện pháp luật, tăng cường hiệu quả về đảm
bảo quyền của người chưa thành niên.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, Luận

29/11/1985, “Người chưa thành niên là trẻ em hay thanh thiếu niên mà tùy theo từng
hệ thống pháp luật có thể bị xử lý khi phạm tội theo một phương thức khác người
lớn”1. Các quy tắc Bắc Kinh cũng nhấn mạnh rằng giới hạn độ tuổi được coi là chưa
thành niên phụ thuộc vào quy định của từng hệ thống pháp luật. Điều này mở ra cho
mỗi quốc gia được quy định giới hạn tuổi khác nhau đối với NCTN để phù hợp với
hoàn cảnh và điều kiện thực tế của quốc gia mình.
Tại Điều 1, Phần 1 của Công ước về quyền trẻ em (CRC) được Đại hội đồng
Liên hợp quốc thông qua ngày 20/11/1989, có hiệu lực từ ngày 02/9/1990 quy định
“Trong phạm vi Công ước này, trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ
trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm hơn”2.
1

Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1985), “Các quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên Hợp Quốc về hoạt động tư pháp đối với
người vị thành niên (Các quy tắc Bắc Kinh)”, Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người, NXB Lao động – Xã
hội, Hà Nội, tr. 234 -241.
2
Đại hội đồng Liên Hợp Quốc (1989), “Công ước về quyền trẻ em”, Giới thiệu các văn kiện quốc tế về quyền con người,
Nxb Lao động - Xã hội, tr.162-185.


9
Tại Các Quy tắc của Liên hợp quốc về bảo vệ NCTN bị tước tự do, được Đại
hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 14/12/1990, trong phần phạm vi áp dụng
quy tắc, có quy định “Người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Giới hạn độ tuổi
thấp hơn mức này theo đó không được phép tước tự do của trẻ em cần được pháp
luật quy định”3.
Các văn kiện pháp lý quốc tế về quyền của NCTN nói trên có phạm vi điều
chỉnh khác nhau, các văn bản này không dựa vào đặc điểm tâm sinh lý hay sự phát
triển mà trực tiếp hoặc gián tiếp ghi nhận, thống nhất NCTN là người dưới 18 tuổi.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, tùy từng đối tượng và phạm vi điều chỉnh


10
“Quyền” là khái niệm khoa học pháp lý dùng để chỉ những điều mà pháp luật
công nhận và đảm bảo thực hiện đối với cá nhân, tổ chức để cá nhân, tổ chức được
hưởng, được làm, được đòi hỏi mà không ai được ngăn cản, hạn chế. Theo định nghĩa
của Từ điển tiếng Việt thì “quyền” là: 1. Điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho
được, được làm, được đòi hỏi. 2. Những điều do địa vị hay chức vụ mà được làm4. Như
vậy có thể hiểu khái quát về quyền của NCTN theo pháp luật là những đặc lợi mà chỉ
NCTN mới có, do Nhà nước và pháp luật trao cho họ. Do người NCTN là một thực thể
sinh học - xã hội, là sự thống nhất giữa mặt tự nhiên và mặt xã hội, cho nên quyền của
NCTN vừa mang tính tự nhiên, vừa mang tính xã hội. Mặt khác, cũng do NCTN là một
thực thể sinh học - xã hội, cho nên quyền của NCTN vừa mang tính phổ biến vừa mang
tính đặc thù, tính phổ biến thể hiện ở chỗ những quyền này được áp dụng phổ biến ở
mọi nơi, cho mọi đối tượng được gọi là NCTN, tính đặc thù thể hiện ở chỗ các quyền
này ở các quốc gia, lãnh thổ do những điều kiện và trình độ phát triển khác nhau mà có
những đặc điểm riêng biệt phù hợp với điều kiện của từng quốc gia, lãnh thổ đó.
Quyền của NCTN trước hết cũng mang những tính chất của quyền con người
(cái chung, cấp độ cơ bản), sau đó mới mang những tính chất riêng tương ứng với
đặc điểm của độ tuổi (cái riêng, cấp độ ưu tiên). Nội dung quyền của NCTN ngày
càng được quan tâm nhiều hơn và được khẳng định mạnh mẽ trong lịch sử phát triển
quyền con người. Với sự ra đời của CRC đã khẳng định được sự cần thiết bảo vệ
quyền NCTN với tư cách một bộ phận quyền con người đặc biệt. Từ CRC, pháp luật
quốc gia đã quy định các vấn đề như môi trường, gia đình, giáo dục, việc làm, mức
sống, chăm sóc sức khỏe, vui chơi giải trí và trách nhiệm bảo vệ NCTN khỏi sự
trừng phạt về thể xác và bóc lột tình dục và bảo vệ quyền của NCTN làm trái pháp
luật… NCTN là một thành viên trong xã hội, đây là nhóm người do điều kiện tự
nhiên - xã hội có những hạn chế nên cần được đảm bảo những quyền đặc biệt, ghi
nhận cho họ nhiều quyền hơn hoặc được hưởng các quyền mang tính ưu tiên hơn. Sự
phân biệt các nhóm người, các nhóm quyền không phải là sự bất bình đẳng của pháp
luật mà là một bước tiến để hướng tới sự bình đẳng thực sự.

phát triển tự do của mỗi người”6. Như vậy, ở đây Nhà nước nhận về mình trách
nhiệm, nghĩa vụ phải tôn trọng các quyền con người, quyền công dân, đảm bảo các
quyền con người, quyền công dân, đồng thời chăm lo hạnh phúc, sự phát triển của
mỗi người. Nhà nước Việt Nam luôn coi việc đảm bảo quyền của NCTN là vấn đề có
tầm quan trọng đến sự phát triển của đất nước. Đảng và Chính phủ Việt Nam luôn
xác định NCTN không phân biệt gái, trai; không phân biệt dân tộc, tín ngưỡng, tôn
giáo, thành phần, địa vị xã hội… đều có những khả năng xã hội như nhau để phấn
đấu trở thành người có ích cho xã hội, đều được hưởng các quyền và thực hiện các
nghĩa vụ công dân mà Nhà nước và pháp luật quy định.
Quan niệm về đảm bảo quyền của NCTN là các chủ thể có trách nhiệm, trước
hết và chủ yếu là Nhà nước, tạo ra các tiền đề về chính trị, kinh tế, xã hội, pháp lý,
thực hiện các biện pháp về thể chế lập pháp, hành pháp, tư pháp để hiện thực hóa các
5

Từ điển tiếng Việt (2007), Nxb Từ điển Bách Khoa, Hà Nội, tr. 38.

6

Đảng Cộng sản Việt Nam (2011), Văn kiện Đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.56.


12
nguyên tắc, tiêu chuẩn về quyền của NCTN nhằm thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, đảm
bảo thực hiện và thúc đẩy quyền của NCTN trên mọi phương diện.
Về chủ thể đảm bảo - chủ thể của những hoạt động nêu trên, ở bình diện chung,
Nhà nước thay mặt xã hội thực hiện những đảm bảo cho quyền của NCTN được thực
hiện. Nhà nước phải xây dựng hệ thống pháp luật ghi nhận các quyền đối với NCTN,
đồng thời giao trách nhiệm áp dụng pháp luật cho các cá nhân, tổ chức có liên quan.
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm chung trong
việc đảm bảo quyền của NCTN. Trách nhiệm đó bao gồm ban hành pháp luật, hình

13
nhân văn của Nhà nước. Những quyền này nhằm đảm bảo rằng NCTN được hưởng
những gì mà các em cần để lớn lên, phát triển và học tập, có sức khỏe và trở thành
người có ích cho xã hội.
Về các phương thức, hoạt động đảm bảo - đảm bảo quyền của NCTN bao gồm
những đảm bảo về xây dựng pháp luật (xây dựng định chế pháp lý về quyền của NCTN)
và đảm bảo về thực hiện pháp luật (vận hành hệ thống của các cơ quan có trách nhiệm
đảm bảo thực hiện nội dung quyền trên thực tế, bảo vệ các quyền, chống xâm hại, vi
phạm và đảm bảo bằng các hoạt động hợp tác quốc tế trên lĩnh vực này…).
Đảm bảo pháp lý về quyền của NCTN chính là nói đến hệ thống pháp luật về
NCTN đầy đủ, hoàn thiện là cơ sở để Nhà nước, tổ chức, công dân thực hiện quyền
và trách nhiệm của mình đối với NCTN. Hệ thống văn bản pháp luật về đảm bảo
quyền của NCTN quy định về tổ chức, hoạt động của bộ máy Nhà nước, quy định về
quyền của NTCN và quy định trách nhiệm của các cá nhân, tổ chức, cơ quan Nhà
nước. Cơ chế tổ chức thực thi quy định pháp luật về quyền của NCTN.
Các hoạt động này chỉ đạt được kết quả tốt trên cơ sở những đảm bảo chung
về chính trị - quyền và bổn phận của NCTN được đảm bảo bằng thể chế chính trị,
bằng sự ổn định chính trị, hiệu quả hoạt động của cả hệ thống chính trị, sự lãnh đạo
của Đảng đối với Nhà nước và xã hội; đảm bảo về kinh tế - chiến lược phát triển
kinh tế xã hội của nhà nước là đặt con người vào vị trí trung tâm, giải phóng và phát
huy mọi tiềm năng của mỗi cá nhân, tập thể và cả dân tộc; đảm bảo về xã hội - thông
các mối quan hệ, sự hợp tác và giúp đỡ lẫn nhau giữa các giai cấp, tầng lớp, nhóm
dân cư, gia đình, cá nhân trong việc thực hiện nhằm đảm bảo quyền; đảm bảo về văn
hóa - tạo ra đời sống tinh thần cao đẹp, phong phú và đa dạng, có nội dung nhân
đạo, dân chủ, tiến bộ và hướng tới việc xây dựng con người phát triển toàn diện về
đức, trí, thể, mỹ.
Để đảm bảo quyền của NCTN cần phải có các điều kiện đảm bảo chung như
trên và đặc biệt là hệ thống pháp luật. Những yếu tố này đóng vai trò cơ sở hạ tầng
cho việc xây dựng và hiện thực hóa các quyền của NCTN.
Qua phân tích, tổng hợp các phương diện tiếp cận nêu trên, có thể đưa ra khái

thể thiếu, nó là cơ sở, là điều kiện bắt buộc để thực hiện các hoạt động đảm bảo
quyền của NCTN trên mọi lĩnh vực của đời sống.
Vấn đề chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ, phòng ngừa NCTN phạm tội là một việc
làm không chỉ có ở Việt Nam mà tất cả các quốc gia trên thế giới cũng đặc biệt quan
tâm, nghiên cứu và thực hiện. Chính vì vậy, ngoài những quy định chung về quyền con
người, quyền công dân, pháp luật còn có những quy định riêng dành cho NCTN.
Trong những năm qua Việt Nam đã từng bước xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật nói chung, cũng như pháp luật, chính sách liên quan đến việc đảm bảo quyền cho
NCTN. Việt Nam đã cụ thể hoá pháp luật quốc tế và vận dụng phù hợp vào điều kiện
và hoàn cảnh cụ thể của quốc gia. Đây là cơ sở pháp lý để đảm bảo thực hiện tốt các
quyền của NCTN. Tuy vậy, với sự phát triển nhanh chóng và đa dạng của các quan hệ


15
xã hội trong xã hội, các quy định pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN cần liên tục
được rà soát, đánh giá và sửa đổi, thay thế cho phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam cũng
như pháp luật quốc tế. Và, vấn đề quan trọng không phải là liệt kê bao nhiều quyền mà
cần có cơ chế thực thi như thế nào để đảm bảo quyền của NCTN được thực hiện
trên thực tế…
Từ những phân tích trên đây ta có khái niệm: Pháp luật về đảm bảo quyền của
người chưa thành niên là tổng thể các quy định do Nhà nước ban hành hoặc thừa
nhận để xác định các quyền, lợi ích hợp pháp mà chủ thể này được hưởng và hệ
thống các phương thức bảo vệ, hiện thực hóa nội dung, giá trị của các quyền trên
các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN phải hội tụ đầy đủ các yếu tố đảm bảo
quyền con người, quyền công dân: Về hệ thống pháp luật đảm bảo quyền của NCTN;
về hệ thống các cơ quan tiến hành các hoạt động và tổ chức nhằm đảm bảo quyền
của NCTN trên thực tế; về cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cơ quan có trách
nhiệm; về cơ chế giám sát, quy định chế độ trách nhiệm pháp lý trong xử lý vi phạm
pháp luật xâm hại đến quyền của NCTN.

lập pháp, lập quy theo thẩm quyền; hai là các điều ước quốc tế mà Việt Nam thừa
nhận. Pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN có thể nằm trong văn bản luật riêng
hoặc nằm trong nhiều văn bản luật với mức độ, nội dung điều chỉnh khác nhau.
Xét về cấu trúc, pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN có phạm vi rất rộng,
liên quan đến nhiều lĩnh vực quan hệ xã hội, đến nhiều ngành luật khác nhau. Mỗi
một ngành luật có những đặc thù riêng về đảm bảo quyền của NCTN. Nếu xét ở góc
độ lĩnh vực quan hệ xã hội thì pháp luật về NCTN liên quan đến quan hệ hôn nhân
gia đình, quan hệ lao động, quan hệ hình sự, quan hệ hành chính... Còn nếu xét ở góc
độ ngành luật thì hầu hết các ngành luật của hệ thống pháp luật Việt Nam đều điều
chỉnh các quan hệ xã hội về NCTN.
Pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN ngày càng mang tính toàn diện, cụ thể
phù hợp với các nhóm đối tượng NCTN. Trong nhóm đối tượng NCTN có hoàn cảnh
đặc biệt khó khăn. Các đối tượng NCTN đặc biệt ngày càng được cụ thể hóa và có
những cơ chế riêng để bảo vệ, chăm sóc, giáo dục. Nhà nước có nhiều chính sách để
giúp đỡ, tạo điều kiện cho các em hòa nhập hơn với cộng đồng. Như vậy, ngoài
những quy định về quyền của NCTN nói chung còn có các quy định riêng về các
quyền đặc thù của từng nhóm đối tượng NCTN có hoàn cảnh đặc biệt. Chính vì vậy,
việc đảm bảo quyền của NCTN không chỉ căn cứ vào những quy phạm pháp luật
riêng quy định về NCTN, mà còn liên quan đến nhiều quy phạm pháp luật thuộc các
lĩnh vực khác nhau.
Thứ ba, pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN có sự ảnh hưởng to lớn của
các yếu tố phong tục, tập quán, đạo đức, truyền thống văn hóa.
Điều này được thể hiện trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của NCTN
đối với các thành viên gia đình và ngược lại. Pháp luật bao giờ cũng dành một sự lưu
ý đặc biệt đến mối quan hệ giữa pháp luật và tập quán trong việc giải quyết các quan
hệ hôn nhân - gia đình. Như trong việc đặt tên, họ cho đứa trẻ, trong việc giải quyết
các quan hệ tài sản, thừa kế, quan hệ nhân thân…


17

thiết với nhau, nếu không có cơ chế thực hiện (quy định và tổ chức thực hiện) thì mọi
quy định nội dung chỉ là pháp luật trên giấy.
Thứ nhất, là quy định về quyền của NCTN được bảo vệ, đảm bảo trong hệ
thống pháp luật Việt Nam.


18
Các quy định này tồn tại ở dạng những quy tắc, quy phạm quy định về quyền
của NCTN trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Điều này được thể hiện ở nội dung
các quyền của NCTN. Xét từ phương diện quyền con người, tuy có tính chất đặc
biệt, song quyền của NCTN vẫn là một bộ phận hợp thành của quyền con người. Và
nói đến nội dung của pháp luật về đảm bảo quyền của NCTN là nói đến các quy
phạm pháp luật cụ thể hướng đến mục tiêu xác lập, bảo vệ năng lực và tư cách pháp
lý của NCTN trong các lĩnh vực của đời sống xã hội, các nhóm quyền và cũng chính
là các nhóm quyền của NCTN cần Nhà nước đảm bảo thực hiện, cụ thể là:
- Đảm bảo quyền về dân sự - chính trị như các quyền có họ tên, quốc tịch,
quyền tự do phát biểu ý kiến, đề đạt nguyện vọng, giao tiếp bạn bè, được bảo vệ
không bị ngược đãi, đối xử tàn ác…
- Đảm bảo quyền về kinh tế gồm các quyền được hưởng an toàn về xã hội, có
mức sống đầy đủ phát triển…
- Đảm bảo quyền về xã hội gồm các quyền được chăm sóc sức khỏe, được bảo
vệ khỏi sự bóc lột sức trong lao động, quyền được làm con nuôi…
- Đảm bảo quyền về văn hóa bao gồm quyền được học tập, quyền thông tin,
tham gia các hoạt động văn hóa, văn nghệ, thể thao…
- Đảm bảo trong hoạt động tư pháp: bảo vệ các em khi bị xâm phạm cũng như
xử lý tình trạng vi phạm pháp luật của NCTN.,.
Việc ghi nhận quyền của NCTN nhằm đảm bảo cho các em không chỉ là đối
tượng tiếp thu thụ động với người lớn mà trở thành chủ thể có quyền, có khả năng tạo
dựng cuộc sống phù hợp đảm bảo lợi ích được phát triển một cách toàn diện. Việc quy
định quyền của NCTN còn là cơ sở để các nhà làm luật xây dựng các biện pháp đảm bảo

lợi ích hợp pháp của NCTN; tiếp tục xây dựng mạng lưới công tác xã hội, cộng tác
viên, tình nguyện viên chuyên trách công tác bảo vệ lợi của NCTN khi gặp những
vấn đề khó khăn trong cuộc sống; tăng cường huy động và sử dụng nguồn lực để
chăm sóc sức khỏe, bảo vệ, xây dựng môi trường sống an toàn và lành mạnh cho
NCTN ngày càng được đảm bảo.
Cơ chế tổ chức thực thi các quy định pháp luật về quyền của NCTN, đó là cơ
chế phối hợp đồng bộ giữa tất cả các cơ quan Nhà nước, các tổ chức xã hội, nhà
trường, gia đình. Nhà nước cần có một cơ chế giám sát quyền của NCTN, đó là sự
kết nối giữa hoạch định chính sách, lập pháp và thực thi; đánh giá tình hình quyền
của NCTN, phân tích những yếu tố ảnh hưởng lên quyền của NCTN và đưa ra những
khuyến nghị để cải thiện tình hình. Ngoài ra, cần xây dựng cơ chế phát hiện, xử lý
các vi phạm quyền của NCTN, hoạt động kiểm tra, phát hiện và xử lý đúng, nghiêm
minh, kịp thời các vi phạm pháp luật về quyền của NCTN là những biện pháp quan
trọng, góp phần phòng, chống, hạn chế các vi phạm pháp luật đồng thời củng cố và
tăng cường lòng tin của cá nhân, công dân, gia đình và xã hội vào Nhà nước và pháp
luật, góp phần giữ vững trật tự kỷ cương của đất nước. Bên cạnh đó, cần quy định về
sự cam kết, hợp tác quốc tế trong lĩnh vực này, điều này có ảnh hưởng tích cực đến
việc đảm bảo thực hiện quyền của NCTN một cách đầy đủ hơn.
8

Đại hội đồng Liên Hợp Quốc, tldd chú thích 2, tr. 163.


20
1.2. Các tiêu chí đánh giá mức độ hoàn thiện của pháp luật về đảm bảo quyền
của ngƣời chƣa thành niên
Quyền của NCTN là một bộ phận quan trọng của quyền con người, đảm bảo
quyền của NCTN là cuộc đấu tranh lâu dài và bền bỉ của nhân dân trên toàn thế giới,
trong đó có Việt Nam. Việc thừa nhận các quyền của NCTN trong các văn bản pháp
luật quốc tế và quốc gia là cơ sở pháp lý, là điều kiện quan trọng để giúp NCTN được



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status