Tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn từ thực tiễn giải quyết tại toà án nhân dân huyện đông anh, thành phố hà nội (luận văn thạc sĩ luật học) - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

---------------------------------

TRỊNH HUỲNH QUÂN

TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG
ĐẤT KHI VỢ CHỒNG LY HÔN TỪ THỰC TIỄN GIẢI
QUYẾT TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐÔNG ANH,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2017


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƢ PHÁP

TRƢỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

---------------------------------

TRỊNH HUỲNH QUÂN

TRANH CHẤP VỀ CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỀN SỬ DỤNG


Bộ luật dân sự
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

3. HN&GĐ:

Hôn nhân và gia đình

4. QSDĐ:

Quyền sử dụng đất

5. TAND:

Toà án nhân dân

6. UBND:

Uỷ ban nhân dân


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
Chƣơng 1.NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRANH
CHẤP VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỂN SỬ
DỤNG ĐẤT CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN .....................................................6
1.1. Những vấn đề lý luận chung về tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất
khi vợ chồng ly hôn ....................................................................................................6
1.1.1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng trong hôn nhân .............................6
1.1.2. Khái niệm tài sản chung là quyền sử dụng đất của vợ chồng trong hôn

2.2. Thực tiễn giải tranh chấp về chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly
hôn tại Tòa án nhân dân huyện Đông Anh................................................................33
2.2.1. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất tạo lập trước thời
kỳ hôn nhân nhưng là tài sản chung của vợ chồng ............................................33
2.2.2. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất tạo lập trong thời
kỳ hôn nhân nhưng chỉ đứng tên một người hoặc vợ hoặc chồng .....................38
2.2.3. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất là tài sản cùng tạo
lập chung với cha mẹ, anh em con cái hoặc vợ, hoặc chồng và giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất cấp mang tên hộ gia đình.....................................................44
2.2.4. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất và tài sản trên đất
không cùng chủ sở hữu và sử dụng hợp pháp của vợ chồng trong hôn nhân ....47
2.2.5. Thực tiễn giải quyết tranh chấp về quyền sử dụng đất mà trước thời kỳ
hôn nhân đã là tài sản riêng của người chồng, hoặc của bố mẹ chồng, sau khi
kết hôn, quyền sử dụng đất đó được mở rộng diện tích do vợ chồng khai hoang,
khẩn hóa hoặc lấn chiếm nhưng không thuộc diện bị Nhà nước thu hồi ..........48
2.2.6. Thực tiễn giải quyết tranh chấp tài sản vợ chồng khi ly hôn trong trường
hợp người chồng có quan hệ cùng một lúc với hai người phụ nữ, trong đó,
người phụ nữ có đăng ký kết hôn, một người không có đăng ký kết hôn song
người chồng chủ yếu ở với người không có đăng ký kết hôn, tài sản là quyền sử
dụng đất, nhà ở cũng được tạo lập với người phụ nữ không có đăng ký. .........51
2.2.7. Thực tiễn phân chia tài sản là quyền sử dụng đất của vợ chồng khi ly hôn
...........................................................................................................................52
2.3. Một số hạn chế, vướng m c phát sinh trong quá trình giải quyết tranh chấp tài
sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn và nguyên nhân................................54
2.3.1. Một số hạn chế, vướng m c .....................................................................56
2.3.2. Nguyên nhân của những hạn chế, vướng m c .........................................58
Tiểu kết chương 2: .............................................................................................61


Chƣơng 3. CÁC YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ

thì ly hôn được xem là sự lựa chọn tốt nhất để giải thoát cho cả hai. Tuy nhiên, ở
một khía cạnh nào đó, ly hôn vẫn có những măt tr i đó là sự ảnh hưởng đến tâm lý
con cái của chính các cặp vợ chồng khi ly hôn. Do vậy, ly hôn không chỉ là vấn đề
riêng của mỗi gia đình mà là vấn đề cần quan tâm của cả xã hội.
Dưới góc độ pháp lý, ly hôn là một chế định được ghi nhận trong Luật
HN&GĐ, là cơ sở ph p lý cho Toà n và c c đương sự áp dụng để giải quyết vấn đề
ly hôn một cách thấu tình đạt lý, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của cả vợ
và chồng khi ly hôn. Ly hôn không đơn thuần là chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa
vợ và chồng mà kéo theo đó, Toà n phải xem xét, giải quyết các vấn đề về con cái,
chia tài sản, các khoản nợ với bên thứ ba của vợ chồng. Đặc biệt là đối với vấn đề
chia tài sản của vợ chồng trong đó có vấn đề chia tài sản là QSDĐ của vợ chồng khi
ly hôn. Đây là một vấn đề khá phức tạp, đòi hỏi Toà án phải bằng mọi biện pháp tố
tụng, xác minh, làm rõ nguồn gốc QSDĐ để có căn cứ chia tài sản cho vợ chồng.
QSDĐ với tư c ch là quyền tài sản, được phép tham gia giao dịch dân sự, từ
đó làm ph t sinh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan. Các chế định liên
quan đến QSDĐ không chỉ được quy định tại Luật đất đai năm 2013, Bộ luật dân sự
năm 2015 mà còn được quy định khá chi tiết và cụ thể trong Luật HN&GĐ năm
2014. Do QSDĐ là một loại tài sản có giá trị lớn và thường là tài sản có ý nghĩa
nhất trong khối tài sản chung của vợ chồng nên việc tranh chấp về tài sản là QSDĐ
khi ly hôn của vợ chồng là một vấn đề khó tránh khỏi. Vậy pháp luật hiện hành quy
định như thế nào về giải quyết tranh chấp về QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn? Quá
trình áp dụng pháp luật để giải quyết các tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ


2

chồng ly hôn tại Tòa n đã và đang gặp những khó khăn và trở ngại gì? Hệ quả của
việc giải quyết không triệt để, chưa thấu tình đạt lý những án ly hôn có tranh chấp
tài sản chung của vợ chồng là QSDĐ nguyên nhân do đâu? Cần phải có giải pháp
hữu hiệu gì để giải quyết vấn đề này trong thời gian tới?... là những vấn đề cần phải



3

đai, cũng như giải quyết các tranh chấp về quyền sử dụng đất của vợ và chồng. Các
công trình, bài viết nêu trên mang ý nghĩa sâu s c và có tính kế thừa cao cho những
công trình nghiên cứu về sau. Kế thừa và phát huy những quan điểm pháp lý trong
các công trình nghiên cứu nêu trên, Luận văn “Tranh chấp về chia tài sản là quyền
sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn từ thực tiễn giải quyết tại Toà án nhân dân huyện
Đông Anh, thành phố Hà Nội” mang lại cái nhìn chi tiết hơn, sâu s c hơn từ thực
tiễn giải quyết tranh chấp QSDĐ khi ly hôn tại một Toà án cụ thể.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục đích nghiên cứu của luận văn là làm s ng tỏ những vấn đề lý luận và
thực tiễn về tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn tại
Toà án.
Trên cơ sở phân tích c c quy định của Luật đất đai năm 2013, Luật HN&GĐ
năm 2014, Bộ luật dân sự năm 2015 cùng c c văn bản pháp luật có liên quan để tìm
hiểu những quy định của pháp luật về giải quyết tranh chấp QSDĐ khi ly hôn của
vợ chồng. Đồng thời, từ thực tiễn giải quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi
vợ chồng ly hôn tại TAND huyện Đông Anh để đưa ra những vướng m c, bất cập
của các quy định pháp luật trong quá trình áp dụng giải quyết tranh chấp, từ đó kiến
nghị giải pháp nhằm hoàn thiện c c quy định của pháp luật về vấn đề này.
- Nhiêm vụ nghiên cứu:
Thứ nhất, nghiên cứu và chỉ ra những vấn đề lý luận về tranh chấp và giải
quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn;
Thứ hai, phân tích thực tiễn giải quyết tranh chấp chia tài sản là QSDĐ khi
vợ chồng ly hôn tại Toà án nhân dân huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội;
Thứ ba, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp
về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn.

sau:
- Phương ph p luận nghiên cứu khoa học duy vật biện chứng và duy vật lịch
sử của chủ nghĩa M c - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối quan điểm của
Đảng cộng sản Việt Nam. Theo đó, t c giả đặt các vấn đề tranh chấp quyền sử dụng
đất khi ly hôn của vợ chồng trong mối liên hệ tương quan với nhau, không nghiên
cứu một cách riêng lẻ đồng thời có sự so sánh với c c quy định đã hết hiệu lực cũng
như s p được áp dụng.
- Phương ph p phân tích, phương ph p diễn giải: Những phương pháp này
được sử dụng phổ biến trong việc làm rõ c c quy định của pháp luật về ly hôn và
tranh chấp quyền sử dụng đất khi ly hôn của vợ chồng.
- Phương ph p đ nh gi , phương ph p so s nh: Những phương ph p này
được tác giả vận dụng để đưa ra ý kiến nhận xét quy định của pháp luật hiện hành
có hợp lý hay không, đồng thời nhìn nhận trong mối tương quan so với quy định
liên quan hoặc pháp luật của c c nước kh c…
- Phương ph p mô tả: Được sử dụng chủ yếu nhằm mô tả c c quy định của
pháp luật và các vụ việc liên quan. Qua đó, luận văn tạo ra bức tranh chân thực của
hiện tại. Phương ph p mô tả theo hai hướng sao lại và phản ánh.


5

- Phương ph p quy nạp, phương ph p diễn dịch: Được vận dụng để triển khai
có hiệu quả các vấn đề liên quan đến nội dung tranh chấp quyền sử dụng đất khi ly
hôn của vợ chồng, đặc biệt là các kiến nghị hoàn thiện. Cụ thể như trên cở sở đưa ra
những kiến nghị mang tính khái quát, súc tích tác giả dùng phương ph p diễn dịch
để làm rõ nội dung của kiến nghị đó…

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
- Ý nghĩa lý luận:
Luận văn đi vào phân tích, làm s ng tỏ c c căn cứ ph p lý liên quan đến việc

Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ TRANH CHẤP
VÀ GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP CHIA TÀI SẢN LÀ QUYỂN SỬ
DỤNG ĐẤT CỦA VỢ CHỒNG KHI LY HÔN
1.1. Những vấn đề lý luận chung về tranh chấp chia tài sản là
quyền sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn
Để nghiên cứu vấn đề tranh chấp chia tài sản là quyền sử dụng đất khi vợ
chồng ly hôn tác giả dựa trên cơ sở nghiên cứu c c căn cứ xác lập quyền sử dụng
đất hợp pháp của vợ và chồng; tương tự, nghiên cứu cơ sở, căn cứ để x c định tài
sản trên đất là nhà ở, vật kiến trúc và tài sản g n liền với đất là tài sản chung của vợ
và chồng theo quy định của Luật Đất đai. Những sự kiện kết hôn, ly hôn được quy
định trong Luật HN&GĐ là sự kiện ph p lý để x c định thời điểm phát sinh hay
chấm dứt quyền tài sản chung của vợ chồng đối với QSDĐ. C c quy định về sở hữu
chung hợp nhất, sở hữu theo phần, tài sản có thể phân chia, tài sản không thể phân
chia quy định trong Bộ luật Dân sự có ý nghĩa quan trọng trong việc xử lý tài sản
khi chia cho vợ và chồng khi ly hôn.

1.1.1. Khái niệm tài sản chung của vợ chồng trong hôn nhân
Để gia đình có thể tồn tại và phát triển, cần phải có c c điều kiện vật chất
thiết yếu – cơ sở kinh tế nuôi sống gia đình. Ph p luật Việt Nam nói chung, pháp
luật HN&GĐ nói riêng qua c c thời kỳ luôn chú trọng đến việc xây dựng chế độ tài
sản của vợ chồng như một chế định cơ bản, quan trọng nhất của hệ thống pháp luật
về HN&GĐ. ể từ khi nam, nữ kết hôn trở thành vợ chồng họ cùng nhau chung
sống, cùng nhau gánh vác công việc gia đình, cùng nhau tạo dựng tài sản chung,
cuộc sống của vợ chồng hòa nhập làm một, hầu như không có sự phân biệt tài sản
nào là của vợ, tài sản nào là của chồng. Để thỏa mãn các nhu cầu về vật chất và tinh
thần của đời sống gia đình, vợ chồng cùng nhau thực hiện nghĩa vụ chăm sóc, nuôi
dưỡng con cái, phát triển sự nghiệp, gây dựng nền tảng kinh tế phục vụ đời sống
chung.
Kế thừa và phát triển quy định của Luật HN&GĐ năm 1986 về tài sản

khó để có thể x c định đâu là tài sản chung, đâu là tài sản riêng. Vì vậy, nguyên t c
suy đo n đảm bảo được sự công bằng trên cơ sở lợi ích chung của gia đình và vợ
chồng. Để đảm bảo cho nguyên t c suy đo n được áp dụng một cách chính xác,
khách quan, các nhà làm luật đã dựa vào “thời kỳ hôn nhân” và nguồn gốc của các
loại tài sản. Vậy thời kỳ hôn nhân là gì?
Thời kỳ hôn nhân theo quy định tại khoản 13, Điều 3 Luật Hôn nhân gia đình
năm 2014 được x c định như sau: “Thời kỳ hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại
quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn
nhân”.
Như vậy, “thời kỳ hôn nhân” được tính từ khi hai bên nam, nữ kết hôn (thời
điểm phát sinh quan hệ vợ chồng trước pháp luật); việc kết hôn đó được cơ quan
Nhà nước có thẩm quyền công nhận theo đúng thủ tục và c c điều kiện luật định.


8

Những tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân (trừ tài sản riêng của vợ
chồng) đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Ví dụ: tiền lương của mỗi bên
trước khi kết hôn sẽ là tài sản riêng của người đó, nhưng sau khi kết hôn, tiền lương
của mỗi bên vợ chồng đều thuộc khối tài sản chung của vợ chồng. Việc x c định
“thời kỳ hôn nhân” có ý nghĩa vô cùng quan trọng để x c định đâu là tài sản chung
của vợ chồng. Như vậy, căn cứ vào quy định này, khi x c định một tài sản có phải
là tài sản chung của vợ chồng hay không cần dựa trên các nguyên t c:
Thứ nhất, tài sản chung của vợ chồng có thể do cả hai vợ chồng cùng tạo lập,
nhưng cũng có thể do hoặc vợ, hoặc chồng tạo lập. Ví dụ, sau khi kết hôn hai vợ
chồng cùng mở một cửa hàng tạp hoá thì thu nhập từ cửa hàng này là do hai vợ
chồng cùng tạo lập; hoặc sau khi kết hôn, người chồng đứng ra thành lập một công
ty riêng, mặc dù thu nhập từ công ty này đều do người chồng tạo ra song vẫn được
x c định là tài sản chung của vợ chồng.
Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng được tạo dựng không phụ thuộc vào

đoạt khối tài sản chung này.
Từ những phân tích trên có thể khái quát: Tài sản chung của vợ chồng là vật,
tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản. Tài sản chung của vợ chồng có thể bao gồm
bất động sản và động sản. Tài sản chung của vợ chồng là tài sản thuộc hình thức sở
hữu chung hợp nhất có thể phân chia. Vợ, chồng có quyền, nghĩa vụ ngang nhau
đối với tài sản chung đó.

1.1.2. Khái niệm tài sản chung là quyền sử dụng đất của vợ chồng
trong hôn nhân
QSDĐ là tài sản đặc biệt và có giá trị lớn. Giáo trình Luật Đất đai, Trường
Đại học Luật Hà Nội phân tích QSDĐ với tư c ch là một trong ba quyền năng của
quyền sở hữu1. Theo đó, “QSDĐ” được hiểu là “quyền khai thác các thuộc tính có
ích của đất đai để phục vụ cho các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước”. Giữa QSDĐ của Nhà nước và của người sử dụng đất về mặt lý luận, biểu
hiện trên những khía cạnh cơ bản sau: QSDĐ của Nhà nước phát sinh dựa trên cơ
sở Nhà nước là đại diện chủ sở hữu đất đai, nên QSDĐ này là vĩnh viễn, trọn vẹn và
không bị ai hạn chế. Còn QSDĐ của người sử dụng xuất hiện khi được Nhà nước
giao đất, cho thuê đất, cho phép nhận chuyển QSDĐ hoặc công nhận QSDĐ… và
phụ thuộc vào ý chí của Nhà nước. Vì vậy, QSDĐ của họ bị hạn chế bởi diện tích,
thời hạn và mục đích sử dụng...; nếu như QSDĐ của Nhà nước mang tính gián tiếp
và trừu tượng thì ngược lại, QSDĐ của người sử dụng đất lại mang tính trực tiếp và
cụ thể.
TS.TP. Nguyễn Văn Cường và TS. Nguyễn Minh Hằng cho rằng: hông thể
đồng nhất quyền sở hữu đất và QSDĐ theo ý kiến của một số chuyên gia và đưa ra
quan niệm: “QSDĐ là quyền của người sử dụng đất khai thác các thuộc tính của
Trần Quang Huy (chủ biên) (2013), Giáo trình Luật Đất đai, Trường Đại học Luật Hà
Nội, Nxb. Công an nhân dân, tr. 95, 96.
1



2

Nguyễn Văn Cường, Nguyễn Minh Hằng (2011) , Giao dịch về QSDĐ vô hiệu - Pháp
luật dân sự và thực tiễn xét xử, Nxb. Thông tin và Truyền thông, tr.19, 20.
3
Nguyễn Thị Hồng Nhung (2012), Pháp luật về chuyển nhượng QSDĐ trong kinh doanh
bất động sản ở Việt Nam, Luận n Tiến sỹ luật học , Trường Đại học Luật Hà Nội, tr. 16.
4
Nguyễn Thị Hồng Nhung (2012), Pháp luật về chuyển nhượng QSDĐ trong kinh doanh
bất động sản ở Việt Nam, Luận n Tiến sỹ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội tr. 16
5
hoản 4 Điều 98 Luật Đất đai 2013.


11

Căn cứ theo quy định của Luật đất đai và Luật HN&GĐ thì QSDĐ mà vợ,
chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, vợ chồng có quyền
bình đẳng trong việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt mà không phụ thuộc vào khả
năng trực tiếp tạo ra tài sản hay công sức đóng góp của mỗi bên.
Trong thực tế đời sống xã hội Việt Nam từ trước cho đến nay, người chồng
thường n m giữ toàn bộ tài sản trong gia đình và thường đứng tên trong giấy chứng
nhận QSDĐ. Vì vậy, việc quy định QSDĐ có được sau khi kết hôn cũng là tài sản
chung của vợ chồng có ý nghĩa đảm bảo sự bình đẳng giữa vợ và chồng trong quan
hệ tài sản. Vấn đề chia tài sản chung của vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân hoặc sau
khi ly hôn là nhà ở, QSDĐ rất phức tạp do các giấy tờ ph p lý liên quan đến QSDĐ
thường chỉ đứng tên một người và việc x c định QSDĐ là tài sản chung hay riêng
để đảm bảo lợi ích chính đáng của mỗi người là rất khó khăn. Luật HN&GĐ năm
2014 đã kế thừa quy định từ Điều 27 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định một cách rõ
ràng QSDĐ mà vợ chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung hoặc có được

và g n liền tương ứng trong quan hệ vợ chồng từ khi kết hôn cũng hoàn toàn chấm
dứt. Tài sản chung của vợ chồng trong đó có QSDĐ sẽ được chia theo yêu cầu của
vợ chồng. Ở nước ta nhiều năm qua, do nhiều nguyên nhân, yếu tố t c động dẫn đến
các vụ n ly hôn ngày càng gia tăng. Việc giải quyết tranh chấp về tài sản đặc biệt là
tranh chấp QSDĐ giữa vợ chồng là loại việc khó khăn, phức tạp, có nhiều vướng
m c.
Vậy tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn là gì? Muốn
hiểu được khái niệm này, trước tiên phải hiểu thế nào là tranh chấp đất đai?
Luật Đất đai năm 2003 lần đầu tiên ghi nhận tại khoản 26 Điều 4 và tiếp tục
được quy định tại khoản 24 Điều 3 Luật Đất đai năm 2013 quy định: “Tranh chấp
đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều
bên trong quan hệ đất đai”.
Tranh chấp đất đai là một hiện tượng xã hội xảy ra trong bất kỳ hình thái
kinh tế - xã hội nào. Tranh chấp đất đai, hiểu theo nghĩa rộng là biểu hiện sự mâu
thuẫn, bất đồng trong việc x c định quyền quản lý, quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng đối với đất đai, phát sinh trực tiếp hoặc gián tiếp trong lĩnh vực quản lý và sử
dụng đất đai. Theo nghĩa hẹp, tranh chấp đất đai là tranh chấp phát sinh giữa các
chủ thể tham gia quan hệ pháp luật đất đai về quyền và nghĩa vụ trong quá trình
quản lý và sử dụng đất đai. Trong thực tế, tranh chấp đất đai được hiểu là sự tranh
chấp về quyền quản lý, quyền sử dụng xung quanh một khu đất cụ thể mà mỗi bên
đều cho rằng mình phải được quyền đó do ph p luật quy định và bảo hộ. Vì vậy, họ
không thể cùng nhau tự giải quyết các tranh chấp đó mà phải yêu cầu cơ quan có
thẩm quyền phân xử (giải quyết).6
Thông qua những phân tích về khái niệm “Tranh chấp đất đai” nêu trên,
chúng ta có thể đưa ra kh i niệm về tranh chấp QSDĐ khi vợ chồng ly hôn như sau:
“Tranh chấp QSDĐ khi vợ chồng ly hôn là tranh chấp về quyền và nghĩa vụ giữa
vợ, chồng và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan về đất đai khi quan hệ

6


vợ hoặc người chồng nên khi thực hiện các giao dịch, đặc biệt là các giao dịch liên
quan đến nhận chuyển nhượng nhà đất, thường chỉ có một người đứng tên trong
GCN QSDĐ, quyền sở hữu nhà ở. Vợ và chồng thỏa thuận đứng tên một người
hoặc vợ, hoặc chồng trên GCN QSDĐ song khi tranh chấp xảy ra hoặc vợ hoặc
chồng lại cho rằng: Thỏa thuận đứng tên một người trên giấy chứng nhận chỉ với ý
nghĩa là thay mặt đứng tên, còn QSDĐ vẫn là tài sản chung của hai vợ chồng;
ngược lại, hoặc vợ hoặc chồng lại cho rằng, thỏa thuận đứng tên một người trên
giấy chứng nhận thực chất là thỏa thuận tài sản là QSDĐ đó là riêng có (tài sản


14

riêng) của người đứng tên trên giấy chứng nhận, người không đứng tên không có
quyền đối với QSDĐ đó dẫn đến tranh chấp. Pháp luật đã lường trước được vấn đề
này nên đã cho phép sử dụng phương ph p suy đo n để x c định QSDĐ là tài sản
chung hay tài sản riêng. Khoản 3, Điều 33, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định như
sau: “Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang
có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung”.
Thứ ba, QSDĐ là tài sản cùng tạo lập chung với cha mẹ, anh em con cái
hoặc vợ, hoặc chồng và GCN QSDĐ cấp mang tên hộ gia đình
Cuộc sống gia đình truyền thống ở Việt Nam, c c thành viên trong gia đình
thường có mối liên hệ g n bó với nhau. Vì vậy, việc vợ chồng cùng góp tiền với cha
mẹ chồng (cha mẹ vợ) hoặc anh, chị, em chồng (anh, chị, em vợ) để mua bán nhà
đất là điều thường xảy ra. Tuy nhiên, việc góp tiền hoặc tài sản của vợ chồng không
phải lúc nào cùng được thể hiện bằng văn bản hoặc giấy tờ chứng minh số tiền góp
hay tài sản góp cụ thể là bao nhiêu. Vợ, chồng cùng c c thành viên trong gia đình
có công sức tôn tạo, xây dựng các công trình trên đất và khi kê khai cấp GCN
QSDĐ, Nhà nước công nhận QSDĐ bằng hình thức cấp GCN QSDĐ cho hộ gia
đình. hi vợ chồng ly hôn dẫn đến tranh chấp, vấn đề cần quan tâm ở đây là x c
định được giá trị phần tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung được tạo lập

chồng có quan hệ cùng một lúc với hai người phụ nữ, trong đó, người phụ nữ có
đăng ký kết hôn, một người không có đăng ký kết hôn song người chồng chủ yếu ở
với người không có đăng ký kết hôn, tài sản là quyền sử dụng đất, nhà ở cũng được
tạo lập với người phụ nữ không có đăng ký. Nay tranh chấp giữa người vợ chính
thức với người chồng về khối tài sản đã tạo lập cùng người phụ nữ không chính
thức.
Đây là những trường hợp điển hình, xảy ra rất phổ biến trong đời sống và
trên thực tế rất khó khăn trong qu trình giải quyết bởi: Khi xảy ra tranh chấp, khó
có thể x c định tài sản đã được tặng cho con c i hay chưa (do không có bất kỳ văn
bản, giấy tờ nào thể hiện việc tặng cho trên thực tế); khó có thể x c định tài sản đã
được cấp giấy chứng nhận cho người con có thuộc quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp
của bố mẹ hay không? hoặc khó có thể x c định tài sản đang tranh chấp là tài sản
chung hay tài sản riêng của vợ chồng?...

1.1.5. Nguyên nhân và hậu quả củ tr n
khi vợ chồng ly hôn

ấp về quyền sử dụng đất

Có rất nhiều yếu tố có thể dẫn đến sự tranh chấp về tài sản là QSDĐ giữa vợ
chồng, đặc biệt là khi vợ chồng đã nảy sinh những mâu thuẫn dẫn đến tình trạng ly
hôn. Có thể kể đến một số nguyên nhân cơ bản dẫn đến tranh chấp về QSDĐ khi vợ
chồng ly hôn như sau:
Thứ nhất, QSDĐ là tài sản có giá trị lớn trong gia đình, khi tình cảm không
còn tồn tại do sự kiện ly hôn, mỗi người hoặc vợ, hoặc chồng đều muốn chiếm hữu
tài sản có giá trị ấy cho mình, cho những người thân của mình. Mặt kh c, QSDĐ là
loại tài sản có giá trị sử dụng và giá trị thực tế, có ảnh hưởng trực tiếp đến việc tạo


16

án sẽ tiến hành các hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự nhằm
xác minh, thu thập chứng cứ làm căn cứ cho quá trình giải quyết vụ n. Đặc biệt,
đối với các tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ khi vợ chồng ly hôn, quá trình xác
minh, thu thập chứng cứ của Tòa án còn gặp phải nhiều khó khăn bởi thông thường
những tài sản là QSDĐ khi xảy ra tranh chấp thường là những tài sản chưa được xác


17

định được là tài sản chung hay tài sản riêng. Hoặc trong trường hợp là tài sản chung
của hộ gia đình thì rất khó x c định phần giá trị tài sản thuộc về vợ chồng. Do đó,
đòi hỏi trong hoạt động xét xử, Tòa án cần tiến hành mọi biện ph p để có thể thu
thập đầy đủ nhất các chứng cứ phục vụ cho quá trình giải quyết.
Giải quyết tranh chấp về chia tài sản là QSDĐ của vợ chồng khi ly hôn thông
qua hoạt động xét xử của Tòa án chính là việc Tòa n thông qua c c quy định của
pháp luật để x c định QSDĐ đang tranh chấp là tài sản chung hay tài sản riêng của
vợ chồng, có thuộc khối tài sản của hộ gia đình không? Có liên quan tới bên thứ ba
không? Từ đó làm căn cứ cho việc giải quyết vụ án một c ch kh ch quan, đúng
pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp ph p cho c c đương sự.

1.2 C ngu n t giải quyết tranh chấp về chia tài sản là quyền
sử dụng đất khi vợ chồng ly hôn
Nguyên t c chung khi giải quyết tranh chấp về QSDĐ khi vợ chồng ly hôn là
những tư tưởng xuyên suốt, mang tính chỉ đạo trong quá giải quyết tranh chấp về
QSDĐ khi vợ chồng ly hôn.
Xuất phát từ những quy định của Luật HN&GĐ 2014 có thể rút ra một
nguyên t c chung nhất khi chia tài sản của vợ chồng, đó là: Việc chia tài sản của vợ
chồng chỉ đặt ra đối với những tài sản nào là tài sản chung, nếu không phải là tài sản
chung thì không chia. Mặc dù, Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định nguyên t c
này, nhưng phải khẳng định rằng, đây là nguyên t c xuất phát từ nội dung của Luật

vướng m c, mâu thuẫn cả về mặt tình cảm và tài sản. Trong quá trình hòa giải, Tòa
án sẽ hướng dẫn, giải thích, giúp đỡ để c c đương sự tự giàn xếp, thỏa thuận dưới
sự giám sát và công nhận của Tòa án. Nếu tòa án tiến hành hòa giải thành thì việc
giải quyết tranh chấp sẽ có nhiều thuận lợi, vừa đảm bảo đúng ph p luật, đoàn kết
trong quần chúng, tr nh được những mâu thuẫn, bất đồng khi ly hôn, vừa giúp cho
đương sự tiết kiệm thời gian, chi phí và công sức, bởi sự thỏa thuận là kết quả của
sự phù hợp ý chí, nguyện vọng của c c bên đương sự. Trường hợp vợ chồng không
thỏa thuận được với nhau, thì Tòa án sẽ tiến hành phân chia tài sản theo quy định
pháp luật.
Khi vợ chồng ly hôn, tài sản riêng của bên nào vẫn thuộc quyền sở hữu của
bên đó. Nếu có tranh chấp thì người có tài sản riêng phải chứng minh đó là tài sản
riêng của mình. Việc chứng minh có thể bằng sự công nhận của bên kia hoặc bằng
các giấy tờ xác nhận quyền sở hữu riêng của mình (di chúc, hợp đồng tặng cho…).
Trong trường hợp không có chứng cứ chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có
tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó là tài sản chung (theo khoản 3,
Điều 33 Luật HN&GĐ 2014).
Thứ hai, tài sản chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi
Trong trường hợp c c đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc chia
tài sản chung khi ly hôn và yêu cầu Tòa án giải quyết thì Tòa án tiến hành phân chia
tài sản theo các nguyên t c tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status