VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TRƯỞNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP
KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
HÀ NỘI, 2018
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN VĂN TRƯỞNG
THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ DOANH NGHIỆP
KHỞI NGHIỆP SÁNG TẠO TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Ngành: Chính sách công
Mã số: 8.34.04.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM ANH TUẤN
HÀ NỘI, 2018
mạng 4.0 đem lại cho Việt Nam là một nhiệm vụ rất cần thiết, có ý nghĩa cả về
lý luận và thực tiễn.
Sau hơn 10 năm gia nhập WTO, hiện nay Việt Nam đang tham gia một
loạt các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới, đánh dấu sự hội nhập
sâu hơn, rộng hơn vào nền kinh tế thế giới. Những FTA này đang đặt Việt Nam
trong một sân chơi kinh tế mới với những thay đổi chiến lược nhằm nâng cao
hợp tác kinh tế, tháo gỡ những khó khăn, rào cản trước đây từng cản trở sự phát
triển của các doanh nghiệp, sự giao thương giữa các quốc gia. Quá trình hội
nhập vào các FTA đem lại rất nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt Nam,
đặc biệt là các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo có những sản phẩm mới,
những ý tưởng mới muốn phát triển rộng rãi trên thị trường thế giới. Hòa vào
sân chơi chung đã mang lại nhiều cơ hội, nhưng nó cũng đem đến không ít các
thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam đặc biệt là các doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo, rất cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước. Cả nước đang lỗ lực phấn
đấu đạt mốc 1 triệu doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo vào năm 2020 đây là
điều không hề dễ dàng đòi hỏi sự quyết tâm mạnh mẽ của cả nhà nước, doanh
nghiệp và người dân. Một trong những vấn đề cấp thiết để giúp các doanh
nghiệp khởi nghiệp sáng tạo phát triển nhanh và mạnh trong bối cảnh hội nhập
hiện nay là xây dựng, hoàn thiện và thực hiện tốt chính sách hỗ trợ doanh nghiệp
khởi nghiệp sáng tạo. Việc thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo cần phải có cơ sở khoa học, phương pháp luận khoa học và căn
cứ vào tình hình thực tế.
Xuất phát từ việc phân tích lý luận và thực tiễn nêu trên, đề tài “Thực
hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo tại Việt Nam hiện
nay: thực trạng và giải pháp” đã được tác giả lựa chọn và tiến hành nghiên
cứu
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
2
bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và làn sóng cách mạng 4.0 đang diễn ra mạnh
mẽ.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là việc thực hiện chính sách hỗ trợ
DNKNST tại Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn giới hạn ở việc nghiên cứu việc thực hiện
chính sách hỗ trợ DNKNST tại Việt Nam hiện nay, cụ thể là từ những năm
2010, nhất là từ năm 2016 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử thông qua các
công cụ phân tích, tổng hợp, so sánh từ các nguồn số liệu thống kê thu thập
được.
Để thực hiện đề tài, tác giả thu thập các dữ liệu thứ cấp từ năm 2010 đến
năm 2017 thông qua các bài báo, sách nghiên cứu chuyên khảo, các công trình
nghiên cứu trong và ngoài nước và các báo cáo liên quan đến chính sách hỗ trợ
doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn góp phần hoàn thiện cơ sở lý luận về doanh nghiệp khởi nghiệp
sáng tạo, đồng thời luận văn góp phần phân tích đánh giá thực trạng của chính
sách hỗ trợ DNKNST hiện nay của Việt Nam. Luận văn giúp đưa ra những giải
pháp nhằm hỗ trợ, phát triển DNKNST. Luận văn góp phần thiết thực trong
việc thực hiện chính sách hỗ trợ DNKNST trong tình hình mới.
5
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo luận văn được trình bày
trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và
các thị trường khác nhau; và thường tận dụng công nghệ làm lợi thế cạnh tranh.
Tại Việt Nam, theo Luật Doanh Nghiệp Vừa và Nhỏ 2017, KNST
(startup) là quá trình khởi nghiệp dựa trên việc tạo ra hoặc ứng dụng kết quả
nghiên cứu, giải pháp kỹ thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng
7
suất, chất lượng, giá trị gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng
trưởng nhanh.[3]
Theo Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam, DNKNST là một cộng đồng đặc biệt,
“tính chất tạo ra những sản phẩm mới, phân khúc khách hàng mới bằng những
công nghệ mới và ý tưởng mới chưa từng có, cách tiếp cận thị trường mới,
thường là liên quan đến công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và vì qua
mạng nên không có tính biên giới”.[4]
Chủ tịch HĐQT của FPT - ông Trương Gia Bình cho rằng: “nói đến
startup phải nói đến đỉnh cao của khoa học công nghệ, nói đến điều thế giới
chưa từng làm” và không tính đến các doanh nghiệp mở quán cà phê hay quán
phở. DNKNST là quá trình khởi nghiệp dựa trên các giải pháp kỹ thuật, công
nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng của
sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh.[5]
Một cách hiểu tương tự, bà Trương Lý Hoàng Phi- Giám đốc điều hành
Trung tâm Hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp TPHCM cho rằng DNKNST phải bảo
đảm được hai yếu tố là “start” và “up”. “Start” có nghĩa là bạn bắt đầu với một
ý tưởng mới, hoặc nếu ý tưởng đó không mới thì cách làm phải đột phá và
thường thì gắn với ứng dụng công nghệ. Còn “up” liên quan đến khả năng
thương mại hóa và quy mô của thị trường, nghĩa là ý tưởng đó phải có khả năng
được triển khai trong thực tế, có khách hàng hoặc khách hàng tiềm năng, đồng
thời phải có khả năng mở rộng được để “up” trong thời gian càng nhanh càng
tốt.[6]
1.1.2.1. Đột phá và sáng tạo
Đột phá và sáng tạo là một xu hướng tất yếu trong hoạt động kinh doanh
trong thời đại 4.0. Giá trị của trí tuệ, sáng tạo và vô cùng to lớn, góp phần tạo
sự đột phá và quyết định khả năng cạnh tranh của DNKNST trong điều kiện
tiền vốn, máy móc hay cơ bắp là hữu hạn.
9
Tăng trưởng cao dựa vào sáng tạo và tiềm năng của DNKNST, với những
ý tưởng kinh doanh mang tính đột phá và sáng tạo. Dựa vào những ý tưởng
kinh doanh mang tính đột phá và sáng tạo dựa trên những giả thuyết không chắc
chắn, nhưng đã rõ nhu cầu của thị trường và nếu việc hoạt động như dự định,
sản phẩm hoặc dịch vụ có thể thu hút nhiều khách hàng tiềm năng đem lại một
lực đẩy mạnh mẽ cho DNKNST.
Đối với DNKNST, tính đột phá là điều bắt buộc. DNKNST có thể tạo ra
một điều gì đấy chưa hề có trên thị trường hoặc tạo ra một giá trị tốt hơn so với
những thứ đang có sẵn. Ví dụ, DNKNST có thể tạo ra một phân khúc mới trong
sản xuất (như thiết bị thông minh đo lường sức khoẻ cá nhân), một mô hình
kinh doanh hoàn toàn mới (như AirBnb), hoặc một loại công nghệ độc đáo,
chưa hề thấy (như công nghệ in 3D).
Công nghệ thường là đặc tính tiêu biểu của sản phẩm từ một DNKNST.
Đây là yếu tố quyết định, là mục tiêu kiên quyết theo đuổi của các DNKNST.
Dù vậy, ngay cả khi sản phẩm không dựa nhiều vào công nghệ, thì DNKNST
cũng cần áp dụng công nghệ để đạt được mục tiêu kinh doanh cũng như tham
vọng tăng trưởng.
1.1.2.2. Tiềm năng tăng trưởng và lợi nhuận lớn
Khác với doanh nghiệp truyền thống đề cao việc tạo ra lợi nhuận và một
khi đạt được lợi nhuận mới nghĩ đến việc mở rộng doanh nghiệp. DNKNST sẽ
đam mê tăng trưởng công ty càng nhanh càng tốt, và tạo ra một mô hình kinh
doanh có tính tăng trưởng. DNKNST sẽ muốn nhân bản mô hình kinh doanh
bản thân người sáng lập muốn kiếm được (cho chính bản thân họ), cũng như sẽ
phụ thuộc vào kế hoạch mở rộng doanh nghiệp. Còn đối với các DNKNST có
thể cần đến nhiều tháng, thậm chí nhiều năm để có được doanh thu (dù rất nhỏ).
DNKNST sẽ tập trung vào phát triển một sản phẩm thật sự hữu ích cho người
11
dùng, nhằm có được một lượng khách hàng đông đảo. Nếu kế hoạch thành
công, lợi nhuận tài chính có thể rất khổng lồ.
1.1.2.3. Khởi đầu khó khăn và rủi ro cao
So với doanh nghiệp truyền thống DNKNST có nhiều rủi ro hơn và cũng
có nhiều lợi thế hơn. DNKNST thường làm việc theo nhóm để xây dựng doanh
nghiệp dựa trên công nghệ, quy trình, quy mô kinh doanh, hoặc ý tưởng mới
tạo ra cho họ một lợi thế cạnh tranh đáng kể so với các doanh nghiệp truyền
thống.
Vốn của DNKNST bắt đầu từ chính tiền túi của người sáng lập, hoặc
đóng góp từ gia đình và bạn bè, một số trường hợp thì gọi vốn từ cộng đồng
(crowdfunding). Tuy nhiên, phần lớn các DNKNST đều phải gọn vốn từ các
Nhà đầu tư thiên thần (angel investors) và Quỹ đầu tư mạo hiểm (Venture
Capital).
Đối với các doanh nghiệp nhỏ 32% sẽ thất bại trong ba năm đầu. Tuy
nhiên, tỉ lệ này vẫn còn nhiều tích cực so với DNKNST. Đối với các DNKNST
thì 92% các doanh nghiệp này sẽ chết trong ba năm đầu. Trong khi có gần 10%
công ty khởi nghiệp thành công, khoảng 20 - 30% sớm thất bại thì số còn lại là các công ty xác sống chỉ tạo ra doanh thu vừa đủ bù cho chi phí hoạt động,
số tiền này giảm dần, công ty tiếp tục sống ì ạch trong một khoảng thời gian
dài và gần như không thể duy trì được sản phẩm.[7]
DNKNST có ý tưởng khởi nghiệp độc đáo hoặc khác biệt/tốt hơn so với
các giải pháp cạnh tranh trên thị trường. Điều này làm cho việc thực hiện (làm
cho khách hàng thích sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn hơn là sản phẩm hoặc
dịch vụ của đối thủ cạnh tranh) không chắc chắn và đương nhiên là khá rủi ro.
triển.
DNKNST khi thành công sẽ phát triển nhanh chóng trở thành các doanh
nghiệp lớn đem lại nguồn lợi nhuận khổng lồ. Với những doanh nghiệp thành
13
công, quy mô của doanh nghiệp sẽ được mở rộng rất nhiều các DNKNST thành
công này sẽ dần trở thành các DN lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia đóng góp
vào tăng trưởng của nền kinh tế.
Theo Mark Weinberger, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc điều hành EY
toàn cầu cho biết: “Nền kinh tế toàn cầu đang trong quá trình dần phục hồi với
một tốc độ tăng trưởng tuy còn thấp. Có một cơ hội đẩy mạnh tăng trưởng thường
bị bỏ qua, đó là tăng cường hỗ trợ và thúc đẩy các DNKNST. DNKNST đang tiếp
tục thách thức xu hướng của thế giới trong khả năng kinh tế của họ và có kế hoạch
mở rộng và gia tăng nhân lực. Chính phủ các nước và các doanh nghiệp cần bắt
tay với các DNKNST để cùng tạo dựng được một môi trường tương tác hướng
đến thành công”.[8] Các DNKNST có niềm tin và thái độ rất tích cực đối với nền
kinh tế và khuynh hướng phát triển của nền kinh tế. Như vậy, DNKNST đang là
xu hướng phát triển kinh tế của thế giới, đồng thời DNKNST cũng là hạt nhân để
phục hồi, phát triển kinh tế thế giới vốn được đánh giá là phát triển chậm và già
cỗi trong thời đại 4.0.
1.1.3.2. Giải quyết lượng lớn việc làm
Đặc điểm chung của các DNKNST là sử dụng ít lao động, tuy nhiên với
số lượng DNKN lớn sẽ giải quyết được số lượng lớn lao động đặc biệt là nguồn
lao động trẻ có trình độ. Khởi nghiệp hoặc làm việc trong các công ty khởi nghiệp
ngay khi còn trên ghế nhà trường sẽ giúp sinh viên có kinh nghiệm về khởi
nghiệp để sau khi ra trường mỗi sinh viên là một DNKNST. Điển hình như đất
nước Isreal 95% sinh viên trước khi ra trường đều thực hiện tối thiểu đều mở cho
mình hoặc tham gia một tổ chức doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo. Tại Israel,
99% số sinh viên khởi nghiệp thất bại ngay từ trên ghế nhà trường. Như vậy mỗi
triển của doanh nghiệp, trong quá trình tìm kiếm lợi nhuận, doanh nghiệp đã
làm giàu cho chính bản thân doanh nghiệp, mọi thành viên tham gia và cả cho
15
quốc gia qua đóng góp thuế.[10] Từ đó đến nay, các nhà quản lý và các nhà
kinh tế đều thừa nhận và nghiên cứu vai trò của doanh nghiệp. Với việc đẩy
mạnh khởi nghiệp tại các quốc gia thì vai trò của khu vực này thật sự lớn lao
đối với mỗi quốc gia đặc biệt là đối với các nền kinh tế mới nổi và đang phát
triển – những quốc gia có lượng vốn trong dân cực lớn.
1.1.3.4. Góp phần làm năng động nền kinh tế trong cơ chế thị trường
Tính linh hoạt của của các DNKNST đã tạo ra tính năng động của nền
kinh tế. Việc chuyển đổi nhanh chóng nhằm lấp các khoảng trống của thị trường
đã nói lên vai trò ổn định kinh tế của các DNKNST. Các DNKNST đem lại cho
nền kinh tế một hình ảnh mới về sự phát triển năng động, trở thành động lực
mới của nền kinh tế.
Sự ra đời của DNKNST đã làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế, làm
giảm sự độc quyền buộc các doanh nghiệp phải đổi mới công nghệ tăng tính
cạnh tranh. Các doanh nghiệp phải liên tục đổi mới để tồn tại và phát triển. Với
sự linh hoạt của mình, các DNKNST sẽ tạo ra sức hút cạnh tranh, thậm chí cạnh
tranh với các công ty lớn, các tập đoàn xuyên quốc gia. Đồng thời DNKNST
còn đóng vai trò thúc đẩy quá trình chuyên môn hóa, phân công lao động trong
sản xuất.
Với sự linh hoạt của mình, các DNKNST là người đi tiên phong trong
việc áp dụng công nghệ và các phát minh mới cũng như các sáng kiến về kĩ
thuật. Do áp lực của cạnh tranh nên các DNKNST phải nghiên cứu cải tiến công
nghệ và đưa ra công nghệ mới với sự khác biệt để có thể cạnh tranh thành công.
Đây là những tiền đề đầu tiên làm thay đổi về công nghệ tạo ra nhiều đổi mới
trong nền kinh tế.
DNKNST giúp trẻ hóa nền kinh tế già cỗi, bị chi phối bởi các tập đoàn
17
ra những cơ hội thực tập và học việc nhiều gấp 2 lần các doanh nhân lập nghiệp
khác trên toàn thế giới.[11]
Hiện nay, có rất nhiều bạn trẻ đang có ý định khởi nghiệp, họ có kế hoạch
khởi nghiệp và điều hành nghiệp kinh doanh riêng vào một thời điểm nào đó
phù hợp trong sự nghiệp của mình. Đáng chú ý, các bạn trẻ có muốn khởi
nghiệp đánh giá rất cao sự hướng dẫn và hỗ trợ của các doanh nhân, các
DNKNST đã thành công. Các bạn trẻ cho rằng một cơ hội thực tập thực tế có
sự hướng dẫn của các doanh nhân hàng đầu sẽ giúp những bạn trẻ thực hiện và
đạt được mục tiêu. Điều này cho thấy sự ảnh hưởng cả về tinh thần khởi nghiệp
và vai trò hỗ trợ của các DNKNST đối với các bạn trẻ là rất lớn.
Nhiều doanh nghiệp lớn đều xuất phát từ những doanh nghiệp khởi
nghiệp có quy mô cực nhỏ. Tuy nhiên, có hàng ngàn doanh nghiệp nhỏ ra đời
thì chỉ có ít doanh nghiệp phát triển thành những doanh nghiệp cực lớn như
Microsoft hay Google, Facebook, Apple. Chỉ những điều đó thôi cũng giúp cho
phong trào khởi nghiệp phát triển, và có thể nói DNKNST là nơi khởi phát tinh
thần doanh nghiệp, nơi đào tạo và cho ra đời những doanh nghiệp và doanh
nhân đem lại sự thay đổi sâu sắc đối với nền kinh tế. Nhiều nhà nghiên cứu cho
rằng vì hiệu quả theo quy mô không tồn tại, nên các DNKNST không phải là
động lực của nền kinh tế, nhưng nếu các DNKN là nơi để nhà doanh nghiệp
nhỏ làm quen với môi trường kinh doanh, dám nghĩ lớn và chịu nghiên cứu học
hỏi thì DNKNST sẽ trở thành cái nôi để ươm mầm cho các doanh nghiệp lớn
và tạo ra những doanh nhân thành đạt. Sự đóng góp đó của các DNKNST là
điều không thể phủ nhận.
18
Tiếp đó, cũng do tính mới, tính sáng tạo nên DNKNST thường đối mặt với
những rủi ro tiềm ẩn, cần có sự hỗ trợ để vượt qua những rủi ro này.
DNKNST không thể đi một mình. Phát triển một hệ sinh thái khởi nghiệp
đổi mới sáng tạo cần ba trụ cột chính. Thứ nhất là nâng cao năng lực, nhận thức,
đặc biệt từ phía các địa phương và các trường đại học. Thứ hai, cần nâng cao
truyền thông để tạo ra văn hóa khởi nghiệp hỗ trợ khởi nghiệp, có nghĩa dám chịu,
dám làm, dám dứng lên và bắt đầu lại sau thất bại. Thứ ba là DNKNST không nên
một mình và phải liên kết. Trong hệ sinh thái thì Viện nghiên cứu, Trường đại học
và tổ chức cá nhân, doanh nhân là như nhau. Vì vậy, cần học hỏi lẫn nhau về các
bước đi phù hợp...
Ngoài ra, bên cạnh con người, các DNKNST cần có nguồn lực về tài
chính, dù ít hay nhiều vẫn nên có “bà đỡ” ban đầu từ phía chính sách của địa
phương để kích thích khu vực tư nhân tham gia với nhà nước hỗ trợ cho khởi
nghiệp.
1.2.2. Mục đích và yêu cầu của việc thực hiện chính sách hỗ trợ doanh
nghiệp khởi nghiệp sáng tạo
Không phải mọi DNKNST đều được hỗ trợ. Đồng thời, hỗ trợ không có
nghĩa Nhà nước đem cho doanh nghiệp bao nhiêu tiền, mà là tạo cơ hội, tạo
thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, hỗ trợ một phần chi phí khi
thực hiện hoạt động cụ thể nào đó. Mức độ hỗ trợ cũng khác nhau, trong đó,
doanh nghiệp đổi mới sáng tạo và doanh nghiệp tham gia cụm liên kết ngành,
chuỗi giá trị được hỗ trợ nhiều nhất. Khi khởi nghiệp, với nguồn vốn hạn chế,
khả năng kết nối đối tác chưa tốt, trong khi có rất nhiều thứ cần phải đầu tư nên
việc tận dụng các hỗ trợ từ chính sách sẽ giúp công ty thuận lợi hơn trong những
ngày đầu hoạt động.
Các chính phủ đang có xu hướng khuyến khích các doanh nghiệp trong
nước đẩy mạnh sáng tạo, tiếp cận với thế giới công nghệ, vươn mình đuổi theo
công cuộc cách mạng công nghệ 4.0 hiện nay. Với hỗ trợ từ phía chính phủ và
20
chi phí và chuyển dòng vốn sang phục vụ cho công tác đầu tư, đồng thời giảm chi
phí trả lãi tiền vay, từ đó giảm giá thành, chi phí sản xuất kinh doanh, góp phần
nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư.
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng thì những
thay đổi của thế giới (bao gồm cả thay đổi chính sách của nhà nước và các tổ
chức kinh tế thế giới, các tổ chức khu vực) có thể ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu
cực tới quá trình thực hiện chính sách hỗ trợ DNKNST thông qua ảnh hưởng
của chúng đến môi trường các nước, đặc biệt đối với những DNKNST sự thay
đổi chính sách của các nhà đầu tư, các quỹ đầu tư thiên thần trực tiếp ảnh hưởng
đến việc thực hiện chính sách. Tuy nhiên, tùy thuộc vào từng thời điểm cụ thể
mà mức độ ảnh hưởng của môi trường kinh tế quốc tế đến chính sách hỗ trợ
DNKNST khác nhau.
Việc thực hiện tốt được chính sách hỗ trợ DNKNST hay không phụ thuộc
rất lớn vào yếu tố môi trường kinh tế của Nhà nước và môi trường kinh tế quốc
tế.
1.2.3.3. Yếu tố môi trường xã hội
Phong trào khởi nghiệp ngày càng sôi nổi và bắt đầu phát triển hệ sinh thái
khởi nghiệp. Đây là điểm thuận lợi cho chính sách hỗ trợ DNKNST nhanh chóng
đi vào đời sống, tạo làn sóng khởi nghiệp mạnh mẽ. Nếu phong trào này thành
công, doanh nghiệp khởi nghiệp chính là những đối tượng tạo ra nhiều việc làm,
mang lại giá trị gia tăng vượt bậc cho nền kinh tế của mỗi quốc gia.
1.2.3.4. Yếu tố môi trường công nghệ
Khởi nghiệp sáng tạo, là quá trình khởi nghiệp dựa trên các giải pháp kỹ
thuật, công nghệ, giải pháp quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị
gia tăng của sản phẩm, hàng hóa và có khả năng tăng trưởng nhanh. Yếu tố cơ
sở hạ tầng công nghệ là nền tảng để các DNKNST thành công.
Các vườn ươm doanh nghiệp công nghệ cao là môi trường để thực hiện
chính sách hỗ trợ DNKNST. Trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0
23