VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN
KHOA
HỌC
XÃ HỘI
VIỆN
HÀN
LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ MINH
HOÀNG
NGUYỄN
THỊ
KIM NGA
DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG GIẢI QUYẾT
VIỆC LÀM CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC
TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Ngành : Công tác xã hội
Mã số
: 876 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan
1.3. Lý luận về dịch vụ công tác xã hội trong giải quyết việc làm với người
khuyết tật vận động. ............................................................................................ 211
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG HỖ TRỢ
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI
QUẬN HAI BÀ TRƢNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ............................................ 322
2.1. Đặc điểm địa bàn nghiên cứu ....................................................................... 322
2.2.Thực trạng việc làm người khuyết tật vận động tại quận Hai Bà Trưng....... 333
2.3. Nhu cầu việc làm người khuyết tật vận động tại quận Hai Bà Trưng ............ 39
2.4. Thực trạng dịch vụ công tác xã hội và các yếu tố ảnh hưởng trong việc hỗ trợ
giải quyết việc làm cho người khuyết tật vận động tại quận Hai Bà Trưng. ...... 444
Chƣơng 3. ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ
CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM ĐỐI VỚI NGƢỜI
KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC TIỄN QUẬN HAI BÀ TRƢNG, TP
HÀ NỘI .................................................................................................................... 65
3.1. Các giải pháp về cơ chế quản lý và ban hành, thực thi chính sách hỗ trợ giải
quyết việc làm cho người khuyết tật vận động...................................................... 65
3.2. Các giải pháp về nâng cao nghiệp vụ chuyên môn cho đội ngũ nhân viên
công tác xã hội làm việc trong các trung tâm cung ứng các dịch vụ công tác xã
hội giải quyết việc làm cho người khuyết tật vận động ........................................ 67
3.3. Các giải pháp truyền thông nâng cao nhận thức của cộng đồng .................... 69
3.4. Củng cố và phát triển các mô hình dịch vụ công tác xã hội đối với người
khuyết tật vận động ............................................................................................. 710
3.5. Các giải pháp về đầu tư cơ sở vật chất hạ tầng cho người khuyết
tật vận động..............................................................................................................721
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 74
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.............................................................. 76
PHỤ LỤC ............................................................................................................... 793
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bảng
Nội dung
Trang
biểu
Bảng 1
Biểu đồ
2.1
Bảng
2.2
Biểu đồ
2.3
Bảng
2.4
Biểu đồ
2.5
Biểu đồ
2.6
Biểu đồ
2.7
Biểu đồ
2.8
Mô hình DVCTXH trong tương lai – BLĐTBXH đề xuất
30
Tỷ lệ NKT VĐ có việc làm
HBT
Tương quan giữa nhu cầu dịch vụ hỗ trợ giải quyết việc
làm và số NKT VĐ quận HBT được tiếp cận
53
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong đề án 32 về phát triển nghề CTXH tại Việt Nam giai đoạn 2010 –
2020, Chính phủ đ nhấn mạnh cần phải chú trọng phát triển các Trung tâm cung
cấp dịch vụ Công tác x hội tại các địa phương .Các trung tâm này có nhiệm vụ
cung cấp các họat động CTXH chuyên nghiệp nhằm giúp đỡ các cá nhân, nhóm,
cộng đồng yếu thế như người nghèo, trẻ em mồ côi, người khuyết tật … Hiện nay,
các dịch vụ CTXH đ dần dần được hình thành và phát triển cùng với sự ra đời của
các mô hình trung tâm dịch vụ CTXH.
Theo kết quả điều tra của UNFPA trong “ Người Khuyết tật tại Việt Nam :
Một số kết quả chủ yếu từ Tổng điều tra Dân số và Nhà ở Việt Nam 2016” thì trong
số 78,5 triệu người Việt Nam từ 5 tuổi trở lên có 7 triệu người , tương ứng với 7,8%
dân số từ 5 tuổi trở lên là người khuyết tật, trong đó số lượng NKT vận động vào
khoảng 2,9 triệu người, đó là một con số không hề nhỏ [2]. Cộng đồng NKT VĐ
gặp rất nhiều khó khăn trong cuộc sống, ngoài những khó khăn do thể chất thì họ
còn gặp nhiều vấn đề về tâm lý hay những rào cản từ sự kì thị và phân biệt đối xử.
Theo số liệu thống kê thì trên toàn quốc, trong số NKT VĐ có khả năng lao động
chỉ có 62% tỷ lệ NKT VĐ tham gia lực lượng lao động và việc làm nhưng chủ yếu
là trong lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
NKT ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn trở ngại trong cuộc sống hàng ngày.
Một trong những khó khăn trong đời sống của họ chính là vấn đề việc làm. Cụ thể
hơn là những nhu cầu việc làm của họ, nhu cầu về các dịch vụ nhằm hỗ trợ, hay
giúp họ tiếp cận với những công việc phù hợp. Chúng ta có thể thấy rằng, cho dù là
động đó có phần nào mang màu sắc của công tác x hội.
Có thể nói với những hoạt động hiện nay của hội NKT cũng phần nào đáp
ứng và giải quyết một vài nhu cầu việc làm cho NKT. Tuy nhiên có thể nhận thấy
rằng phần đông NKT trong Hội , đặc biệt là những NKT VĐ hầu như chưa có việc
làm và chưa nhận được sự hỗ trợ của các loại hình dịch vụ nào để giải quyết các
nhu cầu việc làm . NKT VĐ mặc dù họ bị suy giảm chức năng các bộ phận trên cơ
thể nhưng họ vẫn có thể làm được các công việc đặc thù cho họ nếu bản thân họ
được giúp đỡ và được hỗ trợ từ các dịch vụ công tác x hội. Mặt khác, như đ nêu ở
phần trên, họ cũng đang rất cần và mong muốn được tiếp cận với các dịch vụ hỗ trợ
2
đó để giải quyết nhu cầu việc làm cho bản thân mình. Chính vì vậy việc tìm hiểu về
các dịch vụ CTXH trong việc giúp NKT VĐ có được việc làm đáp ứng được những
nhu cầu của họ là rất cấp thiết.
Với thực trạng hiện nay, vậy câu hỏi đặt ra rằng thực chất các dịch vụ công tác
xã hội trong vấn đề việc làm đ đến với NKT VĐ hay chưa? Hiệu quả các dịch vụ
đó với NKT VĐ đ thực sự làm họ hài lòng không? Xuất phát từ những lý do trên
người nghiên cứu quyết định nghiên cứu để tìm hiểu về " Dịch vụ Công tác xã hội
xã hội trong giải quyết việc làm cho người khuyết tật vận động từ thực tiễn Quận
Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội “ nhằm đưa ra một cái nhìn khái quát nhất về
vấn đề này, để từ đó có những căn cứ đúng đắn nhằm xây dựng những giải pháp và
đề xuất phù hợp.
2.Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Trong cuộc sống, con người luôn là trung tâm đóng vai trò hết sức quan
trọng, là nhân tố quyết định trong mọi hoạt động thông qua mối quan hệ giữa
con người với con người, con người và x hội. Các mối quan hệ đó biểu hiện ở
nguyên tắc bình đẳng bất kể con người khác nhau về trí lực, thể lực và các đặc
điểm khác đều có giá trị và tầm quan trọng ngang nhau. Điều này có nghĩa là tất
còn rất thấp. Nhiều người cho rằng NKT vận động cùng với các dạng thức khuyết
tật khác nhau không có cơ hội làm việc như những người “ bình thường “ khác....
Đối với NKT đ từng đi làm thì cũng không được gắn bó lâu dài vì NKT gặp rất
nhiều khó khăn , gồm khó khăn trong việc đi lại, cơ sở hạ tầng, môi trường làm việc
chưa đáp ứng được những khó khăn mà họ gặp phải, bị kì thì của những người
khác…..Mặc dù vậy thì cả hai nghiên cứu trên chưa đề cập nhiều đến những khó
khăn cụ thể mà NKT gặp phải khi họ tìm kiếm việc làm, và khi họ đ đi làm, hơn
nữa là khía cạnh của NKT vận động thì chưa có nhiều các luận điểm đề cập tới.
Nhà nước ta đ ban hành rất nhiều nghị định, thông tư, luật liên quan đến
dạy nghề và tạo việc làm cho người lao động là NKT, đồng thời có rất nhiều nghiên
cứu về vấn đề này. Báo cáo kết quả thực hiện “ Pháp lệnh về người tàn tật và đề án
trợ giúp Người khuyết tật giai đoạn 2006 – 2010” của Bộ LĐTBXH [5]. Báo cáo
cũng nêu rõ các kết quả thực hiện công tác chăm sóc NKT trên các lĩnh vực như: trợ
cấp hàng tháng đối với NKT, hộ gia đình nuôi dưỡng NKT, NKT có việc làm, số
NKT được tiếp cận các công trình giao thông công cộng. Từ đó đề ra những giải
pháp công tác thực hiện Pháp lệnh Người tàn tật được tốt hơn .
Ngoài những khía cạnh trên cũng có rất nhiều các tài liệu, tạp chí các công
trình nghiên cứu liên quan đến việc đáp ứng nhu cầu việc làm của NKT. Điển hình
là nghiên cứu của Bộ lao động thương binh x hội năm 2011 với đề tài: “ Vai trò
của tổ chức người tàn tật trong việc xây dựng các chính sách, chương trình quốc
gia về về dạy nghề và việc làm cho người khuyết tật của bộ thương binh lao động và
5
xã hội” [6- tr75]. Nghiên cứu này cũng nói đến việc xây dựng và thực hiện các
chính sách cho người khuyết tật để họ được đáp ứng nhu cầu việc làm của mình, Họ
được tư vấn hỗ trợ dạy nghề, qua đây NKT biết được những nơi có thể nhận mình
vào làm việc, để có thể có một công việc phù hợp với bản thân.
Dịch vụ công tác x hội còn là khái niệm khá mới mẻ tại Việt Nam, tuy
người NKT VĐ và NKT nói chung có nhu cầu về việc làm đặc thù, nhưng mức độ đáp
ứng các nhu cầu đó còn rất hạn chế. Hơn nữa hầu như không có nghiên cứu nào nhắc
đến các DVCTXH nhằm giải quyết nhu cầu việc làm của người khuyết tật hay đánh giá
mức độ đáp ứng của các dịch vụ công tác x hội đó. Hầu hết là các nghiên cứu chỉ nêu
lên sự cần thiết của việc giúp NKT có thể tìm được một công việc mới để đáp ứng nhu
cầu bản thân, nhưng chưa nói lên được những nhu cầu riêng của họ và xây dựng mô
hình DVCTXH phù hợp để đáp ứng những nhu cầu đó.
Lĩnh vực nghiên cứu CTXH với NKT nói chung và NKT VĐ nói riêng còn
tương đối mới mẻ. Nên luận văn xin được nêu ra thực trạng việc làm của người
khuyết tật vận động Quận Hai Bà Trưng – TP Hà Nội, tìm hiểu những nhu cầu của
họ về việc làm và từ đó nghiên cứu về thực trạng các DVCTXH hiện nay trong việc
giải quyết các nhu cầu việc làm đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Tìm hiểu thực trạng DVCTXH trong giải quyết việc làm của NKT VĐ tại
quận Hai Bà Trưng. Căn cứ vào đó để đề ra một số giải pháp nâng cao hiệu quả chất
lượng DVCTXH trong giải quyết việc làm cho NKT VĐ từ thực tiễn quận Hai Bà
Trưng, thành phố Hà nội.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về thực trạng việc làm và nhu cầu việc làm của NKT VĐ tại quận
Hai Bà Trưng.
- Tìm hiểu thực trạng các hoạt động cung cấp DVCTXH trong việc giải quyết
việc làm cho NKT VĐ ở quận Hai Bà Trưng
- Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc cung cấp DVCTXH
trong việc giải quyết việc làm cho NKT VĐ ở quận Hai Bà Trưng.
7
4. Đối tƣợng, khách thể và phạm vi nghiên cứu
trong các dịch vụ CTXH.
5. Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp phân tích tài liệu
8
Tài liệu là những hiện vật do con người tạo nên nhằm mục đích nào đó
nhưng có tính chất truyền tin hoặc bảo lưu thông tin. Tài liệu trong điều tra x hội
học là vật chứa đựng thông tin bằng ngôn ngữ, chữ viết hiện vật. Phương pháp phân
tích tài liệu là phương pháp thu thập thông tin thứ cấp của những tài liệu có sẵn.
Phân tích tài liệu là xem xét các tài liệu có sẵn trong kho thông tin lưu trữ và các
nguồn khác để nghiên cứu về đề tài cần thiết, không phải làm các cuộc phỏng vấn
đề điều tra.
Điều cốt lõi trong phương pháp này là cần sưu tầm được đúng và đầy đủ các
tài liệu cần thiết cho nội dung nghiên cứu. Trước đây, công việc này rất khó khăn và
mất rất nhiều thời gian nhưng hiện nay với sự trợ giúp đắc lực của mạng internet,
thư viện trường và thư viện khoa X Hội Học lượng tài liệu được tìm kiếm cần thiết
đ tìm kiếm khá dễ dàng. Nhưng điểm khó khăn mới là phải chọn lọc từ nhiều
nguồn tư liệu khác nhau và đặc biệt là từ những nguồn tư liệu không chính thống.
Đây là phương pháp được dùng rất phổ biến vì không tốn nhiều chi phí và công sức
điều tra thực tế mà vẫn có được lượng thông tin cần thiết cho nghiên cứu.
Với nghiên cứu của mình, tác giả chủ yếu sử dụng phương pháp phân tích
định tính: để tìm ra những nội dung tư tưởng cơ bản của tài liệu, tìm ra những vấn
đề có liên quan đến đề tài nghiên cứu và xác định xem những vấn đề gì được giải
quyết và những vấn đề gì chưa được giải quyết. Thu thập các đầu sách, xử lý số liệu
và kết quả sẵn có ở các nghiên cứu trước về các vấn đề của NKT VĐ gặp phải hiện
nay đó là vấn đề việc làm, giáo dục, phục hồi chức năng và chăm sóc sức khỏe của
người khuyết tật nhằm phục vụ cho đề tài nghiên cứu, tham khảo vận dụng số liệu
của một số báo cáo thống kê, báo cáo tổng kết, khảo sát của cơ quan nhà nước về
cơ, quan điểm, chính kiến của các đối tượng được phỏng vấn đối với các vấn đề liên
quan. Phỏng vấn được sử dụng trong luận văn này cho các đội tượng sau:
-
03 Cán bộ UBND quận Hai Bà Trưng và cán bộ hội NKT quận Hai Bà
Trưng
-
03 Cán bộ cung cấp các dịch vụ hỗ trợ NKT
-
05 Người khuyết tật ( Được chọn ngẫu nhiên trong danh sách NKT VĐ
trong độ tuổi lao động của Quận Hai Bà Trưng).
Nội dung phỏng vấn sâu là tìm hiểu và thu thập thông tin chuyên sâu về thực
trạng và nhu cầu việc làm của NKT VĐ tại quận Hai Bà Trưng, đồng thời tìm hiểu
10
thực trạng cung cấp DVCTXH trong giải quyết việc làm cho NKT VĐ và những
thuận lợi khó khăn trong việc cung cấp dịch vụ CTXH đến đối tượng này. Trên cơ
sở đó đưa ra một số giải pháp nâng cao chất lượng DVCTXH trong việc giải quyết
nhu cầu việc làm.
6.
Ý nghĩa lý luận và ý nghĩa thực tiễn
làm cho NKT vận động.
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác x hội trong hỗ trợ giải quyết việc làm cho
NKT vận động từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành phố Hà Nội.
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ công tác x hội trong
giải quyết việc làm đối với NKT vận động từ thực tiễn quận Hai Bà Trưng, thành
phố Hà Nội.
12
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM CHO NGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG
1.1.Khái niệm công cụ
1.1.1. Khái niệm công tác xã hội
Trên thế giới có nhiều khái niệm khác nhau về công tác x hội. Dưới đây là
một số khái niệm về CTXH và nghề CTXH được đông đảo các nhà nghiên cứu và
những người thực hành CTXH trên thế giới tham khảo, sử dụng:
Theo định nghĩa của Hiệp hội quốc gia các nhân viên CTXH Mỹ (NASW 1970): "Công tác xã hội là một chuyên ngành để giúp đỡ cá nhân, nhóm hoặc cộng
đồng tăng cường hay khôi phục việc thực hiện các chức năng xã hội của họ và tạo
những điều kiện thích hợp nhằm đạt được các mục tiêu đó”.
Theo Zastrow (1996): “Công tác xã hội là hoạt động nghề nghiệp giúp đỡ các
cá nhân, nhóm hay cộng đồng để nhằm nâng cao hay khôi phục tiềm năng của họ
để giúp họ thực hiện chức năng xã hội và tạo ra các điều kiện xã hội phù hợp với
các mục tiêu của họ”.
Theo tổ chức thực hành công tác x hội ( The Foundation of Social Work
Practice): “Công tác xã hội là một môn khoa học ứng dụng để giúp đỡ mọi người
vượt qua những khó khăn của họ và đạt được một vị trí ở mức độ phù hợp trong xã
hội. Công tác xã hội được coi như là một môn khoa học vì nó dựa trên những luận
chứng khoa học và những cuộc nghiên cứu đã được chứng minh. Nó cung cấp một
-
Khuyết tật chỉa đến sự giảm thiểu chức năng hoạt động, là hậu quả của
sự khiếm khuyết.
-
Tàn tật đề cập đến tình thế bất lợi hoặc thiệt thòi của người mang khiếm
khuyết do tác động của môi trường xung quanh lên tình trạng khuyết tật
của họ ( WHO, 1999)
Một số khái niệm mô tả mức độ khuyết tật được sử dụng trong báo cáo Tổng
điều tra Dân số năm 2009. Trong cuộc điều tra này đ sử dụng nhóm câu hỏi ngắn
về khuyết tật được sử dụng về mức độ khó khăn trong việc thực hiện 4 chức năng
là: 1) Nhìn; 2) Nghe; 3)Vận động và 4) Tập trung hoặc ghi nhớ. Người trả lời sẽ tự
đánh giá mức độ khó khăn của mình theo 4 mức độ: 1) Không có khó khăn gì; 2)
Có khó khăn; 3) Rất khó khăn; và 4) Không thể thực hiện được.
14
-
Người khuyết tật (NKT) là những người có khó khăn ( gồm những
người “có khó khăn”,”rất khó khăn”,và “không thể thực hiện được”)
trong việc thực hiện ít nhất một trong 4 chức năng nói trên.
-
Quốc
Hội
số
06/1998/PLUBTVQ10 ngày 30/7/1998 về Người Tàn Tật định nghĩa NKT không
phân biệt nguồn gốc gây ra khuyết tật là người bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ
phận cơ thể hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm
khả năng hoạt động từ 41% trở lên ( được Hội đồng y khoa có thẩm quyền xác
định) khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn ( hồ sơ , thủ tục
giám định y khoa áp dụng theo hướng dẫn tại Thông tư 34/TT-LB ngày 29/12/1993
của liên Bộ Lao động – Thương binh và X hội – Bộ Y tế).
Tại Việt Nam: Theo Luật Người khuyết tật Việt nam (2010), “Người khuyết
tật là người bị khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức
năng được biểu hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó
khăn”[10]. Dạng tật được quy định trong luật bao gồm:
Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần
kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác. Người khuyết tật được chia theo
mức độ khuyết tật sau đây:
NKT đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự thực hiện việc
phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày. NKT nặng là người do khuyết tật
dẫn đến không thể tự thực hiện một số việc phục vụ nhu cầu sinh hoạt cá nhân hàng
15
ngày. NKT nhẹ là người khuyết tật không thuộc trường hợp quy định tại điểm a và
điểm b khoản này..
Giải quyết việc làm là tổng thể những biện pháp , chính sách kinh tế x hội
của Nhà Nước, cộng đồng và bản thân người lao động tác động đến mọi mặt của đời
sống x hôi tạo điều kiện thuận lợi để mọi người có khả năng lao động.
Trong phạm vi đề tài, giải quyết việc làm được hiểu là quá trình tạo điều kiện và
môi trường bảo đảm cho mọi người trong độ tuổi lao động , có khả năng lao động,
đang có nhu cầu tìm việc làm với mức tiền công thịnh hành trên thị trường để có cơ
hội làm việc. Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X ( 2006-2010) xác định
giải quyết việc làm thông qua:
-
Chính sách vay vốn
-
Phát triển sản xuất, thu hút lao động
-
Tăng cường công tác hỗ trợ tìm kiếm việc làm cho người lao động
-
Đẩy mạnh công tác học nghề và đào tạo nghề
-
Cải thiện điều kiện làm việc và đời sống cho người lao động
Theo Luật NKT năm 2010 tạo việc làm có nghĩa là: “Tạo cho NKT tìm được
căn cứ vào khái niệm về CTXH, căn cứ vào khái niệm dịch vụ đ được đề cập trong
nhiều tài liệu, ta có thể đưa ra khái niệm về dịch vụ CTXH như sau: “Dịch vụ công
tác xã hội là hoạt động do các cơ sở có chức năng cung cấp dịch vụ CTXH, các
nhân viên CTXH thực hiện nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng
cao năng lựcđáp ứng nhu cầu và tăng cường các chức năng xã hội để giúp các cá
nhân, gia đình và cộng đồng đáp ứng tốt hơn các nhu cầu cơ bản của mỗingười
đồng thời góp phần đảm bảo an sinh xã hội”.
Dịch vụ công tác xã hội trong giải quyết việc làm đối với người khuyết tật
vận động từ những khái niệm về DVCTXH nêu trên, khái niệm về DVCTXH đốí
với NKTVĐ trong giải quyết việc làm được hiểu như sau: Dịch vụ CTXH đối với
NKTVĐ trong giải quyết việc làm là các hoạt động có chủ đích, được cung cấp,
điều phối bởi các NVCTXH nhằm giúp NKT vận động:
Hỗ trợ về việc làm: Tư vấn, tham vấn để NKTVĐ có thể lựa chọn công việc
phù hợp với dạng tật và mong muốn của họ. Bên cạnh đó, NVCTXH tư vấn, hướng
dẫn để NKTVĐ có thể tìm đến các cơ sở, công ty tuyển dụng và có công việc phù
hợp với họ.
Hỗ trợ về việc làm : Đây cũng là cách duy nhất giúp NKTVĐ hòa nhập cộng
đồng.Vì vậy các cấp, các ngành, các địa phương, doanh nghiệp cần quan tâm hơn
18
nữa đến công tác dạy nghề, tạo việc làm cho NKT VĐ. Và để thúc đẩy khả năng tự
tạo ra thu nhập của NKT VĐ sau khi tiến hành học nghề, tạo việc làm cho NKT VĐ
không chỉ giúp họ xóa bỏ rào cản tâm lý tự ti, mà còn giúp NKT VĐ hòa nhập cộng
đồng, ổn định kinh tế, góp phần thúc đẩy x hội phát triển.
1.2. Lý thuyết ứng dụng trong nghiên cứu
1.2.1. Lý thuyết hệ thống
Lý thuyết hệ thống được sáng lập bởi L.V. Bertalanffy (1901-1972) người
Áo, thuộc trường Đại học Tổng hợp Chicago, tiếp cận vấn đề hệ thống từ góc độ
19
trợ được họ bao gồm: gia đình, bạn bè trong hội người khuyết tật, các tổ chức dành
cho người khuyết tật, các cơ sở dạy nghề, các công ty tuyển lao động là NKT VĐ,
các trung tâm DVCTXH cung cấp, tư vấn hỗ trợ việc làm, tình nguyện viên...Trong
quá trình tiếp xúc và can thiệp, chúng ta cần phát huy hiệu quả sự hỗ trợ từ các hệ
thống này.
1.2.2.Lý thuyết nhu cầu của Frederick Herzberg
Frederick Herzberg (1923 – 2000) Một trong những lý thuyết quan trọng
trong lĩnh vực khoa học x hội phải kể tới thuyết nhu cầu của Frederick Heberg
[16]. Ông được xem như là cha đẻ của lý thuyết mở rộng nhiệm vụ để tăng động cơ
của người lao động và là người hoàn thiện lý thuyết của A. Maslow . Qua nhiều
nghiên cứu của mình, tác giả khám phá ra các nhân tố “đủ” và nhóm các nhân tố
“cần”. Hay nói cách khác, ví dụ trong quản lý người lao động không phải cứ tìm
cách loại bỏ các nhân tố cản trở lao động thì người lao động sẽ trở nên hứng thú làm
việc. Từ kết luận đó, tác giả đ xây dựng lý thuyết của mình theo hai nhóm nhân tố.
Vì vậy, chúng ta có thể gọi lý thuyết của Herzberg là lý thuyết hai nhóm nhân tố.
Như vậy trong cuộc sống, đặc biệt ở nhiều lĩnh vực khác nhau lý thuyết nhu cầu của
ông luôn được ứng dụng một cách hết sức rộng r i. Điển hình như trong quản lý lao
động. Cụ thể:
Nhóm nhân tố cần (nhân tố ngoại tại): Tác giả gọi nhóm nhân tố này là
các nhân tố vệ sinh vì chúng liên quan mật thiết đến sức khoẻ của người lao động (
đặc biệt với người khuyết tật họ rất mong muốn được những yếu tố này do tình
trạng sức khỏe bị hạn chế). Đây là những nhân tố thuộc về “không khí lao động”,
bao gồm:
-
Điều kiện vật chất