Dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm Cung cấp dịch vụ Công tác xã hội Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hoá - Pdf 42

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRƢƠNG HẢI DƢƠNG

DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚINGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤ
CÔNG TÁC XÃ HỘI THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60.90.01.01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. PHẠM TIẾN NAM

HÀ NỘI, 2017


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan: Luận văn này là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi,
được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Phạm Tiến Nam.
Các số liệu, những kết luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này
hoàn toàn trung thực.
Tôi xin chịu trách nhiệm về nghiên cứu của mình.
HỌC VIÊN

Trƣơng Hải Dƣơng


MỞ ĐẦU ............................................................................................................................... 1

Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI
VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG ..................................................................... 13

1.1. Một số khái niệm, đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người khuyết tật vận
động ................................................................................................................. 13
1.2. Một số lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với NKTVĐ ........................ 18
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật
vận động ........................................................................................................... 27
1.4. Cơ sở pháp lý về dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động ..... 30
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI
KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TẠI TRUNG TÂM CUNGCẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC
XÃ HỘI THANH HÓA ...................................................................................... 34

2.1. Tổng quan về địa bàn và khách thể nghiên cứu .......................................... 34
2.2. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người khuyết tật vận động… ....................... ..42
2.3. Thực trạng dịch vụ Công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động tại
Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa. .................................. 44
2.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người
em khuyết tật vận động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh
Hóa ................................................................................................................... 61
Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CUNG CẤP DỊCH VỤ
CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG TỪ THỰC
TIỄN TRUNG TÂM CUNG CẤP DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI THANH HOÁ .. 71

3.1. Giải pháp về mặt cơ chế, chính sách .......................................................... 71
3.2. Giải pháp về đội ngũ nhân viên công tác xã hội ......................................... 73
3.3. Giải pháp vể truyền thông nâng cao nhận thức ........................................... 74
3.4. Giải pháp về cơ sở vật chất ........................................................................ 75

4

LĐTBXH

Lao động, Thương binh xã hội

5

NKT

Người khuyết tật

6

NKTVĐ

Ngườikhuyết tật vận động

7

NVCTXH

Nhân viên công tác xã hội


DANH MỤC BẢNG/BIỂU

STT

Số hiệu

4.

Biểu đồ 2.4

Nghề nghiệp của NKTVĐ

39

5.

Biểu đồ 2.5

Nguyên nhân gây ra khuyết tật cho NKTVĐ

40

6.

Biểu đồ 2.6

Mức độ khuyết tật của NKTVĐ

41

7.

Biểu đồ 2.7

Hoàn cảnh kinh tế của NKTVĐ


Hình thức truyền thông NKTVĐ được tiếp cận

47

12.

Biểu đồ 2.12

Mức độ hài lòng của NKTVĐ về DV truyền thông

49

13.

Bảng 2.13

14.

Biểu 2.14

Các loại dịch vụ chỉnh hình phục hồi chức năng,
NKTVĐ tiếp cận
Mức độ hài lòng của NKTVĐ về DV CHPHCN

15.

Bảng 2.15

Các loại dịch vụ tư vấn, tham vấn, NKTVĐ tiếp cận


Biểu 2.20

Yếu tố ảnh hưởng của đội ngũ NVCTXH

64

21.

Biểu 2.21

Yếu tố ảnh hưởng của cơ chế chính sách

66

22.

Biểu 2.22

Yếu tố ảnh hưởng của cơ sở vật chất

68

50
53

58
60
62




1


và NKTVĐ là rất lớn. Theo thống kê của Bộ LĐTBXH năm 2010, Việt Nam có số
người cần trợ giúp các dịch vụ công tác xã hội lên tới 28% dân số, trong đó 7,5 triệu
người cao tuổi; 5,4 triệu người khuyết tật; 1,4 triệu trẻ em có hoàn cảnhđặc biệt,
khoảng 12% hộ gia đình nghèo, hơn 180.000 người bị nhiễm HIV được phát hiện…
Thanh Hoá là một tỉnh có diện tích rộng, có dân số gần 3,5 triệu người, trong
đó số lượng NKT chiếm tỷ lệ tương đối lớn. Theo số liệu báo cáo của Sở Lao động
TBXH Thanh Hoá, tính đến ngày 31/12/2015 toàn tỉnh hiện có 192.960 NKT chiếm
5,55% dân số. Trong đó, số NKTVĐ là 81.395 người[27].
Thực hiện Quyết định số 32/2010/QĐ-TTg ngày 25/3/2010 của Thủ tướng
chính phủ phê duyệt Đề án phát triển nghề công tác xã hội giai đoạn 2010-2020, mô
hình các Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH được xây dựng và hình thành tại các
tỉnh/thành phố cả nước. Đây được coi là một trong những giải pháp quan trọng góp
phần phát triển nghề CTXH ở Việt Nam. Sự ra đời của các Trung tâm CTXH tạo
thuận lợi cho những người yếu thế, dễ bị tổn thương tiếp cận được các dịch vụ xã
hội ngay tại Trung tâm và tại cộng đồng nơi họ sinh sống giúp họ giải quyết được
các vấn đề gặp phải, nhằm nâng cao an sinh xã hội cho người dân. Bằng việc cung
cấp các dịch vụ theo một quy trình chuyên nghiệp, hiệu quả theo đúng những giá trị
và nguyên tắc của nghề CTXH, Cung cấp DVCTXH thông qua Trung tâm đã góp
phần giúp đỡ nhiều nhóm đối tượng xã hội trong đó có NKTVĐ.
Cùng với các tỉnh/thành phố trên cả nước, Thanh hoá đã thành lậpTrung tâm
cung cấp DVCTXH Thanh Hóa trên cơ sở tổ chức lại và bổ sung thêm nhiệm vụ từ
Trung tâm chỉnh hình và phục hồi chức năng. Hiện nay, Trung tâm cung cấp
DVCTXH đã và đang triển khai các hoạt động cung cấp DVCTXH sâu rộng trên địa
bàn toàn tỉnh cho các nhóm đối tượng yếu thế như NKT, người cao tuổi, người
nghèo, người bị bạo lực, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt, người nghiện ma tuý, người
mại dâm, người bị buôn bán…(trong đó có NKTVĐ). Cung cấp các DVCTXH là

khuyết tật từ thực tiễn Trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa, huyện Thanh Trì,
Hà Nội” của Nguyễn Ngọc Tùng, ( 2015)[21]; tác giả đã ứng dụng mô hình quản lý
ca và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả CTXH đối với NKT từ thực tiễn hoạt động
tại trung tâm dạy nghề từ thiện Quỳnh Hoa. Ðặc biệt trong mô hình can thiệp quản
lý ca theo quy trình 5 bước trong CTXH cá nhân dành cho NKT đã chứng minh tính
chuyên nghiệp khi trợ giúp NKT chứ không chỉ đơn thuần như hoạt động nhân đạo.
Vì thế, các phương hướng và giải pháp trong đề tài nhằm hướng tới hoàn chỉnh về
mặt phương pháp, tiến trình can thiệp dành cho nhóm đối tượng cụ thể là NKT.

3


- Đề tài“Công tác xã hội với trẻ em khuyết tật vận động’’của tác giả Nguyễn
Thị Huyền Trang (2015)[33]. Đề tài phân tích và chỉ ra thực trạng đời sống cũng
như khó khăn trong việc tiếp cận các dịch vụ công tác xã hội của trẻ em khuyết tật
vận động với mục đích kết nối, điều phối và duy trì các dịch vụ dành cho trẻ em
khuyết tật vận động một cách hiệu quả;
- Đề tài“Công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động từ thực tiễn
Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hoá” của tác giả Vũ Văn Khánh,
Luận văn thạc sĩ 2016, Học viện Khoa học xã hội[12]. Đề tài đánh giá, phân tích
thực trạng công tác xã hội cá nhân đối với trẻ em khuyết tật vận động và ứng dụng
mô hình quản lý ca, đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
trong trợ giúp trẻ em khuyết tật vận động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác
xã hội Thanh Hóa, nghiên cứu cũng đã chỉ rõ được vai trò, trách nhiệm quan trọng
của NVCTXH trong tiến trình tạo ra sự thay đổi tích cực đối với đời sống của trẻ
em khuyết tật vận động, thúc đẩy môi trường xã hội, bao gồm chính sách, pháp luật,
cộng đồng thân thiện để trẻ em khuyết tật vận động dễ dàng hòa nhập xã hội.
* Nhóm công trình nghiên cứu về chính sách, pháp luật đối với NKT
- Tác giả Nguyễn Ngọc Toản (2010) với đề tài nghiên cứu “Chính sách trợ
giúp xã hội thường xuyên ở cộng đồng Việt nam”.Tác giả đã viết một phần về NKT.

những giải pháp công tác thực hiện Pháp lệnh Người tàn tật được tốt hơn.
- Tác giả Nguyễn Thị Báo (2008), Hoàn thiện pháp luật về quyền của người
khuyết tật ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc
gia Hồ Chí Minh[2]; đề tài xây dựng hệ thống thông tin tư liệu quy định về quyền
của người khuyết tật trong pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam, trang bị cho
người khuyết tật các quyền cụ thể để tạo cơ hội hòa nhập và phát triển.
* Nhóm công trình nghiên cứu về dịch vụ CTXH đối với người khuyết tật
- Tác giả Đặng Kim Chung và nhóm nghiên cứu năm (2011)[5] với đề
tài:“Đánh giá nhu cầu về dịch vụ công tác xã hội và xây dựng công tác xã hội và
xây dựng kế hoạch thiết lập mô hình và hệ thống cung cấp dịch vụ từ trung ương
đến cộng đồng”. Nghiên cứu đã đánh giá nhu cầu dịch vụ công tác xã hội tại cộng
đồng và trong trung tâm, nghiên cứu việc phát triển những dịch vụ công tác xã hội
trong phạm vi tài nguyên có thể huy động, đề xuất kế hoạch xây dựng và vận hành
mô hình và hệ thống cung cấp DVCTXH từ trung ương đến cộng đồng. Đề tài đã
phân tích và đánh giá nhu cầu của các đối tượng dựa trên hai khía cạnh: Cung và
cầu dịch vụ cho từng nhóm đối tượng cụ thể: Người cao tuổi, Người khuyết tật, trẻ

5


em, người trưởng thành… Nhu cầu với DVCTXH của các nhóm đối tượng rất lớn
nhưng vẫn còn đang tiềm ẩn trong xã hội. Hệ thống cơ sở cung cấp dịch vụ còn
manh mún và chất lượng còn kém. Nhận thức và hiểu biết của công chúng và các
nhà hoạch định chính sách về nghề CTXH còn chưa sâu. Cán bộ làm CTXH còn
thiếu và chưa được đào tạo chính quy, tổ chức cung cấp DVCTXH ở cộng đồng gần
như chưa có. Đề tài đưa ra các giải pháp để tuyên truyền, phổ biến chính sách, chế độ
trợ cấp, các dịch vụ xã hội. Nâng cao năng lực xây dựng và thực hiện của các trung
tâm cung cấp DVCTXH đặc biệt là các cán bộ thực hiện ở cấp cơ sở. Giải pháp tuyên
truyền vận động các tổ chức, đoàn thể để có sự hiểu biết về các dịch vụ của công tác
xã hội.

hai khía cạnh của sự chuyên nghiệp là “con người chuyên nghiệp” và “môi trường
chuyên nghiệp”[32].
Những công trình nghiên cứu trên là những tài liệu tham khảo quý giá và vô cùng
hữu ích cho tôi trong quá trình thực hiện đề tài, những nghiên cứu trên đều ít nhiều đề
cập đến vấn đề hỗ trợ, giúp đỡ cho Người khuyết tật dưới các góc độ khác nhau cả về
lý luận và thực tiễn, nhưng chưa có công trình nào đề cập nghiên cứu cụ thể đến
DVCTXH cho NKTVĐ dưới góc nhìn của một nghề, một khoa học về CTXH đối với
việc trợ giúp cho NKT. Hơn nữa, các công trình cũng chưa chỉ ra được vai trò, tầm
quan trọng của DVCTXH trong vấn đề trợ giúp cho NKTVĐ, vì vậy, đề tài mà tôi lựa
chọn không trùng với các công trình nghiên cứu đã công bố. Ngoài việc kế thừa, chọn
lọc từ các thành tựu đã có, đề tài đi sâu vào nghiên cứu các DVCTXH cho NKTVĐ ở
Trung tâm cung cấp DVCTXH Thanh Hóa dưới góc nhìn của nghề CTXH.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu những vấn đề lý luận về DVCTXH đối với NKTVĐ và đánh giá
thực trạng cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến việc cung cấp DVCTXH đối với
NKTVĐ từ thực tiễn Trung tâm Cung cấp dịch vụ công tác xã hội tỉnh Thanh Hoá,
từ đó đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả việc cung cấp DVCTXH cho
NKTVĐ tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hoá.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận về dịch vụ CTXH đối với NKTVĐ.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến DVCTXH đối với
NKTVĐ từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hoá.

7


- Đưa ra một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc cung cấp DVCTXH
đối với NKTVĐ từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH Thanh Hoá.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu



NKT; về hệ thống an sinh xã hội; chính sách trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội, gắn
phát triển kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội. Quan điểm phát triển nghề CTXH
và trợ giúp cho những người yếu thế trong xã hội với những giá trị triết lý nhìn nhận
con người và các mối quan hệ qua lại giữa con người với con người, con người với
xã hội thực tại.
Phương pháp duy vật biện chứng đòi hỏi trong quá trình nghiên cứu phải đặt
việc cung cấp DVCTXH đối với NKT trong một mối quan hệ tương tác khách quan
tất yếu với các yếu tố khác như chính quyền địa phương, các tổ chức đoàn thể, thể chế
xã hội, cơ chế chính sách, đối tượng trợ giúp…Các giải pháp đề xuất không thể chỉ
hướng tới các mối quan hệ nội tại bên trong như trình độ kiến thức, kỹ năng chuyên
môn của NVCTXH hay bản thân đối tượng trợ giúp mà còn phải có các giải pháp tác
động vào các chủ thể xây dựng chính sách, cơ chế trong việc tổ chức, thực hiện nhiệm
vụ cung cấp dịch vụ với các hệ thống khác để có được hiệu quả trợ giúp cao nhất.
Phương pháp duy vật lịch sử, khi nghiên cứu đòi hỏi phải đặt đối tượng, cụ thể
ở đây là các DVCTXH với NKT tại Trung tâm cung cấp dịch vụ CTXH tỉnh Thanh
Hoá trong hoàn cảnh môi trường xã hội, thời gian cụ thể mà hoạt động này được
triển khai. Trong hoàn cảnh thực tế của tỉnh Thanh Hoá là một tỉnh có diện tích
rộng, dân số đông còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế xã hội, tỷ lệ NKT có hoàn
cảnh khó khăn chiếm số lượng khá cao.Công tác trợ giúp cho NKT được quan tâm
nhưng còn nhiều khó khăn, hoạt động còn chưa thực sự hiệu quả. Cơ chế phối hợp
trong hoạt động trợ giúp cho NKT chưa được đồng bộ. Trung tâm cung cấp
DVCTXH mới được thành lập, các hoạt động triển khai còn chưa thật sự chuyên
nghiệp, đội ngũ NVCTXH còn thiếu về số lượng, chất lượng; nhận thức của người
dân về nghề CTXH còn nhiều hạn chế. Phương pháp duy vật lịch sử cũng đòi hỏi
khi nghiên cứu phải nắm vững những quan điểm, chủ trương và đường lối ứng với
những thời điểm, giai đoạn cụ thể để đề ra những phương hướng, giải pháp phù
hợp. Nghiên cứu trên cơ sở duy vật lịch sử là đối tượng được nghiên cứu đánh giá
theo một trục thời gian nhất định và mang tính lịch sử rõ nét. Như vậy những vấn đề

hiện kế hoạch can thiệp trợ giúp NKT. Quan sát cũng được thực hiện thông qua thái
độ hài lòng, sự tham gia của NKT. Các thông tin thu được từ quan sát có thể sử
dụng để đưa ra những đánh giá, nhận định về vấn đề nghiên cứu và đánh giá mức độ
tin cậy của những thông tin thu thập được từ các phương pháp khác, đặc biệt là
quan sát thái độ, cử chỉ của đối tượng trong quá trình phỏng vấn. Quan sát về môi
trường, không gian sống và điều kiện sinh sống trong sinh hoạt hằng ngày của

10


NKT;Quan sát về thể chất, thái độ giao tiếp và trạng thái tâm lý giữa NKT với cán
bộ làm việc trong Trung tâm.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Phương pháp điều tra bảng hỏi là phương pháp thu thập thông tin thông qua
việc sử dụng một bảng hỏi soạn sẵn, người điều tra phát bảng hỏi, hướng dẫn cách trả
lời, người được hỏi sẽ tự mình ghi câu trả lời ra phiếu bảng hỏi. Điều tra viên thu lại
phiếu và xử lý thông tin. Phát bảng hỏi cho 50 NKTVĐ là những đối tượng trực tiếp
được thụ hưởng DVCTXH.Nội dung của bảng hỏi liên quan đến: Đặc điểm tâm lý và
nhu cầu của NKTVĐ; Các dịch vụ CTXH đối với NKTVĐ;các yếu tố ảnh hưởng đến
việc cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ; Các giải pháp đối với việc cung cấp
DVCTXH đối với NKTVĐ tại Trung tâm cung cấp DVCTXH Thanh Hoá.
- Phương pháp phỏng vấn sâu:
Phỏng vấn sâu là phương pháp thu thập thông tin bằng cách tác động tâm lý,
xã hội một cách trực tiếp giữa người phỏng vấn và người trả lời. Phỏng vấn là
phương tiện được sử dụng phổ biến trong các điều tra, nghiên cứu khoa học nhằm
thu thập, khai thác thông tin từ đối tượng được phỏng vấn.
Trong quá trình nghiên cứu tác giả sử dụng phương pháp phỏng vấn sâu với
10 người gồm: 5 NVCTXH, 3 nhân viên y tế và 2 cán bộ quản lý với mục đích
nhằm tìm hiểu, thu thập thông tin chuyên sâu về những thuận lợi và khó khăn trong
việc cung cấp DVCTXH đối với NKTVĐ cũng như các yếu tố ảnh hưởng. Trên cơ

nhập tốt với cộng đồng, phát huy vai trò, năng lực của họ đối với cộng đồng. Luận
văn cũng là tài liệu tham khảo cho những người quan tâm đến lĩnh vực dịch vụ công
tác xã hội đối với Người khuyết tật vậnđộng.
7. Kết cấu luận văn
Ngoài các phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục,
luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người
khuyết tật vận động.
Chương 2: Thực trạng dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận
động tại Trung tâm cung cấp dịch vụ công tác xã hội Thanh Hóa.
Chương 3: Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ công tác xã
hội đối với người khuyết tật vận động từ thực tiễn Trung tâm cung cấp dịch vụ công
tác xã hội Thanh Hóa.

12


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ CÔNG TÁC XÃ HỘI
ĐỐI VỚINGƢỜI KHUYẾT TẬT VẬN ĐỘNG
1.1. Một số khái niệm, đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người khuyết tật vận động
1.1.1. Khái niệm khuyết tật
Có nhiều cách hiểu và cách diễn giải khác nhau về khuyết tật, xuất phát từ sự
đa dạng của khuyết tật, sự phức tạp về mức độ khuyết tật, công cụ đo lường và đánh
giá, cũng như sự khác biệt về văn hóa, xã hội của mỗi quốc gia.
Theo từ điển Tiếng Việt (1998), từ “khuyết” có nghĩa là không đầy đủ, thiếu
mất một bộ phận, một phần. Từ “tật” có nghĩa là có “điều gì đó không được bình
thường, ít nhiều khó chữa ở vật liệu, dụng cụ, máy móc. Còn ở người là sự bất
thường, nói chung không thể chữa được, của một cơ quan trong cơ thể do bẩm sinh
mà có hoặc do tai nạn hay bệnh gây ra”. Như vậy, có thể hiểu khuyết tật là khiếm

1.1.2. Khái niệm Người khuyết tật:
Theo quan điểm của Công ước Quốc tế về Quyền của người khuyết tật được
phê chuẩn ngày 13/12/2006 cho rằng Người khuyết tật bao gồm những người có
khiếm khuyết lâu dài về thể chất, trí tuệ, thần kinh hoặc các giác quan mà khi tương
tác với các rào cản khác nhau có thể cản trở sự tham gia đầy đủ và hiệu quả của họ
trong xã hội trên một nền tảng công bằng như những người khác trong xã hội” [10]
Như vậy, theo quan điểm này Người khuyết tật ám chỉ cả yếu tố sinh học và
xã hội mà ở đó phản ảnh sự tương tác giữa các yếu tố liên quan tới cơ thể con người
và yếu tố xã hội mà họ sống, tồn tại trong đó (WHO, 2012). Sự khiếm khuyết cơ thể
của NKT được xem như điều kiện về sức khỏevà khuyết tật là sự phức hợp của điều
kiện sức khỏe và các yếu tố môi trường mà NKT sống ở đó (quan niệm, cách nhìn
nhận, sự đáp ứng của xã hội như: chính sách, dịch vụ…), yếu tố cá nhân NKT (như
động lực, nghị lực, lòng tự trọng...). Các yếu tố này có thể vừa là thúc đẩy hay rào
cản đối với sự thực hiện, sự tham gia của NKT trong cộng đồng xã hội. Khuyết tật,
tàn tật được hiểu theo những cách khác nhau ở Việt Nam.
- Khuyết tật trong từ điển tiếng Việt là: tật bẩm sinh, dị tật[23].
- Tàn tật là có một cơ quan quan trọng nào đó trong cơ thể bị tật nặng, mất khả
năng lao động, hay khả năng hoạt động bình thường [23, tr. 856].

14


Theo Luật Người khuyết tật Việt nam (2010), “Người khuyết tật là người bị
khiếm khuyết một hoặc nhiều bộ phận cơ thể hoặc bị suy giảm chức năng được biểu
hiện dưới dạng tật khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp khó khăn”[25].
* Dạng tật được quy định trong luật[25]bao gồm:
Khuyết tật vận động; Khuyết tật nghe, nói; Khuyết tật nhìn; Khuyết tật thần
kinh, tâm thần; Khuyết tật trí tuệ; Khuyết tật khác.
* Người khuyết tật được chia theo mức độ khuyết tật sau đây:
- Người khuyết tật đặc biệt nặng là người do khuyết tật dẫn đến không thể tự

giác về sức đẩy của nước nếu không được ngâm mình trong nước…
Đối với dạng thứ hai thì sự tổn thương về não bộ gây rất nhiều cản trở cho
hoạt động nhận thức của Người khuyết tật, thậm chí là trình độ nhận thức ở mức độ
nặng. Hoạt động nhận thức của loại người này cũng có những hạn chế tương tự như
người chậm phát triển trí tuệ và còn bị ảnh hưởng thêm của khuyết tật vận động.
Song cũng cần lưu ý những trường hợp khuyết tật vận động do bại não gây nên thì
hoạt động nhận thức của họ hầu như không bị ảnh hưởng song họ khó có thể biểu
đạt được suy nghĩ, hành động, lời nói một cách bình thường do sự cản trở
của khuyết tật vận động.
1.1.4. Đặc điểm tâm lý và nhu cầu của người khuyết tật vận động
* Đặc điểm tâm lý của người khuyết tật vận động
- NKTVĐ dễ bị kích động, khó kiểm soát phản ứng do bị phân biệt đối xử và
thiếu tôn trọng. Ngoài ra NKTVĐ thường có tâm lý mặc cảm tự ti. Luôn cho rằng số
phận mình không được may mắn, là gánh nặng cho người thân, gia đình. Do đó họ
thường sống khép kín, ngại giao tiếp với mọi người. Trong quá trình tương tác với
người khác trong gia đình, cộng đồng họ thường có cảm xúc buồn, thất vọng và hay tự
ái. Nếu sống trong những gia đình khó khăn thường NKTVĐ có cảm giác bị bỏ rơi.
- Sự thiếu hụt về thể chất dẫn tới khả năng hoạt động chức năng của NKTVĐ có
thể bị giảm sút, vì vậy họ gặp nhiều khó khăn, trở ngại trong sinh hoạt, lao động, học tập.
- Do bị khuyết tật, đi lại khó khăn nên hoạt động lao động, giao lưu hạn chế
hơn so với người bình thường nếu không có hỗ trợ xã hội thì phạm vi quan hệ xã
hội ở NKTVĐ sẽ bị thu hẹp.
- Do sự thiếu hụt dẫn đến những cản trở trong sinh hoạt, lao động trên nên
NKTVĐ thường bị ức chế dẫn đến bi quan, chán nản, tự ti hay cáu gắt, nóng
nảy…Ngay cả khi này, họ cũng cần được chấp nhận, tôn trọng. Cộng đồng và xã

16


hội cần giáo dục mọi người tránh cử chỉ, hành vi miệt thị, xa lánh, cần loại bỏ



thể thao, giải trí, du lịch, nhà chung cư, công trình công cộng, giao thông, công
nghệ thông tin và truyền thông,… cùng với những người bình thường.
Nhu cầu về học tập, dạy nghề và việc làm: NKTVĐ có nhu cầu được tiếp cận
các loại hình giáo dục phù hợp, tham gia vào các hoạt động giáo dục hòa nhập,
được tham gia vào môi trường học tập đầy đủ như người bình thường. NKTVĐ
cũng có nhu cầu được dạy nghề và có việc làm ổn định thích hợp với khả năng và
sức khỏe, không phụ thuộc vào gia đình và xã hội, có nhu cầu được tư vấn, hỗ trợ
việc làm sau học nghề để có thể tự nuôi sống bản thân cũng như gia đình vợ/chồng,
con cái của mình.
Nhu cầu giao tiếp với bạn bè, những người xung quanh và xây dựng hạnh
phúc gia đình: NKTVĐ có sự mặc cảm, tự ti về những khuyết tật của bản thân và sự
phân biệt, kỳ thị của xã hội. NKTVĐ mong muốn được giao tiếp, được sự sẻ chia,
thân thiện của bạn bè và những người xung quanh. Đồng thời, chính sự kỳ thị và
phân biệt đối xử của gia đình và cộng đồng là nguyên nhân quan trọng nhất gây ra
khó khăn cho NKTVĐ trong hôn nhân. Trong quan niệm của nhiều người, việc kết
hôn với NKT là không nên và sẽ đưa đến những điều khó khăn trong cuộc sống cho
chính bản thân NKTVĐ. Vì vậy, bên cạnh nhu cầu giao tiếp, sẻ chia, NKTVĐ cũng
mong muốn có người hiểu, đồng cảm để xây dựng hạnh phúc gia đình.
Nhu cầu được tôn trọng, được thừa nhận, phát huy được khả năng của bản
thân: NKTVĐ thường mặc cảm, tự đánh giá thấp bản thân mình so với những người
bình thường khác. Bên cạnh đó, họ còn bị những người xung quanh trêu chọc về
hình dáng của mình làm cho họ càng cảm thấy mặc cảm ngoại hình, chú trọng quá
mức đến khiếm khuyết cơ thể của mình. Sự phân biệt đối xử của cộng đồng là
nguyên nhân chính làm cản trở NKTVĐ có cuộc sống tốt đẹp. Cản trở lớn nhất với
NKTVĐ là kỳ thị, nó là rào cản vô hình nhưng tàn nhẫn đẩy nhiều người ra bên lề
của cuộc sống. Vì vậy, NKTVĐ rất mong muốn được sự tôn trọng, thừa nhận của
những người xung quanh cũng như phát huy được khả năng của bản thân.
1.2. Một số lý luận về dịch vụ công tác xã hội đối với người khuyết tật vận động

thế. Dịch vụ xã hội là các sáng kiến can thiệp nhằm vào các nhu cầu và các vấn đề
của các nhóm người dễ bị tổn thương, bao gồm cả việc phòng ngừa bạo lực, tan vỡ
gia đình, xóa đói giảm nghèo và hỗ trợ NKT, trẻ em và người già.
Tác giả Trần Hậu, Đoàn Minh Huấn (2012) cho rằng DVXH là những dịch vụ
đáp ứng nhu cầu cộng đồng và cá nhân nhằm phát triển xã hội, có vai trò đảm bảo

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status