SKKN giải pháp sử dụng di sản văn hóa địa phương trong giảng dạy môn hóa học ở trường phổ thông - Pdf 51

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi : Hội đồng sáng kiến cấp Tỉnh –Tỉnh Ninh Bình
Chúng tôi ghi tên dưới đây:
TT

1
2
3
4
5

Họ và tên

NguyễnThành Chung
Phạm T.Thanh Tuyền
Hoàng Thị Thực
Nguyễn Quốc Việt
Phạm Thị Nhài

Ngày tháng
năm sinh

22/11/1979
26/09/1986
08/04/1984
11/8/1979
07/8/1983

Nơi công tác

cực, chủ động của học sinh trong đó có hình thức sử dụng di sản văn hóa địa phương vào việc
giảng dạy ở các trường phổ thông
Tuy nhiên hình thức này chủ yếu được áp dụng với các bộ môn như lịch sử, địa lí,văn học, âm
nhạc……với bộ môn hóa học khi nhắc đến không ít thầy cô tỏ ra e dè,mông lung hoặc coi
nhiệm vụ dạy học gắn với di sản không phải là nhiệm vụ của bộ môn hóa học. Do đó số giáo
viên chủ động tìm hiểu về hình thức dạy học theo di sản vẫn còn quá khiêm tốn. Không ít giáo
viên vẫn không chịu “dứt bỏ” lối mòn của phương pháp cũ, bài học trên lớp và nhịp thở cuộc
sống bên ngoài vẫn còn một khoảng cách xa vời, một số giáo viên thụ động trong việc nghiên
cứu, thiết kế nội dung và chưa chủ động việc sưu tầm tư liệu, tranh, ảnh hay kế hoạch cho HS
đi trải nghiệm tại các di sản ở địa phương.
Bên cạnh đó,cũng có một số ít giáo viên có ý thức sử dụng các tranh ảnh, tư liệu khi đề cập đến
các nội dung có gắn với các di sản địa phương. Tuy nhiên, các nguồn tư liệu này chỉ mang tính
chất minh họa chứ giáo viên chưa tập trung khai thác hết ý nghĩa vấn đề nên chỉ nêu được bản
chất về kiến thức hóa học hàn lâm mà chưa làm toát lên những giá trị văn hóa, lịch sử của
những di sản nói trên.
Ưu điểm:
+ Do đặc điểm hàn lâm của kiến thức nên nội dung bài dạy theo phương pháp cũ có tính hệ
thống, tính logic cao.
+ Thời gian chuẩn bị và xây dựng cho tiết dạy cũng không cần công phu.
Nhược điểm
+ Do học sinh không hứng thú nên kiến thức có được cũng dễ bị lãng quên.
+ Không phát triển và hình thành năng lực cần thiết cho học sinh do đó giáo dục không đáp
ứng được yêu cầu năng lực của xã hội hiện đại.


+ Không phát huy được khả năng của mỗi cá nhân trong tập thể lớp.
+ Kỹ năng ứng dụng vào đời sống thực tế bị hạn chế.
- Những tồn tại cần khắc phục:
Ninh Bình là 1 địa phương có rất nhiều di sản văn hóa không chỉ cấp địa phương
(huyện, tỉnh) , cấp nhà nước mà còn có cả di sản văn hóa thế giới như Tràng An , Tuy nhiên,

sinh hấp dẫn hơn, học sinh hứng thứ học tập và hiểu bài sâu sắc hơn, phát triển tư duy độc lập,
sáng tạo, giáo dục tư tưởng đạo đức cho học sinh.
Dạy học gắn với di sản giúp hình thành và phát triển một số kỹ năng sống cho học sinh
như:
+Kỹ năng giao tiếp
+Kỹ năng lắng nghe tích cực
+Kỹ năng trình bày suy nghĩ, ý tưởng
+Kỹ năng hợp tác

+Kỹ năng tư duy phê phán
+Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm
+Kỹ năng đặt mục tiêu
+Kỹ năng quản lý thời gian:


+Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin
Tạo điều kiện tổ chức quá trình hoạt động của giáo viên và học sinh một cách hợp lý :
Khi làm việc với/ tại nơi có di sản, GV và HS phải gia tăng cường độ làm việc. GV không
thuyết trình về các hiện tượng, sự vật cần tìm hiểu mà cần hướng dẫn HS tự quan sát, thu thập
thông tin, trao đổi trong nhóm để xử lý các thông tin, tìm hiểu về di sản, để tìm cách trình bày
lại những hiểu biết của cá nhân hoặc nhóm. Đôi khi HS có thể được yêu cầu tổ chức triển lãm
những hiện vật, bài viết giới thiệu về di sản do các em thu thập được. Môi trường làm việc thay
đổi đòi hỏi GV phải có phương pháp dạy học, cách thức tổ chức dạy học phù hợp, sao cho tập
thể HS được lôi cuốn vào công việc tìm hiểu, nghiên cứu di sản; đòi hỏi từng HS phải làm việc
thực sự và phải biết hợp tác với bạn để cùng hoàn thành nhiệm vụ được giao.
Việc định hướng học sinh vào tìm hiểu những di sản văn hóa ở địa phương sẽ giúp các
em cảm thấy bài học gắn bó hơn với cuộc sống ở xung quanh các em. Qua đó, sẽ bồi dưỡng
học sinh tình cảm tự hào với những giá trị văn hóa truyền thống do ông cha để lại, càng thêm
yêu quê hương, yêu đất nước mình hơn. Và trên hết, các em sẽ tự nảy sinh ý thức trách nhiệm
đối với việc bảo tồn di sản văn hóa, cũng như kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp từ

- HS ít hứng thú hơn với bài học, - Học sinh say mê, hứng thú học tập;
xem nhẹ hoặc không yêu thích từ đó hình thành thái độ đúng đắn đối
môn hóa học.
với môn hóa học.

III. Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được
1. Hiệu quả kinh tế:
Dạy học gắn với di sản giúp cho học sinh lĩnh hội kiến thức một cách chủ động, sâu sắc,
nhớ kỹ, hiểu lâu thuận lợi cho việc tổng hợp kiến thức nhất là phần vận dụng kiến thức trong
việc giải quyết các tình huống, hiện tượng thực tế trong các đề thi THPTQG hiện nay. Do vậy
khả năng đỗ vào các trường đại học cao đẳng ngay năm thi đầu tiên cao hơn , tiết kiệm được
thời gian và tiền của so với những học sinh phải thi nhiều lần. Ngoài ra khi học gắn với di sản
văn hóa, học sinh có ý thức quảng bá du lịch, giới thiệu về các di sản văn hóa và những địa
danh du lịch nổi tiếng của nước nhà cho bạn bè trong nước và thế giới thông qua các phương
tiện đại chúng, mạng xã hội như facebook, zalo... nhằm thu hút khách du lịch, tạo nguồn thu
nhập quan trọng cho kinh tế nước nhà thông qua du lịch.


2. Hiệu quả xã hội:
Giáo dục di sản là một trong những phương pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn
hóa. Việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông góp phần đổi mới phương
pháp dạy học theo hướng tích cực, tăng cường hoạt động trải nghiệm gắn với thực tiễn, phương
thức sử dụng di sản giúp cho học sinh hứng thú với hình thức học tập ngoài thực địa qua đó làm
giảm áp lực trong các giờ học lý thuyết căng thẳng, trừu tượng trên lớp. Học tập gắn với di sản
địa phương còn hình thành ở các em lòng tự hào, tự tôn dân tộc, ý thức độc lập tự chủ trong xây
dựng nền kinh tế, quý trọng các truyền thống văn hóa của ông cha. Từ đó các em có ý thức
trách nhiệm bảo vệ những di tích lịch sử, di sản văn hóa vật thể của địa phương, góp phần phát
triển ngành du lịch Việt Nam.
IV. Điều kiện và khả năng áp dụng
1. Điều kiện áp dụng:

PHỤ LỤC 1
PHẦN I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ DI SẢN VĂN HÓA
a. Khái niệm, đặc điểm và phân loại di sản văn hóa
* Khái niệm về di sản văn hóa:
Di sản văn hoá: Bao gồm di sản văn hoá phi vật thể và di sản văn hoá vật thể ( bao gồm di sản
văn hóa nhân tạo và thiên nhiên) là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử,văn hoá, khoa
học, đc lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác.
* Đặc điểm của di sản văn hóa Việt Nam:
Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị kết tinh từ sự sang tạo văn hóa của cộng đồng 54 dân
tộc, trải qua một quá trình lịch sử lâu đời, được trao truyền, kế thừa và tái sang tạo từ nhiều thế
hệ cho tới nay . Di sản văn hóa Việt Nam là bức tranh đa dạng văn hóa, là tài sản quý giá của
cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản văn hóa nhân loại . Di sản văn
hóa Việt Nam có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta
Di sản văn hóa Việt Nam là những giá trị sang tạo từ việc học hỏi, giao lưu và kế thừa từ các
nền văn hóa và văn minh của nhân loại với nền văn háo bản địa lâu đời của các dân tộc Việt
Nam
* Phân loại di sản văn hóa Việt Nam
Di sản văn hóa Việt Nam được chía thành 2 loại : .Di sản văn hóa phi vật thể và di
sản văn hóa vật thể
- Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,
được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn
và các hình thức lưu giữ, lưu truyền khác, bao gồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học, nghệ
thuật, khoa học, ngữ văn truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí
quyết về nghề thủ công truyền thống, tri thức về y, dược học cổ truyền, về văn hóa ẩm thực, về
trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
- Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, bao
gồm di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia.
+ Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc
gia thuộc công trình, địa điểm đó có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học.
+ Danh lam thắng cảnh là cảnh quan thiên nhiên hoặc địa điểm có sự kết hợp giữa cảnh

Dạy học thông qua các phương tiện truyền thông, đa phương tiện;…
+. Lựa chọn những phương pháp dạy học, kiểm tra, đánh giá phù hợp nhằm phát huy tính tích
cực, chủ động của học sinh trong việc tìm hiểu, khai thác các giá trị của di sản văn hóa.
c, Vai trò của di sản: Di sản la một nguồn nhận thức , một phương tiện trực quan quý giá trong
dạy học nói riêng, giáo dục nói chung . Vì vậy việc sử dụng di sản trong việc dạy học có ý
nghĩa toàn diện :
+ Góp phần đẩy mạnh, hướng dẫn hoạt động nhận thức của học sinh :
Các di sản văn hóa sử dụng trong dạy học, giáo dục góp phần nâng cao tính trực quan
giúp người học mở rộng kahr năng tiếp cận với đối tượng, hiện tượng lien quan đến bài học tồn
tại trong di sản . Tiếp cận với di sản học sinh sử dụng thông tin tín hiệu thứ nhất ( sử dụng các
giác quan: mắt – nhìn; tai- nghe; mũi – ngửi, tay- sờ...) để nghe được, thấy được, cảm nhận
được và qua đó tiếp thu những kiến thức cần thiết từ di sản. Ngoài ra các gía tri có trong di sản
còn được giáo viên khai thác bằng cách đặt câu hỏi mang tính định hướng hoặc gợi ý cho học
sinh tìm hiểu chúng, qua đó di sản được sử dụng như một phương tiện điều khiển quá trình
nhận thức của học sinh . Những gợi ý đó giúp cho quá trình thăm quan, trải nghiệm trở nên ý
nghĩa hơn, bài học sống động hơn, lý thú hơn.
+ Giúp học sinh phát triển kỹ năng học tập, tự chiếm lĩnh kiến thức:
Di sản văn hóa là phương tiện quan trọng giúp học sinh rèn luyện một số kỹ năng học
tập như kỹ năng quan sát, thu thập, xử lý thông tin qua đó tự chiếm lĩnh kiến thức cần thiết
trong quá trình tiếp cạn với di sản ; kỹ năng vận dụng những kiến thức đã học để giải thích các
hiện tượng , sự vật có trong di sản văn hóa
+ Kích thích hứng thú nhận thức của học sinh:
Hứng thú nhận thức là một trong các yếu tố ảnh hưởng lớn đến cường độ và hiệu quả
của quá trình học tập . Trong quá trình tiếp cận di sản văn hóa dưới sự hướng dẫn của giáo viên,
các hiện tượng sự vật, các giá trị ẩn chứa trong di sản sẽ được các em tìm hiểu . Những điều
tưởng như quen thuộc sẽ trở nên hấp dẫn hơn, sống động hơn và học sinh sẽ có hứng thú với
chúng, từ đó các em có được động cơ học tập đúng đắn trở nên tích cực phấn đấu tiếp nhận
kiến thức mới cũng như có thái độ và hành vi than thiện, bảo vệ di sản văn háo tốt hơn
+Phát triển trí tuệ của học sinh :
Trong quá trình học tập trí tuệ của học sinh được phát triển nhờ sự tích cực hóa các mặt

Trong quá trình làm việc học sinh biết chia sẻ trách nhiệm, cam kết và cùng làm việc có
hiệu quả với các thành viên trong nhóm để hoàn thành nhiệm vụ giáo viên giao
+Kỹ năng tư duy phê phán:
Khi thu thập những thông tin về di sản, học sinh lí giải các thông tin đó , đặc biệt là các
thông tin trái chiều , xác định bản chất vấn đề , tình huống, sự vật, hiện tượng, đưa ra những
nhận định về mặt tích cực, hạn chế . Điều đó góp phần phát triển kỹ năng tư duy phê phán
+ Kỹ năng đảm nhận trách nhiệm : Việc GV giao nhiệm vụ rõ ràng, HS tiếp nhận nhiệm
vụ và trao đổi nhóm, phân công nhau và thực thi nhiệm vụ được giao một cách có ý thức, nhiệt
tình và có kết quả. Quá trình đó giúp cho kỹ năng đảm nhận trách nhiệm của HS được rèn
luyện.
+ Kỹ năng đặt mục tiêu:
Ở từng hoạt động cụ thể, học sinh p biết mình phải làm gì sau khi làm việc với di sản, từ
đó có kế hoạch để đạt mục tiêu đề ra
+ Kỹ năng quản lý thời gian: Các buổi dạy học với di sản bao giờ cũng bị giới hạn bởi
thời gian, dù có vận dụng phương pháp dạy học theo dự án, nghĩa là HS có vài ngày, đôi khi vài
tuần để chuẩn bị, song thời gian vật chất dành cho việc này thực ra rất hạn chế. Điều đó đòi hỏi
HS phải biết lên kế hoạch, sắp xếp thời gian và tuân thủ đúng kế hoạch đã định mới có thể thực
hiện đầy đủ các công việc và cuối cùng có sản phẩm theo dự kiến. Nếu biết tuần tự thực hiện các
bước trong cả quá trình, HS sẽ tránh được căng thẳng do áp lực công việc gây nên. Quản lí thời gian
tốt góp phần rất quan trọng vào sự thành công của cá nhân và của nhóm.
+ Kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin :


Học sinh biết cách thu thập thông tin, chuẩn bị những dụng cụ để tìm kiếm thông tin,
biết cách sắp xếp các thông tin thu thập được, từ đó tổng hợp, so sánh, đối chiếu lý giải các
thông tin thu thập được
d, Các bước xây dựng kế hoạch dạy học gắn với di sản
Bước 1 : Lập danh mục di sản văn hóa tại địa phương
Để có được danh mục đầy đủ nhất, giáo viên cần:
- Hiểu được khái niệm và biết cách nhận diện di sản văn hóa;

chức chương trình ngoại khóa. Nếu là tiết học thì chú ý thiết kế các hoạt động học tập cho học
sinh, sử dụng các phương pháp và kĩ thuật dạy học tích cực phù hợp. Nếu là chương trình ngoại
khóa thì có thể tổ chức dưới dạng cuộc thi giữa các đội chơi
3. Nghiên cứu, tìm hiểu về di sản trong thực tế
Giáo viên tổ chức cùng học sinh nghiên cứu thực tế, khảo sát tại nơi có di sản. Việc tổ chức
nghiên cứu, tìm hiểu về di sản trong thực tế không nên quá dài và nên chia thành 2 đợt, mỗi đợt
khoảng 1-2 ngày:
- Đợt 1: Tiến hành thu thập thông tin tại nơi có di sản thông qua cách thức phỏng vấn, ghi âm,
chụp ảnh, quay phim, v.v. và kiểm chứng tính phù hợp của di sản với nội dung bài học. Kiểm
chứng hoạt động học đã gợi ý có phù hợp với yêu cầu nội dung và thời lượng bài học hay
không. Xác định hình thức tổ chức dạy học: trên lớp hoặc tại di sản (Bài học tại thực địa)...
Nghiên cứu khả năng mời người nắm giữ, thực hành di sản tại địa phương tham gia vào hoạt


động dạy học.Trong dđợt 1 GV nên vận dụng đánh giá quá trình, sử dụng phương pháp đánh
giá bằng quan sát trực tiếp của mình đối với các họat động của các em trong suốt quá trình HS
học tập với di sản.
Để quan sát và đánh giá được mức độ đạt kết quả làm việc với di sản của HS, GV cần:
+ Xác định mục tiêu đánh giá, địa điểm, thời gian và đối tượng quan sát;
+ Xây dựng phiếu kiểm hoặc bảng tiêu chí quan sát, thang xếp hạng;
+ Căn cứ vào phiếu kiểm hoặc bảng các tiêu chí để ghi kết quả quan sát
- Đợt 2: Bổ sung tư liệu còn thiếu sau khi chỉnh sửa lại kế hoạch bài học. Chuẩn bị hiện vật,
phương tiện, đồ dùng phục vụ cho bài học.
Trong trường hợp không có điều kiện để tổ chức nghiên cứu, tìm hiểu tại thực tế, giáo viên với
sự trợ giúp của cán bộ văn hóa có thể tìm hiểu sâu về di sản thông qua các buổi nói chuyện,
thuyết trình, giảng dạy của các nhà nghiên cứu về từng di sản văn hóa cụ thể hoặc thông qua
các nguồn tư liệu phát hành chính thức và các cơ quan quản lý văn hóa.
4. Bổ sung, điều chỉnh kế hoạch bài học
Dựa trên các nguồn tư liệu đã thu thập (sách, báo, tạp chí, băng đĩa, bài báo nghiên cứu, phỏng
vấn, bài viết của nhà nghiên cứu, v.v.) và tư liệu thu thập từ nghiên cứu thực tế, giáo viên phối


- Di sản văn hóa vật thể: Đền dâu thuộc địa phận phường Nam Sơn –TP Tam Điệp –
Ninh Bình, đền Quán Cháo thuộc địa phận phường Tây Sơn –TP Tam Điệp –Ninh Bình đã
được công nhận là di sản vật thể cấp tỉnh, đặc biệt khu danh thắng Tràng An là di sản thiên
nhiên hỗn hợp đầu tiên của Việt Nam trên thế giới
- Trường THPT Ngô Thì Nhậm thuộc thôn 4B, xã Đông Sơn, thành phố Tam Điệp, tỉnh
Ninh Bình. Đối tượng học sinh của trường THPT Ngô Thì Nhậm bao gồm nhiều học sinh có hộ
khẩu thường trú tại các phường trên địa bàn thành phố, trong đó có rất nhiều gia đình học sinh
ở gần đền dâu, quán cháo.
Học sinh ở tất cả các lớp đều có khả năng thu thập, tìm kiếm tư liệu (tư liệu hóa học,
tranh ảnh) thông qua hoạt động thực tế, trải nghiệm ở di sản gần khu vực nơi cư trú.
- Về phương tiện dạy học: nhà trường đã tiến hành tổ chức cho học sinh khối 12 cùng
với giáo viên nhóm Hóa học đi học tập trải nghiệm tại di sản văn hóa danh thắng Tràng An, đề
Dâu, đền Quán cháo.
-Sử dụng di sản trong dạy học ở trường phổ thông hiện nay nhằm đổi mới nội dung,
chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học ở trường phổ thông, trong đó coi trọng
giáo dục lý tưởng, giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, văn hóa, đạo đức, lối sống, năng
lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, ý thức trách nhiệm xã hội là một hoạt động có ý nghĩa quan
trọng và thiết thực trong tình hình hiện nay.
-Giáo dục di sản là một trong những phương pháp nhằm bảo tồn và phát huy giá trị di
sản văn hóa. Việc sử dụng di sản văn hóa trong dạy học ở trường phổ thông góp phần đổi mới
phương pháp dạy học theo hướng tích cực. Qua đó, bài học trở nên sinh động, hấp dẫn và giúp
học sinh hứng thú, tiếp thu bài tốt hơn.
*Các bước tiến hành dạy học gắn với di sản địa phương cho Kim loại kiềm thổ và hợp
chất
- Bước 1: Giáo viên xây dựng kế hoạch giáo dục, soạn giáo án chi tiết, tỉ mỉ dựa trên các
tài liệu Hướng dẫn dạy học môn hóa học, tài liệu giáo dục địa phương tỉnh Ninh Bình., tài liệu
dạy học gắn với di sản..
- Bước 2: Lập bảng hệ thống các nội dung sử dụng di sản.
- Bước 3: Liên hệ với một số hộ gia đình thuộc ở gần di sản đền dâu, quán cháo, , ban

4

25/3

5

26/331/3

6
7
8

Trong
tháng 3
1/4
2-14/4
9-14/4

9
10

9-15/4

Nội
dung Người
công việc
hiện

Tổ chức đi tham quan học tập
tại di sản

mượn hội trường, cơ sở vật
chất…
Chuẩn bị máy chiếu, máy tính,
chuông, đèn, bục, biển hiệu…
Sơ duyệt phần thi năng khiếu
tại trường
Văn nghệ ( 2 tiết mục)

Đ/c
Nguyễn
Chung

BGH

Nhóm hóa học,
HS các đội thi

Đ/c Tuân,
Đoàn TN
Đ/c Tuân
SVTT

Đ/c Thoa

Đoàn TN

Chuẩn bị tài liệu, chế độ, hoa
quả, nước uống..

Đ/c Nhài

Thời gian

13h-13h30

13h.15phút

3

13h.30phút

Nội dung công việc

Người thực
hiện

Phụ trách sân khấu,
kiểm tra âm li, loa đài, lắp
Đ/c Việt, Tuân
đặt máy chiếu, chuông
đèn…
Tập trung học sinh khối 12
Đ/c Hưng,
Đón tiếp khách

Đ/c Hồng + tổ
Lí- Hóa- SinhCN

4

14h

trách của phòng
Văn hóa TP

Đ/c Đ. Hiền

GVCN, SVTT
Tổ Văn phòng,
SVTT
Đ/c Thực, Nhài
Tổ Lí –HóaSinh, SVTT

Đ/c N.
Chung

3. Nội dung
-Khối lớp 12 gồm có 6 lớp, tổng số học sinh là 214 em.
-Tổ chức cho học sinh đi tham quan trải nghiệm tại các địa điểm: Khu du lịch sinh thái Tràng
An (Hoa Lư), và 2: di tích lịch sử Đền Dâu, Quán Cháo (Tam Điệp), cơ sở sản xuất thạch cao
- Hình thức báo cáo chuyên đề: Sân khấu hóa
- Tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả trải nghiệm tại di sản với 3 đội thi, mỗi đội thi gồm 6
em, cử 1 học sinh làm đội trưởng (Mỗi đội lấy 1 học sinh ở 1 lớp )
Mỗi đội sẽ trải qua 4 phần thi chính thức:
a. Phần thi khởi động
- Thời gian : 15 phút
- Nội dung: Giới thiệu đội chơi.
Mỗi đội có tối đa 5 phút để giới thiệu về đội mình
+ Đội 1: Tràng An
+ Đội 2: Đá vôi
+ Đội 3: Thạch cao
Điểm tối đa cho phần này là 30 điểm

thơ, diễn kịch, kể chuyện……
Yêu cầu nội dung có lồng ghép kiến thức hóa học và các vấn đề di sản ở địa phương
Điểm tối đa cho phần thi này là 40 điểm
Đội 1: Kịch Tấm cám chảy hội tràng an
Đội 2: Giới thiệu Tràng An bằng tiếng anh
Đội 3: Vẽ phong cảnh Tràng An
g. Phần trình diễn thời trang
Mỗi lớp 12 làm 1 sản phẩm với chủ đề : nét đẹp hồi sinh.
Nguyên liệu: sử dụng tái chế các nguồn nguyên liệu như giấy, túi bóng, nhựa…..


PH LC 3
KT QU THC HIN
* Phn thi khi ng
I I: Kch lý trng- m p

Lý Trởng: Thu đi để lại lá vàng
Anh đi để lại cho nàng thằng cu
Mùa thu nối tiếp mùa thu
Thằng cu nối tiếp thằng cu ra đời
hay, sao ang ngõm th m li ti ca nh con p th nh (ngú nghiờng)
ngi õu, sao cửa giả lại mở toang hoác thế này?
(tiếng chó sủa, tiếng quát chó của LT)
Mẹ Đốp:thằng nào sớng tên bà ngoài đấy thế hả?
Lý Trởng: tao đây chứ ai (dùng gậy đánh MĐ)
Mẹ Đốp:Mày ,ối ối, thấy Lý a. thầy bớt nóng, em lại cứ tởng thằng nào.đến
tán tỉnh em chứ (..)
Lý trởng: mày tởng my là ai, Tây Thi chắc. Trông nh thị nở đội mồ sống
dậy ý. Mà công nhận nom mẹ đốp dạo này cũng phổng phao gớm nhỉ
Mẹ Đốp : Dạ, nhờ hồng phúc của thầy mà con mới đợc nh vậy đấy a

Lý Trởng: c no? a no dỏm xuyờn tc ụng nh theses, ụng l ụng..
M p: ụng i,( Thp thũ cỏi phong bỡ) Con cú qu cho ụng õy.
Lý trng: ( mt sỏng lờn) Thụi, ca n lm gỡ ụng khụng nhn õu, my mang v i (Tay võn
vờ)
Lý trng: i quanh khỏn gi núi nh: n da b ri
Quay vo: Thụi ụng c nhn i m
Lý trng( nhn phong bỡ ci sung sng): My tht, ụng xin.
Va gi phong bỡ va núi: M b nú! Mi sỏng sm ó cú qu ri.
M phong bỡ xong mt ngc nhiờn, mt tr ra: Cỏi gỡ õy, giy mi i thm di sn ? Th m
my ỳp ỳp m m lm ụng tng b.
M p: ci sung sng.
Lý trng ( mt nght ra): Vy mi cỏi gỡ my c to cho ụng nghe xem no?
M p: Cm phong bỡ c to: Lý trng tip ch
Lý trng vi qu xung : Thn xin lnh ch
M p( ci hi hớ): Ngoan lm, ngoan lm
Lý trng ( Vi vng ng dy): Quỏt to: Con ny b lỏo, my la c ụng ?
M p: Thỡ ụng cng phi con oai vi i tớ ch, Thụi thụi, ụng con c ụng nghe:
S giỏo dc v o to Ninh Binh t chc cho cỏc em hc sinh lp 12 vo tham quan v hc
tp ti di sn vn húa Trang An, mi ụng i cựng vi cỏc chỏu.
Lý trng: ễng cng c mi c ? Võy bao gi i?
M p: i ngay bõy gi luụn ụng
Lý trng: thỡ i, m i Trang An lm gỡ?
M: D, trng NTN chun b cho chuyờn ngoi khúa mụn húa hc nờn t chc cho cỏc em
HS i tri nghim hc tp ụng


Lý Trëng: chó điên có 1 muà thế mày điên mấy mùa hả đốp?Học cái gì ở đấy? đến đó để
ngắm cảnh thôi chứ? Ngắm cảnh thì ông không đi đâu, kẻo lật thuyền thì bỏ mẹ
Mà ông nghe nói thịt dê ở đó ngon lắm hả đốp?
Mẹ Đốp: Ông chả biết cái gì, Suốt ngày chỉ nghĩ đên ăn với chả ….

Hôm nay đội ta cùng đi trải nghiệm, mọi người xin một tràng pháo tay
- Rap:
Giỏi giang năng nổ đội trưởng Kế Hoàng
Siêng năng chăm chỉ là bạn Hoàng Anh
Kiến thức tiếng anh Duy Nam đảm nhiệm
Tình huống tùy biến Minh Đức sẵn sàng


Hùng biện thông minh có ngay Hồng Ngọc
Trịnh Hà xinh đẹp lại còn tài năng
Đi thi lần này quyết giành chiến thắng
- Đến đội tôi, từng thành viên trông vui tươi,
Đến đội tôi bao nhiêu năm rồi và còn lại đến sau này
Hôm nay mình đi thi khởi động chỉ đội Đá mình là nhất thôi
Ơi bạn ơi, nhìn đội tôi hôm nay xinh không, tươi không, vui không
Ơi bạn ơi hôm nay đội tôi phải nhất mới về
- Nói: Đội đá vôi xin kính chào các quý vị đại biểu, thầy cô giáo cùng toàn thể các bạn HS
thân mến
Với tinh thần giao lưu học hỏi đoàn kết đội đá vôi xin kính chúc quý thầy cô giáo và các bạn
HS lời chúc sức khỏe hạnh phúc, chúc hội thi thành công tốt đẹp.Phương châm của đội chúng
em là(băng rôn):
Đoàn kết- đoàn kết- đại đoàn kết
Thành công thành công đại thành công


ĐỘI III: Làm thí nghiệm với đá khô

Chi: hải ơi có nhà không, bọn tớ đến rồi này
Hải: ( trong sân khấu) sao bay giờ các cậu mới đến, vào đi của không khóa đâu
Chi: đang chuẩn bị cho lễ kỉ niệm 1050 năm nước Đại Cồ Việt nên đường tắc lắm,mãi chúng tớ

Hải : Dạ! Chúng cháu xin lỗi bác, chúng cháu đang làm thí nghiệm chuẩn bị cho phần chào hỏi
của buổi ngoại khóa môn hóa học trường Ngô Thì Nhậm ạ. (mời bác ngồi)


Bác hàng xóm: ngoại khóa cơ à ( mời bác ngồi ) . thế chắc các chấu học giỏi hóa lắm nhỉ. Để
bác thử tài các cháu tí xem nhé . Thế các cháu có biết vật liệu nào dùng để cách âm không ?
Hải : Dạ có thưa bác . bá hỏi đúng chuyên môn của cháu rồi đấy ạ . vật liệu thường được sử
dụng để cách như bông thủy tinh, cao su non, túi khí, xốp PE và thạch cao .
Chi: Bác ơi thạch cao cũng là tên gọi của đọi chúng cháu đấy .
Bác hàng xóm : các cháu giỏi quá . bác chúc các cháu làm tốt nhé .
Tất cả: Chúng cháu cám ơn bác .
Hải: Đội thạch cao chúng em đến với cuộc thi với tinh thần học hỏi đoàn kết. Đây là các thành
viên của đội chúng em
Chuyên gia vô cơ: bạn Thủy, chuyên gia hữu cơ: bạn hằng
Tinh tường nhất về kim loại có bạn Chi, giỏi nhất về phi kim là bạn hải anh
Ông hoàng hóa học hữu cơ là bạn tân còn em, đăng hải chuyên gia thí nghiệm
Đội thạch cao chúng em Chúc buổi ngoại khóa thành công tốt đẹp.
* phần thi vượt chướng ngại vật

Câu 1:

Muối gì tạo váng cứng
Trên mặt nước hố vôi
Đàn kiến qua lại được
Vớt bỏ lại sinh sôi
Muối được nhắc tới trong 4 câu thơ trên là:
A. CaSO4
B. Ca(HCO3)2
C. CaCO3
D. Ca(OH)2

Đáp án: Măng đá là một dạng trầm tích hang động.Sự hình thành măng đá tương tự như với
nhũ đá nhưng măng đá được hình thành tử nền hang động phát triển lên còn nhũ đá được hình
thành từ trần hang động đi xuống
Câu 6. Khi bị kiến hoặc ong đốt chúng ta thường sử dụng chất nào sau đây để bôi vào vết đốt?
A. Vôi tôi
B. Dấm ăn
C. Nước chanh
D. Nước
Đáp án: A
Câu 7 Chất nào dưới đây được sử dụng để nặn tượng, làm khuôn đúc, làm vật liệu xây dựng và
bó chỉnh hình trong y học ?
A. CaSO4.2H2O
B. MgSO4.7H2O
C. CaSO4
D. CaSO4.H2O
Đáp án D
Câu 8. Mời bạn theo dõi video sau
Đáp án:
Que đóm tắt ngay vì khí CO2 không duy trì sự cháy
còn Mg là kim loại có tính khử mạnh nó tiếp tục cháy trong CO2
theo phản ứng CO2 + 2Mg → 2MgO + C.
Phản ứng cháy tỏa nhiệt mạnh và phát sáng
Câu 9. Cho một dung dịch nước cứng chứa: 0,05 mol Mg2+ ; 0,03 mol Ca2+ ; 0,14 mol Na+ ; 0,09 mol
HCO3 ; và 0,08 mol SO 24  và 1 ion nào trong số các ion sau:

A. 0,05 mol NO3
B. 0.05 mol OHC. 0,1 mol K+

Đáp án: A


ngọn đồi từng mô đất, từng hang động tất cả đều có câu chuyện riêng của nó chúng ta cùng đi
tìm hiểu câu chuyện ấy. tại sao đá vôi lại có sức mê hoặc như vậy. Thành phần chính của đá vôi
là CaCO3 được hóa thạch từ xương và vỏ của các sinh vật đại dương
hang đá vôi là sản phẩm CaCO3 + H2O + CO2 - Ca(HCO3). Khí CO2 hòa tan vào nước đại
dương cộng các ion H+ tạo thành H2CO3 dung dịch H2CO3 lan theo đất cát thấm qua khe đá
gặp đá vôi thành khe trống lớn dần tạo các hang động
Bên trong hang động đá vôi có cấu trúc như nhũ đá, măng đá và cột đá
Đây là nhũ đá, hay còn gọi là thạch nhũ được hình thành khi NƯỚC suối ngầm
Chảy qua hang động đá vôi làm tan một phần đá vôi theo phương trình
CaCO3+ CO2 +H2O… Ca(HCO3)2 làm cho dòng nước chảy từ trên xuống gặp đk thuận lợi
phân hủy thành CaCO3 và lắng lại thành nhũ đá có hướng từ trên xuống nên chúng ta phải cẩn
thận chạm đầu
Lúc đó phần nước rơi xuống sàn hang gặp đk thuận lợi cũng tạomăng đácó hướng từ dưới lên,
nên phải cẩn thận đi trong hang kẻo vấp chân
sau thời gian rất dài nhũ đá và măng đá gặp nhau một thời điểmtạo nên cột đá quá trình này
mất hàng nghìn năm hoặc vài nghìn năm
không chỉ mỗi tràng an vẻ đẹp được tạo ra từ nhũ đá mà còn một số nơi khác như phong ha
kẻ bảng ở Quảng Bình,Cát bà…
vậy nên khi đi du lịch các hang đá vôi chúng ta phải chú ý an toàn,cùng một lúc không vào quá
đông vì trong hang đá vôi lượng CO2 lớn
Trải qua hang nghìn năm kiến tạo mà hình thành nên địa hình như ngày nay.
Ngồi trên thuyền chúng em không những được ngắm cảnh mà còn được bác lái thuyền kể cho
nghe rất nhiều câu chuyện lịch sử qua những hình ảnh sông núi
Như Vua Đinh Tiên hoàng, Đinh bộ lĩnh , Lê đại Hành cùng với các sự tích về các hang động
tại sao gọi là hang sáng ,hang tối ,hang địa linh với những câu chuyện tình tạo nên hang si hang
tình hang múa,sự tích về hang nấu rượu…
Mỗi khi qua một hang chúng em lại có những cảm nhận khác nhau nhưng tất cả đều trong
xanh uốn lượn thật là sơn thủy hữu tình.Hàng ngày tiếng nhũ đá nhỏ nước tí tách cùng tiếng
sóng vỗ vào vách hang hòa thành hợp âm tuyệt diệu. (hình ảnh vào hang , nhũ đá)Đay là
hang Hang Địa linh:.là 1 trong rất nhiều hang động điển hình cho loại địa hình cát tơ

ta cùng tìm hiểu ứng dụng của canxi cacbonat trong các di sản văn hóa ở Tam Điệp. Đó là 2 di
tích lịch sử đền dâu và đền quán cháo
Đền Dâu quán Cháo gắn liền với các truyền thuyết từ xa xưa ở vùng núi Tam Điệp. Ngôi
đền gắn với nhiều câu chuyện ly kỳ càng khiến du khách hấp dẫn hơn mỗi khi đến với nơi
thiêng liêng này.
Đền Quán Cháo thuộc địa phận phường Tây Sơn, thành phố Tam Điệp tỉnh Ninh Bình,
đền có tên chữ là Chúc Sơn Tiên Từ (nghĩa là: Đền Tiên núi Cháo) thờ Liễu Hạnh Công chúa –
một trong tứ bất tử của điện thần Việt Nam. Tương truyền Mẫu Liễu hiển linh thành bà chủ
quán nước để phục vụ khách qua đường khi vượt đèo Ba Dội cổ, Khi vua Quang Trung kéo
quân ra Bắc phá giặc Mãn Thanh vào cuối năm 1788, Bà đã nấu cháo khao quân, sau ngày
thắng trận trở về nhà vua cho lập đền và đặt tên như hiện nay.
Cùng nằm trên đường quốc lộ 1A và cách đền Quán Cháo 3km là đền Dâu ,đền có tên
chữ là Tang Dã Linh Từ(nghĩa là: Đền Thiêng nương Dâu), cũng gắn với sự tích hóa thân của
thánh mẫu vào người con gái bản địa để dạy nhân dân trồng dâu nuôi tằm. Tại di tích còn gắn
với những sự kiện lịch sử được truyền lại như: Chúa Trịnh Tùng phò tá vua Lê thống lĩnh ba
quân vượt đèo Ba Dội để đánh ra Đông Kinh(Hà Nội) có qua và nghỉ lai Đền Dâu(TK 161592) hay vào năm 1788 khi Hoàng đế Quang Trung tập kết hơn 10 vạn quân ở Tam Điệp có
dựng hành cung ngay tại Đền Dâu
Kính thưa các vị đại biểu, các thầy cô giáo và các bạn học sinh: Kiến trúc đền Dâu quán
Cháo tương đối bề thế. Đền có kiến trúc theo lối chữ “nhị”(=) và hậu cung hình chuôi vồ.


- Phía trước sân đền là tấm bia ghi lại năm tháng trùng tu đền
. Đền được bao quanh bởi tường hoa, trước sân đền có đắp cảnh núi Ngũ Hành Sơn, hay những
chú voi bằng đá rất đẹp với những kỹ xảo tinh vi.
Qua bậc tam cấp bằng đá, chúng ta bước vào không gian bên trong của cung đệ tam,
cung đệ nhị, và cung đệ nhất (Cung cấm) vị trí trung tâm có ban thờ và tượng Liễu Hạnh Công
Chúa đặt trong khám sơn son thếp vàng. Đền còn thờ đức thánh Trần Hưng Đạo và hệ thống
hoàng cô cậu theo tục thờ điện, phủ mẫu
Đặc biệt trong đền có các cột đá xanh. Trên các cột đá chạm trổ rồng mây, có chạm khắc
các câu đối ngợi ca, tán dương công đức Thánh Mẫu và sự tích Hoàng đế Quang Trung bái kiến

Từ thời cổ đại con người đã biết sử dụng thạch cao để phục vụ cho nhu cầu cuộc sống.
5.000 nghìn năm trước “đặc tính” của trần thạch cao đã được khám phá, người Ai Cập cổ đại đã
biết đốt hở thạch cao trên lửa, sau đó nghiền thành bột và trộn bột này với nước để làm vật liệu
trám trét giữa các khối đá trong lăng mộ, xây lên những kim tự tháp vĩ đại. Tiếp đó, đến người
Hy Lạp cũng sử dụng thạch cao trong các đền đài của họ.
Đến thời người La Mã cũng đã đúc hàng ngàn bản sao các bức tượng Hy Lạp bằng thạch cao.
Vào năm 1888, hãng Sackett Hoa Kỳ phát minh ra “máy” sản xuất tấm thạch cao.Tới năm
1901, nhà máy sản xuất tấm thạch cao đầu tiên trên thế giới được xây dựng tại Hoa Kỳ.
Khi nhắc đến Thạch Cao nhiều người mặc định rằng đó là vật liệu làm từ hóa chất, mà
đã làm từ hóa chất thì đồng nghĩa với việc coi nó là một chất độc. Tuy nhiên, khoa học đã kiểm


chứng thạch cao không hề độc hại. Bởi vì, tấm thạch cao không chứa hỗn hợp Ami-ăng và chất
gây ung thư. Ngay cả trong trường hợp hỏa hoạn xảy ra, tấm thạch cao không sản sinh ra khí
độc hại. Do đó, tấm thạch cao được cho là một vật liệu “xanh” không có tác động tiêu cực đến
môi trường, sử dụng an toàn.
Thạch cao tồn tại dưới dạng tự nhiên được khai thác từ mỏ dưới dạng các tảng đá tựa
như đá vôi. Nguồn khoáng thạch cao có khắp nơi trên thế giới, ở Đông Dương, Lào là nước có
trữ lượng lớn nhất. Ở Việt Nam có mỏ thạch cao trữ lượng khá lớn nằm ở Sơn La. Song đến
nay sự khai thác và chế biến quy mô vẫn chưa được áp dụng.
Thạch cao hiện nay được dùng nhiều trong 4 lĩnh vực chính: trong y học, trong mỹ
thuật, trong lĩnh vực vệ sinh, trong xây dựng.
Hình ảnh những người bệnh sử dụng bột để cố định xương gãy chắc cũng không quá xa
lạ với chúng ta. Vậy có khi nào bạn nghĩ đến bột mà người ta dùng là gì không. Đó chính là
thạch cao. Do đặc tính bột thạch cao có tính chất hút nước và rắn lại khi khô và nhẹ.Tính chất
rắn lại để làm định hình cố định nơi bó hơn nữa nó nhẹ nên không vướng.
Trong y học thạch cao còn được dùng để làm khuôn (dấu) và chất lấy khuôn để làm răng
và nó cũng là 1 vị thuốc.
Thanh nhiệt tả hoả, trừ phiền chỉ khát.
Thạch cao sống rửa sạch, tán nhỏ chữa sốt cao, khát nước, miệng khô, đau đầu,

Những giọt nước trên đá mài sẽ giúp các vết gấp đều nhau. Đó là khâu sản xuất những tấm



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status