ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG HẠNH
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỂ HỘ TỊCH
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN PHUỜNG - QUA THỰC
TIỄN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
HÀ NỘI - 2016
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
NGUYỄN HỒNG HẠNH
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỂ HỘ TỊCH
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN PHUỜNG - QUA THỰC
TIỄN QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp - Luật Hành chính
Mã số: 60 38 01 02
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: TS. NGUYỄN THỊ MINH HÀ
LỜI CAM ĐOAN
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH........................................30
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật về hộ tịch...................... 30
1.2.2. Vai trò của thực hiện pháp luật về hộ tịch.......................................... 34
1.2.3. Hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch............................................36
1.2.4. Nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch.............................................39
1.2.5. Yêu cầu đảm bảo thực hiện pháp luật về hộ tịch................................42
Chương 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH
CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN PHƯỜNG, QUẬN LONG BIÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI..................................................................... 48
2.1.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.
2.2.4.
TỔNG QUAN VỀ QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI.....48
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HỘ TỊCH CỦA
ỦY BAN NHÂN PHƯỜNG, QUẬN LONG BIÊN...........................52
Ban hành các văn bản nhà nước đối với hộ tịch.................................52
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch trên địa bàn các phường...53
Hoạt động đăng ký hộ tịch trên địa bàn các phường..........................54
Đội ngũ cán bộ công chức làm công tác hộ tịch.................................59
2.2.5.
2.2.6.
2.3.
2.3.1.
2.3.2.
3.2.
3.2.1.
Tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
hộ tịch để nâng cao ý thức và thay đổi nhận thức của người dân.........79
3.2.2. Xây dựng chức danh Hộ tịch viên......................................................81
3.2.3. Xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.............................................. 82
3.2.4. Bảo đảm các điều kiện về phương tiện, cơ sở vật chất cho công
tác hộ tịch...........................................................................................85
3.2.5. Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ công chức hộ tịch...........86
3.2.6. Tăng cường công tác hướng dẫn, kiểm tra, thanh tra đối với
hoạt động đăng ký hộ tịch..................................................................88
KẾT LUẬN.................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO............................................................................ 94
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
Bảng 2.1:
Tên bảng
Trang
Bảng theo dõi tình hình biến động dân số quận Long
Biên
51
tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa
Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.
Thực hiện pháp luật về hô ṭ ic̣ h
tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công
nhâ
và baỏ hô ̣quyền con ngươì , quyền, nghĩa vụ công dân . Đồng thời quản
n
lý hộ tịch còn góp phần vào các
biên
phaṕ quan̉ lý dân cư
môt
cá ch khoa hoc̣ ,
phục vụ cho việc xây dựng , hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội,
an ninh - quốc phòng của đất nước.
Trong bố i cả nh đấ t nướ c bướ c sang giai đoan phá t triên̉mớ i , tiêń trình
công
nghiêp
hoá ,
hiên
đa hóa, hôi nhâ quố c tế
i
p
diên
8
của công dân; đồ ng thờ i tao sự chuyên̉biêń maṇ h mẽ công tá c thực hiện pháp
luật về hô ṭ ic̣ h theo hướng tƣ̀ ng bước chuyên nghiêp
, phù hợp với yêu cầu
phát triển của đất nước trong thời ky mới.
Nhận thức được vị trí và vai trò quan trọng của công tác thực hiện pháp
luật hộ tịch mà trong 10 năm qua từ khi thực hiện Nghị định 158/2005/NĐ-CP
ngày 27/12/2005 của Chính phủ về đăng ký và quản lý hộ tịch, trên địa bàn
Thành phố đã có nhiều chuyển biến tích cực, các sự kiện đăng ký hộ tịch của
nhân dân cơ bản được thực hiện kịp thời và đúng quy định của pháp luật; công
tác phổ biến giáo dục pháp luật về hộ tịch được chú trọng triển khai đến tận cơ
sở. Nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật về hộ tịch của nhân dân được nâng
lên; đội ngủ cán bộ làm công tác hộ tịch cơ sở được quan tâm, củng cố về số
lượng và kỹ năng thực hiện nghiệp vụ; các loại sổ sách, biểu mẫu hộ tịch được
hỗ trợ và cung cấp kịp thời đáp ứng yêu cầu quản lý Nhà nước.
Trên thực tế, công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch vẫn còn một số tồn
tại, bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính và cải cách tư pháp
trong giai đoạn mới, tình trạng các cơ quan, tổ chức, đoàn thể chưa xác định
đúng giá trị pháp lý của giấy tờ hộ tịch, còn gây nhiều khó khăn cho công dân.
Thực trạng trên có nguyên nhân xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ quy định
của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch của một bộ phận cán bộ, công
chức và nhân dân; sự phối hợp thiếu nhịp nhàng giữa các cơ quan nhà nước
trong việc giải quyết những sai sót trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân; công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý về đăng ký và quản lý
hộ tịch chưa thực sự sâu rộng; năng lực của một số công chức còn hạn chế.
Tuy công việc liên quan đến nhân thân của một con người và cũng liên quan
và
có
hi
ệu
kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2016. Đây là lần đầu tiên Nhà nước ta
ban hành văn bản Luật điều chỉnh riêng lĩnh vực này sau hơn 60 năm
thực hiện bằng các nghị định của Chính phủ và thông tư của các Bộ.
Luật Hộ tịch ra đời là bước hoàn
thiện khá căn bản về thể chế đăng ký và quản lý hộ tịch của Việt Nam
với nhiều quy định mới, mang tính đột phá. Bên cạnh những điểm
mới của Luật hộ tịch, thì vẫn tòn tại một số hạn chế về thể chế gây
khó khăn cho cơ quan hộ tịch khi áp dụng, người dân cũng khó phân
biệt việc hộ tịch của mình sẽ được áp dụng theo văn bản nào.
Quận Long Biên là một quận thuộc thành phố Hà Nội đang
trong giai đoạn phát triển với tỷ lệ tăng trưởng dân số cao nên công
tác thực hiện pháp luật về hộ tịch đóng vai trò rất quan trọng trong
việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế của quận.
Vì vậy, nghiên cứu công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch nói
chung cũng như ở thực tế quận Long Biên nói riêng nhằm làm rõ hơn
cơ sở lý luận, thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch và đưa
ra những ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ
tịch trên địa bàn quận Long Biên trong giai đoạn Luật hộ tịch vừa mới
có hiệu lực là việc cần thiết hiện nay. Đây chính là lý do tác giả lựa
chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về hộ tịch của Ủy ban nhân dân
phường - qua thực tiễn quận Long Biên, thành phố Hà Nội” làm
luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hộ
- Nguyễn Hữu Đính: Công tác tư pháp - hộ tịch ở cấp xã: những vấn đề lý luận
và thực tiễn ở tỉnh Bắc Giang, Luận văn Thạc sĩ Luật, Khoa Luật - Đại
học Quốc gia Hà Nội, 2008, tác giả trình bày thực trạng công tác tư pháp - hộ
tịch, phân tích ưu điểm và hạn chế trong công tác tư pháp - hộ tịch cấp xã trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang và đưa ra một số giải pháp tăng cường hiệu quả công
tác tư pháp - hộ tịch.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu, phân
tích toàn diện những vấn đề liên quan đến công tác đăng ký và quản lý hộ tịch
từ lý luận đến thực tiễn và đề xuất các giải pháp tăng cường hiệu quả của công
tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Tuy nhiên, trong bối cảnh Luật hộ tịch 2014 có
hiệu lực thì các công trình nghiên cứu trên chưa có tính thời sự. Chính vì vậy,
trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu liên quan, luận
văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn của việc thực hiện
pháp luật hộ tịch ở cấp phường trên địa bàn quận Long Biên trong giai đoạn
Luật hộ tịch 2014 bắt đầu có hiệu lực để từ đó đưa ra các giải pháp góp phần
nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch nói chung và trên
địa bàn quận Long Biên nói riêng.
3. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về hộ tịch và thực hiện pháp luật
về hộ tịch, phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch và đề xuất
những giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch cấp
phường trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống quy phạm pháp luật
điều chỉnh về lĩnh vực hộ tịch đặc biệt là Luật hộ tịch 2014 và thực tiễn việc
thực hiện pháp luật về hộ tịch cấp phường trên địa bàn quận Long Biên.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực hiện pháp luật về hộ tịch cấp
phường trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội từ năm 2013 đến 6
luật về hộ tịch của Ủy ban nhân dân phường, quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ HỘ TỊCH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH
1.1. HỘ TỊCH
1.1.1. Khái niệm hộ tịch
Xét từ góc độ ngôn ngữ học, “hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính
phụ, được ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố
chính, “hộ” là thành tố phụ. Nếu tìm hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy,
các từ điển hiện nay khá thống nhất trong cách hiểu từng từ đơn này. Theo đó
từ “hộ” có nhiều nghĩa khác nhau, nhưng trong đó có một nghĩa trực tiếp là
“dân cư” hoặc “nhà ở” hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những
người cùng ăn ở với nhau”. Tương tự từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “
sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Tuy nhiên việc tổ hợp hai từ đơn này thành
danh từ ghép “hộ tịch” lại là một trường hợp rất đặc biệt về mặt ngôn ngữ dẫn
đến có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch”.
Tác giả Nguyễn Văn Khôn đã nêu khái niệm “hộ tịch” trong cuốn Hán
- Việt từ điển xuất bản năm 1960 như sau:
“Hộ tịch: sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của
từng người” [21, tr.404].
Cũng có quan điểm tương tự với tác giả Nguyễn Văn Khôn, tác giả
Hoàng Thúc Trâm cũng nêu khải niệm “hộ tịch” trong cuốn Hán - Việt tân từ
điển xuất bản năm 1974 là:
“Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có
ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [36, tr. 292].
Hay tác giả Nguyễn Lân cũng trình bày giải nghĩa từ “hộ tịch” trong
cuốn Từ điển từ và ngữ Hán Việt xuất bản năm 1989:
“Hộ tịch: quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại
nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do
chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần” [14, tr.385].
Như vậy, nghĩa của từ “hộ tịch” xét về khía cạnh xã hội còn tồn tại
nhiều cách hiểu khác nhau. Theo quan điểm của tác giả, tác giả đồng ý với
cách giải nghĩa từ “hộ tịch” của tác giả Nguyễn Như Ý trình bày trong cuốn
Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998: “Hộ tịch: các sự kiện trong đời
sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [43, tr.835].
Về khía cạnh pháp lý, thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên được định nghĩa
trong các giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dưới chế độ
Việt Nam Cộng hoà, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau:
Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là người đầu tiên trình bày quan
niệm “hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo Hộ tịch chỉ nam xuất bản năm
1958 như sau:
“Hộ tịch - còn gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công
dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan
trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử" [36, tr.7].
Các tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa
khác về khái niệm “hộ tịch” trong cuốn Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến
luật xuất bản năm 1968 như sau:
"Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch
gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử" [24, tr.111].
Tác giả Trần Thúc Linh, tác giả cuốn Danh từ pháp luật lược giải xuất
bản năm 1965 - vốn được đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành
pháp lý đầu tiên - không đưa ra định nghĩa về khái niệm “hộ tịch” mà chỉ định
nghĩa khái niệm “chứng thư hộ tịch”:
Chứng thư hộ tịch là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh
xây dựng pháp luật đã dung hoà bằng giải pháp mà Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng khái niệm này với tư cách là một
thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản.
Theo đó, quy định tại Điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính
phủ ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch thì: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản
xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”.
Trước khi có Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, Bộ luật dân sự 1995 có
riêng một mục quy định về hộ tịch. Bộ luật dân sự 1995 không đưa ra khái
niệm “hộ tịch” mà chỉ định nghĩa về đăng ký hộ tịch tại điều 54 như sau:
1. Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận
sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi, thay đổi
họ, tên, quốc tịch, xác định dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự kiện
khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
2. Việc đăng ký hộ tịch là quyền, nghĩa vụ của mỗi người.
3. Việc đăng ký hộ tịch được thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp
luật về hộ tịch quy định [33, Điều 54].
Nghị định 158/2005/NĐ-CP tiếp tục sử dụng khái niệm “hộ tịch” đã
được định nghĩa trong Nghị định 83/1998/NĐ-CP: “Hộ tịch là những sự kiện
cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi
chết”. Cách định nghĩa này, thực chất chỉ là một sự ước định. Về giá trị biểu
đạt, với cách định nghĩa như vậy, sẽ chính xác hơn nếu coi đây là định nghĩa
cho thuật ngữ “sự kiện hộ tịch” chứ không phải thuật ngữ “hộ tịch”. Bên cạnh
đó, bản thân cách định nghĩa này cũng chưa xác định được rõ ràng nội
hàm
của khái niệm nên cùng với khái niệm “hộ tịch”, Nghị định 158/2005/NĐ-CP
còn nêu thêm khái niệm “đăng ký hộ tịch” bằng phương pháp mô tả như sau:
d) Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi;
đ) Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc
kết hôn;
e) Công nhận giám hộ;
g) Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị
mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
3. Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy việc kết
hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con; nuôi con
nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải
quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.
4. Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác theo quy
định của pháp luật [33, Điều 3].
Theo quan điểm của tác giả có thể hiểu khái niệm “hộ tịch” là những sự
kiện xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết:
khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch,
xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử, thay đổi quốc tịch; xác
định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi
con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn;
công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết,
bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Với mỗi vấn đề về hộ tịch thì có giấy tờ về vấn đề đó. Theo Nghị định
158/ 2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì: Giấy tờ hộ tịch do cơ
quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về
hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó. Giấy khai
sinh là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Mọi hồ sơ, giấy tờ của cá nhân có
nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc;
quốc tịch; quê quán; quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh
thuận lợi cho cơ quan Công an trong quá trình thực hiện nhập hộ khẩu, cấp
chứng minh nhân dân cho người dân, quản lý công dân… Ngược lại hộ khẩu,
chứng minh nhân dân là một trong những cơ sở cho việc đăng ký lại các sự
kiện hộ tịch. Trong một số trường hợp đương sự có hai thông tin khác nhau
thì cơ quan Công an không thể tiến hành tra cứu các dữ liệu hộ tịch của ngành
Tư pháp. Mặc dù Nghị định 158/2005/NĐ-CP có khẳng định Giấy khai sinh là
giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi người, nhưng do không hồ sơ, sổ bộ lưu nên khi
người dân bị mất Giấy khai sinh phải thực hiện đăng ký lại việc sinh thì Giấy
khai sinh này được cấp mới hoàn toàn theo những chứng cứ do người dân tự
cung cấp. Do cơ quan Công an cũng có một hệ thống hồ sơ lưu trữ riêng nên
không chấp nhận Giấy khai sinh được đăng ký lại này
là “giấy tờ hộ tịch
gốc”. Tuy nhiên từ khi Luật hộ tịch 2014 quy định xây dựng Cơ sở dữ liệu hộ
tịch điện tử để lưu giữ thông tin hộ tịch của cá
nhân (cùng với cơ sở dữ
liệu giấy), kết nối để cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ
sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Theo đó, Giấy khai sinh và Số định danh cá
nhân sẽ được cấp cho người được khai sinh khi đăng ký khai sinh. Mỗi hồ sơ
đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân phường sẽ được chuyển qua phần mềm
đến cơ quan công an để được cấp số định danh. Đối với người dưới 14 tuổi,
Số định danh cá nhân được ghi vào Giấy khai sinh và đây chính là số thẻ căn
cước công dân của người đó khi đủ tuổi được cấp căn cước công dân. Bộ
Công an và Bộ Tư pháp quản lý thống nhất, tập trung thông tin công dân từ
Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư cũng như giải quyết thủ tục hành chính
cho người dân.
Trên lý thuyết, giữa ngành Tư pháp và các ngành Nội vụ, Lao động Thương binh và Xã hội phải có sự phối hợp chặt chẽ đảm bảo sự chính xác
nhà nước, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nước để thể hiện ý chí của giai
cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí của nhà
nước, ý chí đó được cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do cơ quan
nhà
nước có thẩm quyền ban hành. Nhà nước ban hành và bảo đảm cho pháp luật
được thực hiện, vì vậy pháp luật là các quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc
đối với mọi người. Trong xã hội có giai cấp tồn tại nhiều loại quy phạm khác
nhau, nhưng chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, vì pháp luật do nhà nước, đại diện chính thức của toàn xã
hội ban hành nên nó còn mang tính xã hội. Vậy nên pháp luật là một hiện
tượng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội. Hai thuộc tính này
có mối liên hệ mật thiết với nhau. Mức độ đậm, nhạt của hai tính chất này của
pháp luật rất khác nhau và thường hay biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh
tế, xã hội, đạo đức, quan điểm, đường lối và các trào lưu chính trị xã hội trong
mỗi nước, ở một thời ky lịch sử nhất định.
Vậy nên có thể định nghĩa pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do
Nhà nước ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị
trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa là nhà nước của dân, do dân và vì dân, do đó pháp luật thể
hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Do đó,
pháp luật xã
hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện ý chí của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, dưới sự lãnh đạo của Đảng, do Nhà nước xã hội
chủ nghĩa ban hành và bảo đảm thực hiện bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà