LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đề tài nghiên cứu “Công tác Quản lý nhà nước về hộ tịch tại
Uỷ ban nhân dân quận Tây Hồ” là công trình nghiên cứu của cá nhân tôi không sao
chép của bất cứ ai. Tôi xin chịu mọi trách nhiệm về đề tài nghiên cứu của mình.
Người cam đoan
LỜI CẢM ƠN
Để bài tập lớn được hoàn thành, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cô, chú, anh,
chị tại UBND quận Tây Hồ đã cung cấp tài liệu, số liệu cần thiết để tôi bổ sung
vào bài tập. Đặc biệt tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến TS. Lê Thị Hiền – GV
Khoa Văn hóa - Thông tin và Xã hội đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập cũng như quá trình làm bài tập kết thúc học phần.
Với điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm còn hạn chế, bài tập lớn
không thể tránh khỏi được những sai sót. Tôi rất mong nhận được sự chỉ bảo, đóng
góp ý kiến của các thầy, cô để bài tập được hoàn thiện hơn và phục vụ tốt hơn cho
công tác thực tế sau này.
Xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
DS – KHHGĐ
: Dân số - Kế hoạch hoá gia đình
UBND
: Ủy ban nhân dân
HĐND
định chọn đề tài “Công tác Quản lý nhà nước về hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân
quận Tây Hồ” để làm đề tài thi hết học phần Nghiên cứu khoa học.
2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Công tác quản lý nhà nước về hộ tịch tại Ủy ban
nhân dân quận Tây Hồ.
- Phạm vi nghiên cứu: Tại Uỷ ban nhân dân quận Tây Hồ từ năm 2011 –
2016.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
- Mục tiêu nghiên cứu: Trình bày, đánh giá thực trạng công tác quản lý nhà
nước về hộ tịch tại Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ, qua đó đề ra những giải pháp để
nâng cao hiệu quả.
- Nhiệm vụ nghiên cứu:
• Xây dựng cơ sở lí luận của công tác quản lý nhà nước về hộ tịch;
• Tìm hiểu thực trạng của công tác quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa quận Tây
Hồ;
• Đề ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hộ tịch
5
trên địa bàn quận.
4. Lịch sử nghiên cứu đề tài
Đã có nhiều bài nghiên cứu, các luận văn, bài báo tạp chí đề cập đến hộ tịch
và các chính sách thực hiện hộ tịch, trong thời gian qua như:
- Bộ Tư pháp (2006), “Hướng dẫn nghiệp vụ Đăng ký và quản lý hộ tịch”,
NXB Tư pháp, Hà Nội;
- Phạm Trọng Cường (2004), “Về quản lý hộ tịch”, NXB Chính trị quốc gia,
Hà Nội;
- Trần Văn Quảng (2006), “Nâng cao năng lực đội ngũ công chức, tư pháp –
hộ tịch trong giai đoạn hiện nay”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật
- Vũ Đình Tuấn Phương (2005), “Cơ quan nhà nước cần tôn trọng quyền yêu
7
Chương 1
LÝ LUẬN CHUNG CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH VÀ
KHÁI QUÁT VỀ ỦY BAN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ
1. 1. Lý luận chung về quản lý nhà nước về hộ tịch
1.1.1. Một số khái niệm cơ bản
Quản lý là một hoạt động phức tạp và có nhiều chức năng. Quản lý ở góc độ
quản lý học là sự tác động có tổ chức có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối
tượng quản lý nhằm hướng hành vi của đối tượng đạt mục tiêu đã định trước.
Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy. Có tổ chức thì mới phân
định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người
tham gia hoạt động. Có quyền uy thì mới đảm bảo sự phục tùng của cá nhân đối
với tổ chức, quyền uy là phương tiện quan trọng để chủ thể quản lý điều khiển, chỉ
đạo cũng như bắt buộc các đối tượng quản lý thực hiện các yêu cầu, mệnh lệnh của
mình.
Quản lý nhà nước (QLNN) là dạng quản lý xã hội. Chính vì nó là dạng quản
lý xã hội nên nó có đặc trưng của quản lý xã hội.
Hộ tịch là những sự kiện được quy định trong luật, xác định tình trạng nhân
thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết.
QLNN về hộ tịch là hoạt động quản lý con người, hoạt động quản lý hộ tịch
hướng đến đối tượng quản lý là các đặc điểm nhân thân làm nên căn cước của mỗi
cá nhân.
Quản lý hộ tịch (QLHT) là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính
quyền các cấp nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó
bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình.
1.1.2. Nội dung của quản lý nhà nước về hộ tịch
Nội dung QLNN về hộ tịch được xác định cụ thể trong hệ thống các quy
Quản lý hộ tịch là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các
cấp nhằm theo dõi thực trạng và sự biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo vệ các
quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình. Đồng thời, góp phần xây dựng
chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh và quốc phòng, dân số và kế hoạch hoá gia
đình. Mọi sự kiện hộ tịch phải được đăng ký kịp thời chính xác, mỗi một sự kiện
hộ tịch chỉ được đăng ký ở một nơi theo đúng thẩm quyền quy định. Cơ quan quản
lý hộ tịch cấp trên phải thường xuyên kiểm tra, đôn đốc, hướng dẫn, chỉ đạo đối
9
với cơ quan quản lý hộ tịch cấp dưới, trường hợp phát hiện thấy sai phạm phải
chấn chỉnh và xử lý kịp thời. Xác định được vai trò quan trọng của việc đăng ký,
quản lý hộ tịch nên ngay từ tháng 01 năm 1961, Hội đồng Chính phủ đã ban hành
Nghị định số 04/CP ngày 16/01/1961 về ban hành điều lệ đăng ký hộ tịch. Từ đó
đến nay, các chính sách về hộ tịch thường xuyên được điều chỉnh, bổ sung và thay
thế cho phù hợp với tình hình phát triển của đất nước.
1.1.4. Thẩm quyền quản lý nhà nước về hộ tịch
Quản lý hộ tịch là một nội dung QLNN trong lĩnh vực hành chính tư pháp,
do vậy, chủ thể quản lý cao nhất đối với hoạt động này là Chính phủ - cơ quan
hành chính nhà nước cao nhất của nước ta. Tuy nhiên, với vị trí pháp lý là cơ quan
đứng đầu hệ thống hành pháp, có quyền quyết định tối cao đối với việc giải quyết
mọi vấn đề thuộc địa hạt quản lý nhà nước trong lĩnh vực, trên phạm vi toàn quốc
(trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
Chủ tịch nước), Chính phủ được coi là chủ thể quản lý đặc biệt. Xét về tính chất
hoạt động, hoạt động quản lý của Chính phủ được thực hiện theo chế độ lãnh đạo
tập thể, hoạt động quản lý trên từng lĩnh vực đều phải thông qua các cơ quan quản
lý nhà nước chuyên ngành thuộc cơ cấu của Chính phủ (Bộ, cơ quan ngang bộ). Từ
năm 1987 về trước, Bộ Nội vụ là cơ quan giúp Hội đồng Bộ trưởng thực hiện việc
quản lý hộ tịch thống nhất trên toàn quốc. Từ năm 1987 đến nay, nhiệm vụ này
được chuyển giao cho Bộ Tư pháp và Ủy ban nhân dân các cấp trên cơ sở Nghị
Đây là một mục tiêu quan trọng mà Chương trình tổng thể cải cách hành
chính Nhà nước hướng tới với lộ trình đã được xác định cụ thể “Đến năm 2005, về
cơ bản xác định xong và thực hiện được các quy định mới về phân cấp quản lý
hành chính nhà nước giữa trung ương và địa phương, giữa các cấp chính quyền
địa phương; định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và tổ chức bộ máy chính
quyền ở đô thị và nông thôn”.
Trên cơ sở định hướng này, Nghị định 158/2005/NĐ-CP đã thực hiện sự
phân cấp mạnh mẽ theo hướng chuyển giao một số loại việc trước đây thuộc thẩm
quyền đăng ký hộ tịch của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh cho Sở Tư pháp, Ủy ban nhân
dân cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã. Đây được coi là điểm mốc đánh dấu sự
vận dụng một tư duy mới về phân cấp quản lý nhà nước trong công tác hộ tịch
“việc nào, cấp nào thực hiện tốt hơn thì giao cho cấp đó”, đồng thời cũng thể hiện
sự đánh giá cao hơn về khả năng đảm nhận những nhiệm vụ ngày càng phức tạp
11
hơn của hệ thống Ủy ban nhân dân xã và Ủy ban nhân dân huyện.
Về cơ bản, cách tổ chức bộ máy quản lý hộ tịch của Nghị định
158/2005/NĐ-CP giống với cách tổ chức quản lý hộ tịch trong Luật Hộ tịch năm
2014. Nhưng thẩm quyền quản lý hộ tịch trong Luật Hộ tịch của các cơ quan trong
hệ thống quản lý hộ tịch được phân định rõ ràng hơn.
1.2. Khái quát về Ủy ban nhân dân quận Tây Hồ
1.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển
Quận Tây Hồ được thành lập theo Nghị định 69–CP của Thủ tướng Chính
phủ và chính thức đi vào hoạt động ngày 28 tháng 10 năm 1995. Quận Tây
Hồ thành lập trên cơ sở các phường: Bưởi, Thuỵ Khê, Yên Phụ của quận Ba Đình
và các xã: Tứ Liên, Nhật Tân, Quảng An, Xuân La, Phú Thượng của huyện Từ
Liêm. Đơn vị hành chính gồm 8 phường (Bưởi, Thụy Khuê, Yên Phụ, Tứ Liên,
Nhật Tân, Quảng An, Xuân La, Phú Thượng) với diện tích tự nhiên 2.401 ha dân
số gần 109.163 người (năm 2005). Quận nằm ở phía Tây Bắc của nội thành Hà
Hoài Nam; Phan Tuấn Ngọc; Chu Thị Minh Tân; Võ Bích Thủy; Lê Hồng Vũ.
Cơ cấu tổ chức của UBND quận Tây Hồ bao gồm 01 Chủ tịch và 03 Phó
Chủ tịch và các ủy viên giúp việc cho Chủ tịch quận.
* Về biên chế nhân sự
UBND quận bao gồm: Tất cả các lãnh đạo HĐND, UBND và các phòng.
Trong đó, tổng số cán bộ công chức, viên chức, nhân viên văn phòng là 41 đồng
chí (biên chế và chỉ tiêu hợp đồng là 26 người, hợp đồng ngắn hạn là 15 người ).
Với độ tuổi trung bình là 35. Trong đó, tổng số cán bộ nhân viên nữ là 17 chiếm tỉ
lệ 43%, số cán bộ có trình độ đại học là 17 chiếm 43%.
Các ban ngành chuyên môn thuộc UBND quận thực hiện các chức năng
quản lý Nhà nước ở cấp huyện và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự
ủy quyền của UBND và theo quy định của pháp luật. Góp phần đảm bảo sự thống
nhất quản lý của các ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương.
* Về cơ quan chuyên môn trực thuộc quận.
UBND quận gồm có 13 phòng ban chuyên môn bao gồm:
1.Văn phòng UBND& HĐND
8. Phòng Giáo dục và đào tạo
2. Phòng Thống Kê
9. Phòng Kinh tế
3. Phòng LĐTB&XH
10. Phòng Tài nguyên và môi trường
4. Phòng VHTT&TDTT
11. Phòng Tài chính - Kế hoạch
THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TẠI ỦY BAN NHÂN
DÂN QUẬN TÂY HỒ (GIAI ĐOẠN 2011 – 2016)
2.1. Ban hành các văn bản quản lý nhà nước đối với hộ tịch
Để việc đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn quận được thực hiện đúng
quy định của pháp luật, UBND quận hàng năm đều ban hành kế hoạch trong tâm
công tác tư pháp. Chẳng hạn, kế hoạch số 18/KH-UBND ngày 26/01/2016 của
UBND quận về trọng tâm công tác tư pháp trên địa bàn quận năm 2016, nhằm
củng cố và nâng cao vai trò trách nhiệm của ngành tư pháp từ quận đến cơ sở trong
công tác quản lý nhà nước trên địa bàn quận. Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp
trong sạch, vững mạnh theo hướng nâng cao đạo đức công vụ, chuyên nghiệp, hiện
đại; tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ công tác tư pháp để phục vụ một cách
hiệu quả những nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội của quận; đảm bảo thực hiện
một cách đồng bộ, có hiệu quả công tác tư pháp trên địa bàn trong đó quận, trong
đó có công tác hộ tịch để UBND các phường xây dựng kế hoạch và triển khai thực
hiện, trong đó có công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. UBND quận yêu cầu làm tốt
công tác tuyền truyền pháp luật đăng lý và quản lý hộ tịch, thực hiện tốt đăng ký và
quản lý hộ tịch thuộc thẩm quyền của UBND xã, phường theo đúng quy định tại
Luật Hộ tịch năm 2014 và Nghị định số 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ ngày
15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật hộ tịch, chỉ
đạo UBND các phường tiếp tục cải tiến phong cách, lề lối làm việc của cán bộ tư
pháp hộ tịch, cán bộ công chức của phòng tư pháp, đáp ứng các việc về hộ tịch về
thẩm quyền, giao cho Phòng tư pháp tăng cường kiểm tra, hướng dẫn UBND các
phường giải quyết các việc về đăng ý và quản lý hộ tịch, kịp thời giải quyết các
vướng mắc trong tổ chức thực hiện, xây dựng kế hoạch kiểm tra công tác hộ tịch
các phường, xây dựng kế hoạch kiểm tra công tác hộ tịch, quản lý, sử dụng cấp
phát các loại sổ hộ tịch, biểu mẫu hộ tịch do Bộ Tư pháp phát hành đúng quy định.
Về công tác xây dựng, thẩm định các văn bản QPPL: Với mục tiêu đảm bảo
100% các văn bản QPPL được ban hành đều được cơ quan Tư pháp thẩm định,
trong năm 2016, phòng Tư pháp đã tiến hành thẩm định 01 văn bản QPPL của
15
thống loa truyền thanh của UBND các phường, duy trì tổ chức “Ngày pháp luật”
trên địa bàn,...
16
- Nội dung tuyên truyền trong tập trung vào các vấn đề sau: Hiến pháp năm
2013; Luật Đất đai; Luật thực hành, tiết kiệm, chống lãng phí; Luật Hôn nhân và
gia đình; Luật Công chứng; Luật Hộ tịch; Luật Nhà ở; Luật căn cước công dân;
Luật Quốc tịch; Luật bảo vệ môi trường; Luật thi hành án dân sự; Luật giáo dục
nghề nghiệp; pháp luật về cải cách hành chính; pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính ... Ngoài ra, Phòng Tư pháp đã tham mưu UBND quận chỉ đạo các ngành
thành viên Hội đồng phối hợp PBGDPL quận phổ biến các luật mới ban hành như:
Luật Doanh nghiệp, Luật Bảo hiểm xã hội,… tới các doanh nghiệp, cán bộ công
chức và nhân dân trên đại bàn. Tổ chức 05 hội nghị tập huấn cho đại biểu HĐND,
cán bộ công chức cấp quận, phường và nhân dân trên địa bàn, như: Luật hôn nhân
và gia đình, Luật Tổ chức chính quyền địa phương,…Tổ chức tốt cuộc thi “Tìm
hiểu Hiến pháp nước CHXHCNVN” và tuyên truyền sâu rộng về ý nghĩa của cuộc
thi đến toàn thể đội ngũ cán bộ, công chức và nhân dân trên đại bàn. Tiếp nhận và
cấp phát các tài liệu tuyên truyền do Sở Tư pháp ban hành đến các thành viên Hội
đồng phối hợp PBGDPL, UBND các phường và nhân dân trên địa bàn.
- Tiếp tục duy trì và tổ chức các điểm tuyên truyền pháp luật, kiểm tra,
hướng dẫn việc thực hiện “Ngày pháp luật” trên địa bàn 08 phường. Đổi mới mô
hình tổ chức “Ngày pháp luật” trên địa bàn quận với nhiều hình thức và nội dung
phong phú. Thực hiện Kế hoạch của của UBND Thành phố, phòng Tư pháp đã
tham mưu UBND quận ban hành kế hoạch số 181/KH-UBND(TP) ban hành ngày
13/10/2016 về tổ chức “Ngày pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam” trên địa bàn quận Tây Hồ.
- Ngoài ra, để thực hiện mục tăng cường công tác tuyên tuyền phổ biến pháp luật
sâu rộng đến từng người dân, hộ gia đình, phòng Tư pháp tiếp tục chủ trì việc biên soạn
cho phát hành cuốn số tay pháp luật số 16 (năm 2016).
2.2.3. Hoạt động đăng ký hộ tịch trên địa bàn quận Tây Hồ
Kết quả thống kê cho thấy, việc tổ chức thực hiện đăng ký hộ tịch tại UBND
quận Tây Hồ như sau:
- Tổ chức đăng ký hộ tịch từ năm 2011 đến năm 2016 (PL3, PL4 – tr)
* Năm 2011
+ Đăng ký khai sinh: 1.800 trường hợp
• Đúng hạn: 1.647 trường hợp
18
• Quá hạn: 153 trường hợp
+ Đăng ký khai tử: 400 trường hợp
• Đúng hạn: 389 trường hợp
• Quá hạn: 11 trường hợp
+ Đăng ký kết hôn: 880 đôi
+ Đăng ký lại việc sinh: 156 trường hợp
+ Đăng ký nuôi con nuôi: 15 trường hợp
+ Thay đổi, họ tên, chữ đệm, cải chính hộ tịch: 65 trường hợp
+ Xác định lại dân tộc: 0 trường hợp
* Năm 2012
+ Đăng ký khai sinh: 1560 trường hợp
• Đúng hạn: 1.321 trường hợp
• Quá hạn: 239 trường hợp
+ Đăng ký khai tử: 284 trường hợp
• Đúng hạn: 259 trường hợp
• Quá hạn: 25 trường hợp
+ Đăng ký kết hôn: 789 đôi
+ Đăng ký lại việc sinh: 201 trường hợp
+ Đăng ký nuôi con nuôi: 01 trường hợp
+ Thay đổi, họ tên, chữ đệm, cải chính hộ tịch: 43 trường hợp
• Đúng hạn: 2.367trường hợp
• Quá hạn: 193 trường hợp
+ Đăng ký khai tử: 684 trường hợp
• Đúng hạn: 498 trường hợp
• Quá hạn: 186 trường hợp
+ Đăng ký kết hôn: 886 đôi
+ Đăng ký lại việc sinh: 280 trường hợp
+ Đăng ký nuôi con nuôi: 03 trường hợp
+ Thay đổi, họ tên, chữ đệm, cải chính hộ tịch: 173 trường hợp
+ Xác định lại dân tộc: 28 trường hợp
* Năm 2016
+ Đăng ký khai sinh: 2.673 trường hợp
20
• Đúng hạn:
- Không có yếu tố nước ngoài: 2211 trường hợp
- Có yếu tố nước ngoài (Thẩm quyền của quận): 23 trường hợp
• Quá hạn:
- Không có yếu tố nước ngoài: 439 trường hợp
- Có yếu tố nước ngoài (Thẩm quyền của quận): 0 trường hợp
+ Đăng ký khai tử: 721 trường hợp
• Đúng hạn: 638 trường hợp
• Quá hạn: 83 trường hợp
+ Đăng ký kết hôn: 963 đôi
• Không có yếu tố nước ngoài: 943 đôi
• Có yếu tố nước ngoài (Thẩm quyền của quận): 20 đôi
+ Đăng ký lại việc sinh: 302 trường hợp
+ Đăng ký nuôi con nuôi: 23 trường hợp
+ Thay đổi, họ tên, chữ đệm, cải chính hộ tịch: 67 trường hợp
quản lý nhà nước về hộ tịch và mạnh dạn đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả công tác quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn quận Tây Hồ ở Chương 3
sau đây.
22
Chương 3
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH TẠI UỶ BAN NHÂN DÂN QUẬN TÂY HỒ
3.1. Đánh giá thực trạng việc thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch trên
địa band quận Tây Hồ
3.1.1. Ưu điểm
Công tác quản lý hộ tịch tại UBND quận Tây Hồ qua từng năm có sự chuyển
biến và thay đổi rõ rệt. Đặc biệt là từ khi Luật hộ tịch được thi hành đã làm cho
lĩnh vực hộ tịch nói chung và công tác quản lý hộ tịch nói riêng có bước phát triển
mạnh mẽ.
Từ năm 2010 – 2015, lĩnh vực quản lý hộ tịch chịu sự điều chỉnh của Nghị
định 158/2005/NĐ-CP ngày 27/12/2005 về đăng ký và quản lý hộ tịch. Nghị định
số 158/2005/NĐ-CP đã thực sự tạo ra sự chuyển biến mạnh mẽ trong công tác
đăng ký và quản lý hộ tịch: Thực hiện phân cấp thẩm quyền mạnh cho chính quyền
cơ sở (giao cấp huyện và cấp xã thực hiện thẩm quyền thay đổi, cải chính hộ tịch);
tạo bước đột phá trong công tác cải cách thủ tục hành chính với những thủ tục đơn
giản, rút ngắn thời gian giải quyết hồ sơ, tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho người
dân; với những quy định tương đối đầy đủ, rõ ràng đã tạo điều kiện thuận lợi cho
cán bộ tư pháp hộ tịch khi tiếp nhận và giải quyết hồ sơ hộ tịch.
Tuy Nghị định 158/2005/NĐ-CP đã tạo ra bước đột phá trong lĩnh vực hộ
tịch, nhưng nó cũng bộc lộ những hạn chế nhất định như: Nghị định 158/2005/NĐCP quy định rõ ràng và cụ thể tuy nhiên trong thực tiễn giải quyết lại phát sinh
nhiều trường hợp mà pháp luật hộ tịch chưa điều chỉnh hay còn bỏ ngỏ dẫn đến
tình trạng cơ quan có thẩm quyền giải quyết hộ tịch gặp nhiều khó khăn vướng
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong việc giải quyết các thủ tục hành
chính liên quan đến lĩnh vực hộ tịch còn hạn chế (còn thực hiện việc tra cứu hộ
tịch bằng phương pháp thủ công)
Mặc dù việc đăng ký hộ tịch bằng điện tử đã được triển khai trên địa bàn
quận, nhưng mức độ còn rất hạn chế. Phương thức đăng ký hộ tịch hiện nay chủ yếu
vẫn thực hiện theo phương pháp thủ công (ghi bằng tay, lưu bằng sổ giấy). Do chưa
có Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, nên việc lưu sổ giấy dễ dẫn đến bị hỏng, bị mất, từ
đó không đáp ứng được yêu cầu thống kê số liệu cũng như yêu cầu cấp giấy tờ hộ
24
tịch cho người dân. Hơn nữa, phương thức đăng ký hộ tịch này không phù hợp với
định hướng xây dựng nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại.
- Việc áp dụng quy trình ISO 9001 : 2008 trong lĩnh vực Tư pháp tại một số
phường chưa áp dụng đúng và chưa đầy đủ. Việc xử lý một số vi phạm trong việc
đăng ký và quản lý hộ tịch còn chậm.
- Việc ghi chép sổ hộ tịch của cán bộ Tư pháp – Hộ tịch còn chưa kịp thời và
đầy đủ thông tin; công tác sắp xếp, lưu giữ hồ sơ hộ tịch chưa khoa học; dữ liệu
hộ tịch của cá nhân bị phân tán, không xâu chuỗi, kết nối được với nhau
Từ trước đến nay pháp luật về hộ tịch đều quy định mỗi việc hộ tịch (sinh,
kết hôn, tử, nuôi con nuôi, giám hộ…) được đăng ký vào một sổ riêng (Sổ đăng ký
khai sinh, Sổ đăng ký kết hôn, Sổ đăng ký tử, Sổ đăng ký việc nuôi con nuôi
v.v…), qua đó dữ liệu khai sinh chỉ được phản ánh trong Sổ đăng ký khai sinh, dữ
liệu kết hôn chỉ được phản ánh trong Sổ đăng ký kết hôn… Mặt khác, trong thời kỳ
công nghiệp hóa và hội nhập hiện nay, người dân di cư tới nhiều địa bàn khác nhau
(kể cả ở nước ngoài), thì các sự kiện hộ tịch của cá nhân cũng được đăng ký ở
nhiều địa phương khác nhau, nhiều cấp khác nhau, kể cả ở Cơ quan đại diện; trong
khi đó lại không có 01 sổ hộ tịch chung để tích hợp mọi thông tin về hộ tịch của
mỗi cá nhân, chính vì vậy, các dữ liệu hộ tịch của cá nhân bị phân tán, không xâu
chuỗi, kết nối được với nhau nên Nhà nước không kiểm soát được thông tin về hộ