Báo cáo thực tập tốt nghiệp: Quản lý hộ tịch tại uỷ ban nhân dân xã Hùng Hỹ Chiêm Hóa – Tuyên Quang - Pdf 37

Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................1
TÀI LIỆU THAM KHẢO 51.............................................................................3
LỜI CẢM ƠN......................................................................................................1
A. PHẦN MỞ ĐẦU.............................................................................................2
1.Lý do chọn đề tài........................................................................................2
2. Mục đích lựa chọn đề tài báo cáo thực tập................................................3
3.Tình hình tìm hiểu đề tài............................................................................4
4.Đối tượng, phạm vi tìm hiểu của báo cáo thực tập.....................................4
5.Mục tiêu, nhiệm vụ tìm hiểu của báo cáo thực tập.....................................5
6.Cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận......................................................5
7.Kết cấu nội dung đề tài...............................................................................7
B.PHẦN NỘI DUNG...........................................................................................8
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC.....................8
VỀ HỘ TỊCH.......................................................................................................8
I.Khái niệm về hộ tịch:..................................................................................8
1.Quản lý nhà nước về hộ tịch:......................................................................8
1.1. Khái niệm quản lý nhà nước:.................................................................8
1.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về hộ tịch:..................................................9
2.Sự hình thành và phát triển của pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch:....9
2.1.Giai đoạn trước năm 1945 (thời kỳ phong kiến và thời Pháp thuộc)......9
2.2.Giai đoạn từ nãm 1945 đến năm 1975...................................................11
1.1.1.Quy định về hộ tịch của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.......11
1.1.2. Quy định về hộ tịch của chế độ cũ ở miền Nam................................13
1.2.Giai đoạn từ năm 1975 đến nay.............................................................13
3.Vị trí, vai trò quản lý nhà nước về hộ tịch................................................15
4.Pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch:....................................................18
4.1. Khái niệm pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch:...............................18
4.2.Nội dung pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch...................................18

7.1. Vị trí, vai trò và tầm quan trọng đối của công tác hộ tịch đối với công
tác quản lý nhà nước ...................................................................................34
7.2. Bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân.................................34
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HỘ TỊCH TRÊN ĐỊA BÀN ....36
XÃ HÙNG MỸ HIỆN NAY..............................................................................36
I.Ưu điểm.....................................................................................................38
II.NHỮNG HẠN CHẾ VÀ NGUYÊN NHÂN DẪN ĐẾN HẠN CHẾ
TRONG CÔNG TÁC ĐĂNG KÝ VÀ QUẢN LÝ HỘ TỊCH ...................42
1.Hạn chế.....................................................................................................42
2.Nguyên nhân của những hạn chế..............................................................43
CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP NẦNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ HỘ TỊCH
TRÊN ĐỊA BÀN XÃ HÙNG MỸ HIỆN NAY................................................46
a.Những yêu cầu đối với hoạt động quản lý hộ tịch trong giai đoạn mới...46
1.Yêu cầu về tính kịp thời...........................................................................46
2.Yêu cầu về tính đầy đủ.............................................................................47
3.Yêu cầu về tính chính xác, khách quan....................................................47
4.Yêu cầu về tính chủ động của co quan quản lý và đăng ký hộ tịch..........48
5.Yêu cầu về tính pháp chế..........................................................................48
6.Yêu cầu về cải cách thủ tục hành chính...................................................49
b.Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hộ tịch trên địa bàn xã Hùng Mỹ
hiện nay.......................................................................................................50
1. Kiện toàn, nâng cao tính chuyên nghiệp, nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ Tư pháp hộ tịch xã.......................................50
2. Đấy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch trong
nhân dân.......................................................................................................51
3. Cải tiến phương thức quản lý hộ tịch......................................................52
4. Ứng dụng công nghệ thông tin vào việc quản lý hộ tịch và xây dựng hệ
cơ sở dữ liệu thông tin hộ tịch.....................................................................54
Sinh viên: Ma Thị Thu
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A

năng của ngành Dịch vụ pháp lý từ ghế nhà trường để áp dụng vào thực tiễn.
Qua thời gian thực tập tại UBND xã Hùng Mỹ em xin gửi lời cảm ơn sâu
sắc toàn thể ban lãnh đạo và tập thể cán bộ công nhân viên của UBND xã đã
giúp đỡ, tạo điều kiện cho em hoàn thành đợt thực tập này, cảm ơn sự trợ giúp
của cán bộ cơ sở thực tập đã cung cấp cho em những thông tin bổ ích để hoàn
thành bài báo cáo của mình.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sinh viên: Ma Thị Thu

1
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Quản lý hộ tịch được coi là khâu trung tâm của toàn bộ hoạt động quản lý
dân cư. Hiện nay, vấn đề đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý về hộ tịch đã và
đang đặt ra những yêu cầu bức thiết đối với sự phát triển của nền hành chính
quốc gia. Bởi chế độ quản lý hộ tịch không chỉ phản ánh trình độ phát triển kinh
tế - chính trị - xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn lịch sử mà còn phản
ánh mức độ nhất định truyền thống, tập quán trong tổ chức đời sống xã hội về
quản lý dân cư ở mỗi quốc gia.
Thực tiễn quản lý hộ tịch ở nước ta trong suốt những năm qua cho thấy
những yếu tố trí tuệ, bất cập của hệ thống pháp luật về quản lý hộ tịch. Mặc dù
hoạt động quản lý hộ tịch có nhiều phát triển trong hơn nửa thế kỷ, và đã có
nhiều chuyển biến tích cực trong những năm gần đây nhưng việc quản lý đầy
đủ, chính xác, kịp thời các thông tin hộ tịch vẫn là vấn đề khó khăn đối với các

vào sổ các sự kiện hộ tịch của cá nhân nhằm xác định tình trạng nhân thân của
cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá
nhân và thực hiện quản lý về dân cư, phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất
nước. Các sự kiện hộ tịch cơ bản của mỗi cá nhân được đăng ký và quản lý
trong sổ hộ tịch bao gồm: khai sinh, kết hôn, ly hôn, khai tử, nuôi con nuôi,
giám hộ, thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính
v.v. Đăng ký và quản lý hộ tịch có ý nghĩa quan trọng để Nhà nước thực hiện
quản lý dân cư và quản lý các mặt kinh tế, xã hội, quốc phòng - an ninh đồng
thời tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ các quyền nhân thân
phi tài sản và quyền quyền nhân thân gắn liền với tài sản của cá nhân.
Nhìn vào thực trạng quản lý hộ tịch ở Việt Nam và đặt trong sự so sánh
với các quốc gia trong khu vực, chúng ta không thể không lo ngại trước những
bất cập của thực tiễn quản lý hộ tịch cả về nhận thức và hành động, cả về hành
lang pháp lý và năng lực, trình độ quản lý. Mặc dù hoạt động quản lý hộ khẩu, hộ
tịch đã có quá trình phát triển hơn nữa thế kỷ và đă có sự vận động tích cực trong
những năm gần đây nhưng việc quản lý “đầy đủ, chính xác, kịp thời” các thông tin
hộ tịch vẫn là mục tiêu đầy khó khăn đặt ra đối với các cơ quan quản lý Nhà nước.
Với thực trạng đó và những đòi hỏi của tình hình mới, để luận giải những
vấn đề lý luận và thực tiễn về hộ tịch, bản thân em xin lựa chọn đề tài “Quản lý
hộ tịch tại Uỷ ban nhân dân xã Hùng Mỹ - Chiêm Hóa – Tuyên Quang” làm
báo cáo tốt nghiệp.
2. Mục đích lựa chọn đề tài báo cáo thực tập
Sinh viên: Ma Thị Thu

3
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội


4
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Hoạt động của công tác quản lý hộ tịch của UBND xã Hùng Mỹ tác động
trực tiếp đến đời sống của nhân dân. Từ đó, tìm hiểu được thực trạng cũng như
đưa ra được giải pháp và đề xuất để nâng cao hiệu quả hoạt động của ban Tư
phap – Hộ tịch xã.
5. Mục tiêu, nhiệm vụ tìm hiểu của báo cáo thực tập
Đề tài tập trung đánh giá thực trạng công tác quản lý hộ tịch tại UBND xã
trong thời gian qua, phân tích nguyên nhân của những ưu điểm cũng như những
hạn chế của công tác đó, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu
quả hoạt động quản lý hộ tịch ở xã Hùng Mỹ nói riêng và trên địa bàn các tỉnh,
thành phố của cả nước nói chung.
Để làm rõ nội dung của đề tài, thực hiện được mục tiêu đã đặt ra, nhiệm
vụ mà đề tài phải làm được đó là:
- Tìm hiểu và phân tích lịch sử dân cư qua các thời kỳ ở Việt Nam, tìm
kiếm thông tin về xã Hùng Mỹ và những quan điểm chỉ đạo của Đảng, chủ
trương chính sách của Nhà nước, của tỉnh về công tác quản lý hộ tịch ở cơ sở.
- Thu thập, xử lý và phân tích thông tin, dữ liệu về thực trạng quản lý hộ
tịch ở xã hiện nay, đánh giá ưu, khuyết điểm của công tác này.
- Phân tích các nguyên nhân thực trạng trên, đồng thời đề xuất một số giải
pháp nhằm nâng cao hơn nữa hiệu quả của công tác quản lý hộ tịch ở xã nói
riêng cũng như trên cả nước nói chung.
6. Cơ sở lý luận và phương pháp tiếp cận
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận là các quan điểm, chủ trương của Đảng ,
chính sách pháp luật của Nhà nước về quản lý hộ tịch, cụ thể là công tác quản lý

Chương III: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hộ tịch trên địa bàn xã
Hùng Mỹ hiện nay.

Sinh viên: Ma Thị Thu

7
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
B.PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ HỘ TỊCH
I.Khái niệm về hộ tịch:
Từ trước đến nay, vẫn tồn tại khá nhiều quan niệm khác nhau về khái
niệm “Hộ tịch”. Có quan niệm cho rằng: Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ
đến các người trong nhà. Hộ tịch gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai
sinh, khai tử. Quan niệm thứ hai lại cho rằng, việc ghi chép vào sổ sách không
phải là hộ tịch mà bản thân các sự kiện liên quan đến tình trạng nhân thân của
con người mới là hộ tịch. Có thể xem cách hiểu thứ hai là cách hiểu khá thấu
đáo và toàn diện, được khoa học công nhận và được quy định khá rõ ràng trong
văn bản quy phạm pháp luật. Theo quy định tại Điều 1 Nghị định số
83/1998/NĐ-CP ngày 10/10/1998 của Chính phủ về đăng ký hộ tịch thì: Hộ tịch
là những sự kiện cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh
ra đến khi chết.
Có thể xem những sự kiện về hộ tịch rất đa dạng. Nếu theo quan niệm cũ
trước đây, hộ tịch chủ yếu bao gồm các sự kiện về sinh, tử, kết hôn thì theo quy
định hiện nay của pháp luật, hộ tịch bao gồm 9 sự kiện cơ bản như: sinh; tử; kết
hôn; nuôi con nuôi; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi họ, tên, chữ đệm; cải

và thuế khóa của triều đình; Sổ gia phả chỉ giới hạn trong các gia đình quyền
quý và các dòng tộc, chưa điều chỉnh các quan hệ xã hội rộng rãi trong xã hội.
Dưới thời Pháp thuộc, với bản chất thống trị và nô dịch, thực dân Pháp
xây dựng hộ tịch nhằm phục vụ cho việc cai trị thuộc địa, chủ yếu đảm bảo thực
hiện việc binh dịch, thuế khóa vả đặc biệt qua hộ tịch tiến hành các biện pháp
kiểm soát chặt chẽ dân tình để trấn áp lực lượng yêu nước đấu tranh giành độc
lập. Do đó, ngay từ rất sớm hộ tịch đã được xây dựng thành Luật khắp cả 3
miền: Bắc, Trung và Nam. Quá trình thực hiện các văn bản này không ngừng
được củng cố, phát triển phù hợp với mục đích đăng ký và quản lý hộ tịch của
chế độ. Biểu hiện bằng việc quy định các chương mục rất cụ thể bởi các bộ Dân
luật Bắc kỳ, Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật và Dân Luật giản yếu Nam kỳ. Sau
mỗi giai đoạn thực hiện lại ban hành tiếp các văn bản dưới luật hoặc luật mới để
điều chỉnh, bổ sung kịp thời theo yêu cầu của chính quyền thực dân. Ngay cả Bộ
Hoàng Việt Trung kỳ hộ luật, các nội dung hộ tịch tuy được nhà vua ban hành,
nhưng cũng phải phụ thuộc hoàn toàn vào ý chỉ cai tri của thực dân Pháp, cho dù
đó chỉ là những vẩn đề mang tính thủ tục hành chính. Điều này thể hiện qua việc
ban hành 05 quyển của Bộ luật đều có Nghị định của toàn quyền Đông dương
duyệt y hoặc như tại Điều 18 chương I thiên thứ hai quy định "Các quan tỉnh,
sau khi ý hiệp với quan công sứ, Có thể cho phép những xóm ở xa bản xã được
lập nhân thế bộ riêng".
Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch về cơ bản được phân thành 2 chế độ
trách nhiệm rõ ràng: cơ quan hành chính ở cơ sở (ủy ban hành chính cấp xã)
chịu trách nhiệm đăng ký và quản lý bước đầu; các cơ quan tư pháp (tòa án, biện
lý) chịu trách nhiệm kiểm tra, giám sát và giải quyết các hậu quả phát sinh. Điều
Sinh viên: Ma Thị Thu

10
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A



1.1.1. Quy định về hộ tịch của Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa
Sinh viên: Ma Thị Thu

11
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã nhận thức đúng đắn về tầm
quan trọng của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, nhưng suốt một thời gian
dài từ 1945 đến 1975 đất nước ngập chìm trong chiến tranh bởi hai cuộc kháng
chiến giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước nên việc xây dựng và hoàn
thiện pháp luật về hộ tịch gần như không có sự chuyển biến đáng kể. Việc quản
lý nhân thân con người trong giai đoạn này vừa phải đáp ứng được yêu cầu của
đời sống xã hội; vừa phải đảm bảo phục vụ nhu cầu chiến tranh giải phóng, đảm
bảo an ninh trật tự và an toàn xã hội. Do đó trong thời kỳ này, ngoài việc quản lý
con người bằng hộ tịch, còn quản lý con người thông qua giải pháp hộ khẩu và
các giải pháp khác.
Tổ chức thực hiện.hộ khẩu chủ yếu tập trung cho ngành công an, chỉ phù
hợp những yêu cầu nhất thời trong chiến tranh, không phù hợp trong thời bình.
Có thể nói trong giai đoạn này, các quy định của Nhà nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa thể hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch bằng biện pháp hành chính
đơn thuần tập trung ở đầu vào; tức là chỉ tập trung vào các cơ quan hành chính
có thẩm quyền !hực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch, cơ quan tư pháp (tòa
án, kiểm sát) chỉ tham gia khi hậu quả phát sinh và có thể làm chuyển biến,
chấm dứt hoặc tái lập một sự kiên hộ tịch phát sinh mới. Về tổ chức nhân sự,
Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa không quy định cơ chế chuyên trách hộ
tịch (như hộ lại hoặc ủy viên hộ tịch), chỉ quy định chung về người được phân
công phụ trách và cán bộ thực hiện. Việc quản lý sổ bộ, kiêm tra, giám sát công

cả mọi hậu quả phát sinh, đồng thời thực hiện nguyên tắc chế ước giữa các cơ
quan này.
Về nhân sự, hộ lại (ủy viên hộ tịch) được bố trí ổn định, mang tính chuyên
nghiệp lâu bền.
Chế tài hộ tịch được dự liệu rất cụ thể, áp dụng cho mọi đối tượng vi
phạm, cả bên đi đăng ký cũng như bên thực hiện đăng ký và quản lý hộ tịch
Các biện pháp chế tài như kỷ luật, hành chính, hình sự, dân sự được quy
định đầy đủ, nghiêm khắc, nhất là biện pháp xử phạt tiền và truy cứu trách
nhiệm hình sự.
1.2. Giai đoạn từ năm 1975 đến nay
Sau khi giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước mặc dù Nhà nước
có quan tâm đến hộ tịch nhưng những văn bản quy định về hộ tịch chủ yểu nhằm
để xây dựng, củng cố hệ thống tổ chức và thực hiện hộ tịch ở miền Nam. Bản
Điều lệ hộ tịch năm 1961 vẫn tiếp tục được thi hành suốt một thời gian dài gần
40 năm, mãi cho đến 1998 mới ban hành Nghị định số 83/1998/NĐ-CP thay thế.
Sinh viên: Ma Thị Thu

13
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Có thể nói giai đoạn từ sau giải phóng đến 1998, công tác hộ tịch chưa được
quan tâm đúng mức. Biểu hiện qua các vấn đề sau đây:
- Chưa ban hành văn bản quy phạm pháp luật thống nhất để kịp thời thay
thế Bản điều lệ hộ tịch năm 1961. Các quy định trước đây về quản lý, sử dụng
hồ sơ, sổ hộ tịch chưa được chặt chẽ; các loại biểu mẫu hộ tịch chưa hợp lý. Vấn
đề hộ tịch ở miền Nam có thể coi là đặc thù, bởi phần do chiến tranh hủy hoại,
phần do chế độ cũ trước khi tan rã cố ý đốt phá, phần do trong chiến tranh cách

và quản lý, biểu mẫu hộ tịch chưa hợp lý... Nghị định số 83/1998/NĐ-CP vẫn
còn quy định rườm rà vả bất hợp lý, trái với Hiến pháp (quyền cơ bản của công
dân), trái với một số đạo luật khác (quyền nhân thân: con sinh ra là phải đăng ký
khai sinh); Ví dụ tại Điều 19 khoản 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP quy định
"Nếu có đủ các giấy tờ hợp lệ thì Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp ngay một
bản chính giấy khai sinh...". Lật ngược lại vấn đề nếu không có đủ các giấy tờ
hợp lệ, đương nhiên sẽ không được ký và cấp giấy khai sinh, trái với quy định
của Bộ luật dân sự năm 1995 về quyền được khai sinh. Nhân sự thực hiện hộ
tịch thiếu ổn định, không có chức danh chuyên trách như hộ lại hay uỷ viên hộ
tịch.
Nghị định số 158/2005NĐ- CP đã giải quyết cơ bản các vấn đề vướng
mắc trên đây. Tuy vậy, cho đến nay chế tài hộ tịch vẫn chưa được quy định cụ
thể trừ Nghị định số 87/2001/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực hôn nhân gia đình. Về nhận thức, với chủ trương nền hành chính
phục vụ nhân dân nói chung và hộ tịch nói riêng, tuy vậy trong nhiều trường
hợp, không ít các biểu hiện nhận thức thiếu đúng đắn, xem hộ tịch là một bộ
phận nghiệp vụ hành chính đơn thuần. Tình trạng quan liêu, cửa quyền, tuỳ tiện,
thiếu trách nhiệm trong thực thi nhiệm vụ hộ tịch còn khá phổ biến. Đối với
nhân dân nhất là ở vùng sâu, vùng xa, người dân tộc thiểu số, trình độ dân trí và
ý thức pháp luật về hộ tịch còn hạn chế nhưng việc tuyên truyền, giáo dục, vận
động đăng ký hộ tịch không được tiến hành thường xuyên.
3. Vị trí, vai trò quản lý nhà nước về hộ tịch
Trong xã hội hiện đại, khi quyền con người được nhận thức như một giá
trị chung của nhân loại thì cùng với nó, hầu như tất cả các quốc gia đều nhận
thức đúng đắn về tầm quan trọng của việc quản lý hộ tịch. Nếu như hoạt động
quản lý dân cư được coi là nội dung quan trọng hàng đầu trong quản lý xã hội
thì quản lý hộ tịch được coi là một khâu nằm ở vị trí trung tâm của hoạt động
quản lý dân cư.
Hoạt động quản lý hộ tịch là lĩnh vực thể hiện rõ nét chức năng xã hội của
Sinh viên: Ma Thị Thu

chỉ đạo đối với cơ quan quản lý hộ tịch cấp dưới, trường hợp phát hiện thấy sai
phạm phải chấn chỉnh và xử lý kịp thời.
Khi tham gia vào các quan hệ xã hội như quyền được kết hôn khi công
dân đủ tuổi theo quy định, quyền được giám hộ, quyền được thừa kế....đồng thời
góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân
số, kế hoạch hóa gia đình.
Sinh viên: Ma Thị Thu

16
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Cũng trên cơ sở theo dõi biến động về hộ tịch mà các cơ quan quản lý nhà
nước xây dựng chính sách phù hợp dựa trên dân số theo độ tuổi, giới tính nguồn
nhân lực từ đó có phân tích đánh giá cụ thể làm cơ sở để hoạch định các chính
sách về phát triển kinh tế, văn hoá-xã hội, thể dục thể thao, xây dựng cơ sở y tế,
trường học, bố trí giáo viên... chăm sóc sức khoẻ trong nhân dân, đảm bảo cân
bằng giới tính phục vụ an ninh quốc phòng, chăm sóc sức khoẻ trong nhân
dân ...

Sinh viên: Ma Thị Thu

17
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội


18
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi
khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những
người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.
c.Thủ tục đăng ký khai sinh
Người đi đăng ký khai sinh phải nộp Giấy chứng sinh (theo mẫu quy
định) và xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn của cha, mẹ trẻ em (nếu cha, mẹ
của trẻ em có đăng kư kết hôn).
Giấy chứng sinh do cơ sở y tế, nơi trẻ em sinh ra cấp; nếu trẻ em sinh ra
ngoài cơ sở y tế, thì Giấy chứng sinh được thay bằng văn bản xác nhận của
người làm chứng. Trong trường hợp không có người làm chứng, thì người đi
khai sinh phải làm giấy cam đoan về việc sinh là có thực.
Trong trường hợp cán bộ Tư pháp hộ tịch biết rõ về quan hệ hôn nhân của
cha mẹ trẻ em, thì không bắt buộc phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn.
Sau khi kiểm tra các giấy tờ hợp lệ, cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ
đăng ký khai sinh và bản chính Giấy khai sinh, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã
ký và cấp cho người đi khai sinh một bản chính Giấy khai sinh. Bản sao Giấy
khai sinh được cấp theo yêu cầu của người đi khai sinh.
Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định
được người cha, thì phần ghi về người cha trong Sổ đăng ký khai sinh và Giấy
khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con,
thì Uỷ ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai
sinh.
d. Thẩm quyền, thủ tục đăng ký khai sinh quá hạn

họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng
ký đúng theo nội dung đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh;
dân tộc; quốc tịch; quê quán trong các hồ sơ, giấy tờ nói trên của người đó
không thống nhất thì đăng ký theo hồ sơ, giấy tờ được lập đầu tiên. Trong
trường hợp địa danh đă có thay đổi, thì phần khai về quê quán được ghi theo địa
danh hiện tại.
g. Thẩm quyền, thủ tục đăng ký lại khai sinh
Những trường hợp sinh trước đây đă được đăng ký nhưng sổ hộ tịch và
bản chính giấy tờ hộ tịch đă bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được, thì được
đăng ký lại để tạo điều kiện cho đương sự khi có nhu cầu sử dụng Giấy khai sinh
và đáp ứng yêu cầu quản lý của nhà nước.
Uỷ ban nhân dân cấp xã, nơi đương sự cư trú hoặc nơi đă đăng ký việc
sinh trước đây thực hiện việc đăng ký lại.
Sinh viên: Ma Thị Thu

20
Lớp: CĐ Dịch vụ pháp lý 12A


Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Trường Đại học Nội vụ Hà Nội
Khi đăng ký lại việc sinh nếu người đi đăng ký lại xuất trình bản sao giấy
tờ đã cấp hợp lệ trước đây, thì nội dung khai sinh được ghi theo nội dung của
bản sao giấy tờ hộ tịch đó.
Trường hợp đăng ký lại việc sinh cho người không có bản sao Giấy khai
sinh đã cấp trước đây, nhưng đã có hồ sơ, giấy tờ cá nhân như: Sổ hộ khẩu, Giấy
chứng minh nhân dân, học bạ, bằng tốt nghiệp, lý lịch cán bộ, lý lịch đảng viên,
mà trong các hồ sơ giấy tờ đó đă có sự thống nhất về họ, tên, chữ đệm; ngày,
tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê quán, thì đăng ký đúng theo nội dung
đó. Trường hợp họ, tên, chữ đệm; ngày, tháng, năm sinh; dân tộc; quốc tịch; quê

b. Thủ tục đăng ký kết hôn
Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải nộp Tờ khai (theo mẫu quy
định) và xuất tŕnh Giấy chứng minh nhân dân.
Trong trường hợp một người cư trú tại xă, phường, thị trấn này, nhưng
đăng ký kết hôn tại xã phường, thị trấn khác, thì phải có xác nhận của Uỷ ban
nhân dân cấp xã, nơi cư trú về tình trạng hôn nhân của người đó.
Đối với người đang trong thời hạn công tác, học tập, lao động ở nước
ngoài về nước đăng ký kết hôn, th́ phải có xác nhận của Cơ quan Ngoại giao,
Lãnh sự Việt Nam tại nước sở tại về tình trạng hôn nhân của người đó.
Đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang, thì thủ
trưởng đơn vị của người đó xác nhận tình trạng hôn nhân.
Việc xác nhận tình trạng hôn nhân nói trên có thể xác nhận trực tiếp vào
Tờ khai đăng ký kết hôn hoặc bằng Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy
định tại chương V của Nghị định 158/2005/NĐ-CP.
Việc xác nhận t́nh trạng hôn nhân có giá trị 6 tháng, kể từ ngày xác nhận.
Trong thời hạn 5 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai
bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia
đình, thì Uỷ ban nhân dân cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ. Trong
trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không
quá 5 ngày.
Khi đăng ký kết hôn, hai bên nam, nữ phải có mặt. Đại diện Uỷ ban nhân
dân cấp xã yêu cầu hai bên cho biết muốn tự nguyện kết hôn, nếu hai bên đồng
ý kết hôn, thì cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký kết hôn và Giấy chứng
nhận kết hôn. Hai bên nam, nữ ký vào Giấy chứng nhận kết hôn và Sổ đăng ký
kết hôn, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp xã ký và cấp cho mỗi bên vợ, chồng một
bản chính Giấy chứng nhận kết hôn, giải thích cho hai bên về quyền và nghĩa vụ
của vợ, chồng theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bản sao Giấy chứng
Sinh viên: Ma Thị Thu

22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status