Thực hiện pháp luật về hộ tịch của ủy ban nhân dân phường qua thực tiễn quận long biên, thành phố hà nội - Pdf 42

I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN HNG HNH

THựC HIệN PHáP LUậT Về Hộ TịCH
CủA ủY BAN NHÂN DÂN PHƯờNG - QUA THựC TIễN
QUậN LONG BIÊN, THàNH PHố Hà NộI

LUN VN THC S LUT HC

H NI - 2016


I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT

NGUYN HNG HNH

THựC HIệN PHáP LUậT Về Hộ TịCH
CủA ủY BAN NHÂN DÂN PHƯờNG - QUA THựC TIễN
QUậN LONG BIÊN, THàNH PHố Hà NộI
Chuyờn ngnh: Lut Hin phỏp - Lut Hnh chớnh
Mó s: 60 38 01 02

LUN VN THC S LUT HC

Cỏn b hng dn khoa hc: TS. NGUYN TH MINH H

H NI - 2016


1.1.3. Pháp luật về hộ tịch ............................................................................ 16
1.2.
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH ........................................ 30
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm thực hiện pháp luật về hộ tịch ...................... 30
1.2.2. Vai trò của thực hiện pháp luật về hộ tịch ......................................... 34
1.2.3. Hình thức thực hiện pháp luật về hộ tịch ........................................... 36
1.2.4. Nội dung thực hiện pháp luật về hộ tịch ............................................ 39
1.2.5. Yêu cầu đảm bảo thực hiện pháp luật về hộ tịch ............................... 42
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH

2.1.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.
2.2.4.

CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN PHƢỜNG, QUẬN LONG BIÊN,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI...............................................................................48
TỔNG QUAN VỀ QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI ...... 48
THỰC TRẠNG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT HỘ TỊCH CỦA
ỦY BAN NHÂN PHƢỜNG, QUẬN LONG BIÊN .......................... 52
Ban hành các văn bản nhà nƣớc đối với hộ tịch ................................ 52
Tuyên truyền, phổ biến pháp luật về hộ tịch trên địa bàn các phƣờng...... 53
Hoạt động đăng ký hộ tịch trên địa bàn các phƣờng.......................... 54
Đội ngũ cán bộ công chức làm công tác hộ tịch ................................ 59


2.2.5. Hệ thống sổ hộ tịch, hồ sơ hộ tịch đang lƣu giữ ................................ 61
2.2.6. Ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác đăng ký và quản

THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH CỦA ỦY BAN NHÂN
DÂN PHƢỜNG THUỘC QUẬN LONG BIÊN, THÀNH PHỐ
HÀ NỘI .............................................................................................. 79
Tăng cƣờng công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về
hộ tịch để nâng cao ý thức và thay đổi nhận thức của ngƣời dân ........... 79
Xây dựng chức danh Hộ tịch viên ...................................................... 81
Xây dựng cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử .............................................. 82
Bảo đảm các điều kiện về phƣơng tiện, cơ sở vật chất cho công
tác hộ tịch ........................................................................................... 85
Xây dựng và nâng cao chất lƣợng đội ngũ công chức hộ tịch ........... 86
Tăng cƣờng công tác hƣớng dẫn, kiểm tra, thanh tra đối với
hoạt động đăng ký hộ tịch .................................................................. 88

KẾT LUẬN .................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 94


DANH MỤC CÁC BẢNG

Số hiệu

Tên bảng

Trang

Bảng 2.1: Bảng theo dõi tình hình biến động dân số quận Long Biên

51

Bảng 2.2: Thực trạng đăng ký hộ tịch tại quận Long Biên từ

Thực hiện pháp luật về hô ̣ tich
̣

tạo cơ sở pháp lý để Nhà nƣớc công

nhâ ̣n và bảo hô ̣ quyề n con ngƣời , quyề n, nghĩa vụ công dân . Đồng thời quản
lý hộ tịch còn góp phầ n vào các biê ̣n pháp quản lý dân cƣ mô ̣t cá ch khoa ho ̣c,
phục vụ cho việc xây dựng , hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội,
an ninh - quố c phòng của đấ t nƣớc.
Trong bố i cảnh đấ t nƣớc bƣớc sang giai đoa ̣n phát triể n mới , tiế n trình
công nghiê ̣p hóa , hiê ̣n đa ̣i hóa, hô ̣i nhâ ̣p quố c tế diễn ra ngày càng sâu rô ̣ng ,
viê ̣c dich
̣ chuyể n dân cƣ trong nƣớc và quố c tế ngày càng gia tăng , quyề n con
ngƣời, quyề n công dân đòi hỏi đƣơ ̣c ghi nhâ ̣n và bảo đảm thƣ̣c hiê ̣n ở mƣ́c
cao hơn. Để ta ̣o cơ sở phá p lý lâu dài , ổn định, thố ng nhấ t cho công tác thực
hiện pháp luật về hộ tịch, nhấ t là trong viê ̣c triể n khai thi hành Hiế n pháp năm
2013 với nhiề u quy đinh
̣ mới đề cao quyề n con ngƣời, quyề n, nghĩa vụ cơ bản

1


của công dân; đồ ng thời ta ̣o sƣ̣ chuyể n biế n ma ̣nh mẽ công tác thực hiện pháp
luật về hô ̣ tich
̣ theo hƣớng tƣ̀ng bƣớc chuyên nghiê ̣p

, phù hợp với yêu cầu

phát triển của đất nƣớc trong thời kỳ mới.
Nhận thức đƣợc vị trí và vai trò quan trọng của công tác thực hiện pháp

01 tháng 01 năm 2016. Đây là lần đầu tiên Nhà nƣớc ta ban hành văn bản
Luật điều chỉnh riêng lĩnh vực này sau hơn 60 năm thực hiện bằng các nghị
định của Chính phủ và thông tƣ của các Bộ. Luật Hộ tịch ra đời là bƣớc hoàn
thiện khá căn bản về thể chế đăng ký và quản lý hộ tịch của Việt Nam với
nhiều quy định mới, mang tính đột phá. Bên cạnh những điểm mới của Luật
hộ tịch, thì vẫn tòn tại một số hạn chế về thể chế gây khó khăn cho cơ quan hộ
tịch khi áp dụng, ngƣời dân cũng khó phân biệt việc hộ tịch của mình sẽ đƣợc
áp dụng theo văn bản nào.
Quận Long Biên là một quận thuộc thành phố Hà Nội đang trong giai
đoạn phát triển với tỷ lệ tăng trƣởng dân số cao nên công tác thực hiện pháp
luật về hộ tịch đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng, hoạch định
chính sách phát triển kinh tế của quận.
Vì vậy, nghiên cứu công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch nói chung
cũng nhƣ ở thực tế quận Long Biên nói riêng nhằm làm rõ hơn cơ sở lý luận,
thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch và đƣa ra những ý kiến góp
phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn quận Long
Biên trong giai đoạn Luật hộ tịch vừa mới có hiệu lực là việc cần thiết hiện
nay. Đây chính là lý do tác giả lựa chọn đề tài “Thực hiện pháp luật về hộ
tịch của Ủy ban nhân dân phường - qua thực tiễn quận Long Biên, thành
phố Hà Nội” làm luận văn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Cho đến nay đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về hộ tịch của
cá nhân, tập thể đƣợc công bố:
- Ths. Phạm Trọng Cƣờng: Về quản lý hộ tịch, NXB. Chính trị quốc
gia, 2004;

3


- Quy định mới về đăng ký và quản lý hộ tịch, NXB. Chính trị quốc gia,

học Quốc gia Hà Nội, 2008, tác giả trình bày thực trạng công tác tƣ pháp - hộ
tịch, phân tích ƣu điểm và hạn chế trong công tác tƣ pháp - hộ tịch cấp xã trên
địa bàn tỉnh Bắc Giang và đƣa ra một số giải pháp tăng cƣờng hiệu quả công
tác tƣ pháp - hộ tịch.
Nhìn chung các công trình nghiên cứu nêu trên đã nghiên cứu, phân
tích toàn diện những vấn đề liên quan đến công tác đăng ký và quản lý hộ tịch
từ lý luận đến thực tiễn và đề xuất các giải pháp tăng cƣờng hiệu quả của
công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Tuy nhiên, trong bối cảnh Luật hộ tịch
2014 có hiệu lực thì các công trình nghiên cứu trên chƣa có tính thời sự.
Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu
liên quan, luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn
của việc thực hiện pháp luật hộ tịch ở cấp phƣờng trên địa bàn quận Long
Biên trong giai đoạn Luật hộ tịch 2014 bắt đầu có hiệu lực để từ đó đƣa ra các
giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch
nói chung và trên địa bàn quận Long Biên nói riêng.
3. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn
Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về hộ tịch và thực hiện pháp luật
về hộ tịch, phân tích thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch và đề xuất
những giải pháp để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch cấp
phƣờng trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu của luận văn là hệ thống quy phạm pháp luật
điều chỉnh về lĩnh vực hộ tịch đặc biệt là Luật hộ tịch 2014 và thực tiễn việc
thực hiện pháp luật về hộ tịch cấp phƣờng trên địa bàn quận Long Biên.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là thực hiện pháp luật về hộ tịch cấp
phƣờng trên địa bàn quận Long Biên, thành phố Hà Nội từ năm 2013 đến 6
tháng đầu năm 2016.

5




Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ HỘ TỊCH VÀ THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỘ TỊCH
1.1. HỘ TỊCH
1.1.1. Khái niệm hộ tịch
Xét từ góc độ ngôn ngữ học, “hộ tịch” là một từ ghép gốc Hán chính
phụ, đƣợc ghép bởi hai thành tố có nghĩa độc lập, trong đó “tịch” là thành tố
chính, “hộ” là thành tố phụ. Nếu tìm hiểu riêng từng thành tố thì có thể thấy,
các từ điển hiện nay khá thống nhất trong cách hiểu từng từ đơn này. Theo đó
từ “hộ” có nhiều nghĩa khác nhau, nhƣng trong đó có một nghĩa trực tiếp là
“dân cƣ” hoặc “nhà ở” hiểu rộng ra là “đơn vị để quản lý dân số, gồm những
ngƣời cùng ăn ở với nhau”. Tƣơng tự từ “tịch” có nghĩa là “sổ sách” hoặc là “
sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc”. Tuy nhiên việc tổ hợp hai từ đơn này
thành danh từ ghép “hộ tịch” lại là một trƣờng hợp rất đặc biệt về mặt ngôn
ngữ dẫn đến có nhiều cách giải nghĩa từ “hộ tịch”.
Tác giả Nguyễn Văn Khôn đã nêu khái niệm “hộ tịch” trong cuốn Hán
- Việt từ điển xuất bản năm 1960 nhƣ sau:
“Hộ tịch: sổ biên dân số có ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của
từng người” [21, tr.404].
Cũng có quan điểm tƣơng tự với tác giả Nguyễn Văn Khôn, tác giả
Hoàng Thúc Trâm cũng nêu khải niệm “hộ tịch” trong cuốn Hán - Việt tân từ
điển xuất bản năm 1974 là:
“Hộ tịch: Sổ biên nhận số một địa phương hoặc cả toàn quốc, trong có
ghi rõ tên họ, quê quán và chức nghiệp của từng người” [36, tr. 292].
Hay tác giả Nguyễn Lân cũng trình bày giải nghĩa từ “hộ tịch” trong
cuốn Từ điển từ và ngữ Hán Việt xuất bản năm 1989:

7

8


“Hộ tịch: quyền cư trú, được chính quyền công nhận của một người tại
nơi mình ở thường xuyên, của những người thường trú thuộc cùng một hộ, do
chính quyền cấp cho từng hộ để xuất trình khi cần” [14, tr.385].
Nhƣ vậy, nghĩa của từ “hộ tịch” xét về khía cạnh xã hội còn tồn tại
nhiều cách hiểu khác nhau. Theo quan điểm của tác giả, tác giả đồng ý với
cách giải nghĩa từ “hộ tịch” của tác giả Nguyễn Nhƣ Ý trình bày trong cuốn
Đại từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 1998: “Hộ tịch: các sự kiện trong đời
sống của một người thuộc sự quản lý của pháp luật” [43, tr.835].
Về khía cạnh pháp lý, thuật ngữ “hộ tịch” lần đầu tiên đƣợc định nghĩa
trong các giáo trình giảng dạy của Đại học Luật khoa Sài Gòn dƣới chế độ
Việt Nam Cộng hoà, trong đó nổi lên quan điểm của một số tác giả sau:
Tác giả Phan Văn Thiết có thể coi là ngƣời đầu tiên trình bày quan
niệm “hộ tịch” trong cuốn tài liệu chuyên khảo Hộ tịch chỉ nam xuất bản năm
1958 nhƣ sau:
“Hộ tịch - còn gọi là nhân thế bộ - là cách sinh hợp pháp của một công
dân trong gia đình và trong xã hội. Hộ tịch căn cứ vào ba hiện tượng quan
trọng nhất của con người: sinh, giá thú và tử" [36, tr.7].
Các tác giả Vũ Văn Mẫu - Lê Đình Chân lại trình bày một định nghĩa
khác về khái niệm “hộ tịch” trong cuốn Danh từ và tài liệu Dân luật và Hiến
luật xuất bản năm 1968 nhƣ sau:
"Hộ tịch là sổ biên chép các việc liên hệ đến các người trong nhà. Hộ tịch
gồm ba sổ để ghi chép các sự khai giá thú, khai sinh và khai tử" [24, tr.111].
Tác giả Trần Thúc Linh, tác giả cuốn Danh từ pháp luật lƣợc giải xuất
bản năm 1965 - vốn đƣợc đánh giá là một trong những từ điển chuyên ngành
pháp lý đầu tiên - không đƣa ra định nghĩa về khái niệm “hộ tịch” mà chỉ định
nghĩa khái niệm “chứng thƣ hộ tịch”:
Chứng thƣ hộ tịch là những giấy tờ công chứng dùng để chứng minh

thành ngôn ngữ phổ thông, ăn sâu trong nhận thức nhân dân nên giải pháp đi

10


tìm khái niệm Việt hoá thay thế không đƣợc lựa chọn, thay vào đó, các nhà
xây dựng pháp luật đã dung hoà bằng giải pháp mà Luật ban hành văn bản
quy phạm pháp luật cho phép, đó là sử dụng khái niệm này với tƣ cách là một
thuật ngữ chuyên môn và định nghĩa trong văn bản.
Theo đó, quy định tại Điều 1 Nghị định số 83/1998/NĐ-CP của Chính
phủ ngày 10/10/1998 về đăng ký hộ tịch thì: “Hộ tịch là những sự kiện cơ bản
xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết”.
Trƣớc khi có Nghị định số 83/1998/NĐ-CP, Bộ luật dân sự 1995 có
riêng một mục quy định về hộ tịch. Bộ luật dân sự 1995 không đƣa ra khái
niệm “hộ tịch” mà chỉ định nghĩa về đăng ký hộ tịch tại điều 54 nhƣ sau:
1. Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nƣớc có thẩm quyền
xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, nuôi con nuôi,
thay đổi họ, tên, quốc tịch, xác định dân tộc, cải chính hộ tịch và
các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
2. Việc đăng ký hộ tịch là quyền, nghĩa vụ của mỗi ngƣời.
3. Việc đăng ký hộ tịch đƣợc thực hiện theo trình tự và thủ
tục do pháp luật về hộ tịch quy định [33, Điều 54].
Nghị định 158/2005/NĐ-CP tiếp tục sử dụng khái niệm “hộ tịch” đã
đƣợc định nghĩa trong Nghị định 83/1998/NĐ-CP: “Hộ tịch là những sự kiện
cơ bản xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi
chết”. Cách định nghĩa này, thực chất chỉ là một sự ƣớc định. Về giá trị biểu
đạt, với cách định nghĩa nhƣ vậy, sẽ chính xác hơn nếu coi đây là định nghĩa
cho thuật ngữ “sự kiện hộ tịch” chứ không phải thuật ngữ “hộ tịch”. Bên cạnh
đó, bản thân cách định nghĩa này cũng chƣa xác định đƣợc rõ ràng nội hàm
của khái niệm nên cùng với khái niệm “hộ tịch”, Nghị định 158/2005/NĐ-CP

b) Xác định cha, mẹ, con;
c) Xác định lại giới tính;

12


d) Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi;
đ) Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc
kết hôn;
e) Công nhận giám hộ;
g) Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một ngƣời mất tích, đã chết,
bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
3. Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh; kết hôn; ly hôn; hủy
việc kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; xác định cha, mẹ, con;
nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã
đƣợc giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nƣớc ngoài.
4. Xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác
theo quy định của pháp luật [33, Điều 3].
Theo quan điểm của tác giả có thể hiểu khái niệm “hộ tịch” là những sự
kiện xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết:
khai sinh; kết hôn; giám hộ; nhận cha, mẹ, con; thay đổi, cải chính hộ tịch,
xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch; khai tử, thay đổi quốc tịch; xác
định cha, mẹ, con; xác định lại giới tính; nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi
con nuôi; ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn;
công nhận giám hộ; tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một ngƣời mất tích, đã chết,
bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
Với mỗi vấn đề về hộ tịch thì có giấy tờ về vấn đề đó. Theo Nghị định
158/ 2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch thì: Giấy tờ hộ tịch do cơ
quan nhà nƣớc có thẩm quyền cấp cho cá nhân theo quy định của pháp luật về
hộ tịch là căn cứ pháp lý xác nhận sự kiện hộ tịch của cá nhân đó. Giấy khai

quản lý hồ sơ cán bộ, công chức, ngành Lao động, Thƣơng binh và xã hội
trong quản lý Bảo hiểm xã hội; Hội phụ nữ, Đoàn thanh niên trong việc tuyên
truyền nâng cao nhận thức của cá nhân trong việc thực hiện quyền và nghĩa
vụ đăng ký hộ tịch.

14


Đăng ký hộ tịch đầy đủ, chính xác, kịp thời là cơ sở và tạo điều kiện
thuận lợi cho cơ quan Công an trong quá trình thực hiện nhập hộ khẩu, cấp
chứng minh nhân dân cho ngƣời dân, quản lý công dân… Ngƣợc lại hộ khẩu,
chứng minh nhân dân là một trong những cơ sở cho việc đăng ký lại các sự
kiện hộ tịch. Trong một số trƣờng hợp đƣơng sự có hai thông tin khác nhau
thì cơ quan Công an không thể tiến hành tra cứu các dữ liệu hộ tịch của ngành
Tƣ pháp. Mặc dù Nghị định 158/2005/NĐ-CP có khẳng định Giấy khai sinh
là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi ngƣời, nhƣng do không hồ sơ, sổ bộ lƣu nên khi
ngƣời dân bị mất Giấy khai sinh phải thực hiện đăng ký lại việc sinh thì Giấy
khai sinh này đƣợc cấp mới hoàn toàn theo những chứng cứ do ngƣời dân tự
cung cấp. Do cơ quan Công an cũng có một hệ thống hồ sơ lƣu trữ riêng nên
không chấp nhận Giấy khai sinh đƣợc đăng ký lại này là “giấy tờ hộ tịch
gốc”. Tuy nhiên từ khi Luật hộ tịch 2014 quy định xây dựng Cơ sở dữ liệu
hộ tịch điện tử để lƣu giữ thông tin hộ tịch của cá nhân (cùng với cơ sở dữ
liệu giấy), kết nối để cung cấp thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho Cơ
sở dữ liệu quốc gia về dân cƣ. Theo đó, Giấy khai sinh và Số định danh cá
nhân sẽ đƣợc cấp cho ngƣời đƣợc khai sinh khi đăng ký khai sinh. Mỗi hồ sơ
đăng ký khai sinh tại Ủy ban nhân dân phƣờng sẽ đƣợc chuyển qua phần
mềm đến cơ quan công an để đƣợc cấp số định danh. Đối với ngƣời dƣới 14
tuổi, Số định danh cá nhân đƣợc ghi vào Giấy khai sinh và đây chính là số
thẻ căn cƣớc công dân của ngƣời đó khi đủ tuổi đƣợc cấp căn cƣớc công
dân. Bộ Công an và Bộ Tƣ pháp quản lý thống nhất, tập trung thông tin công

Bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của nó, không có “pháp luật tự
nhiên” hay pháp luật không mang tính giai cấp.
Tính giai cấp của pháp luật thể hiện trƣớc hết ở chỗ pháp luật phản ánh
ý chí nhà nƣớc của giai cấp thống trị. Nhờ nắm trong tay quyền lực quyền lực

16


nhà nƣớc, giai cấp thống trị đã thông qua nhà nƣớc để thể hiện ý chí của giai
cấp mình một cách tập trung, thống nhất và hợp pháp hóa thành ý chí của nhà
nƣớc, ý chí đó đƣợc cụ thể hóa trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà
nƣớc có thẩm quyền ban hành. Nhà nƣớc ban hành và bảo đảm cho pháp luật
đƣợc thực hiện, vì vậy pháp luật là các quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc
đối với mọi ngƣời. Trong xã hội có giai cấp tồn tại nhiều loại quy phạm khác
nhau, nhƣng chỉ có một hệ thống pháp luật thống nhất chung cho toàn xã hội.
Tuy nhiên, vì pháp luật do nhà nƣớc, đại diện chính thức của toàn xã
hội ban hành nên nó còn mang tính xã hội. Vậy nên pháp luật là một hiện
tƣợng vừa mang tính giai cấp lại vừa thể hiện tính xã hội. Hai thuộc tính này
có mối liên hệ mật thiết với nhau. Mức độ đậm, nhạt của hai tính chất này của
pháp luật rất khác nhau và thƣờng hay biến đổi tùy thuộc vào điều kiện kinh
tế, xã hội, đạo đức, quan điểm, đƣờng lối và các trào lƣu chính trị xã hội trong
mỗi nƣớc, ở một thời kỳ lịch sử nhất định.
Vậy nên có thể định nghĩa pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do
Nhà nƣớc ban hành và bảo đảm thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị
trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh các quan hệ xã hội.
Nhà nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nƣớc pháp quyền
xã hội chủ nghĩa là nhà nƣớc của dân, do dân và vì dân, do đó pháp luật thể
hiện ý chí của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Do đó, pháp luật xã
hội chủ nghĩa là hệ thống các quy tắc xử sự, thể hiện ý chí của giai cấp công
nhân và nhân dân lao động, dƣới sự lãnh đạo của Đảng, do Nhà nƣớc xã hội

Từ năm 1987, sau khi Nghị định số 219/HĐBT ngày 20/11/1987 của Hội
đồng Bộ trƣởng có hiệu lực thì công tác đăng ký hộ tịch đƣợc chuyển giao từ
Bộ Nội vụ sang Bộ Tƣ pháp và Ủy ban nhân dân các cấp.
Ngày 27/12/2005, Chính phủ ban hành Nghị định số 158/2005/NĐ-CP
về đăng ký hộ tịch. Nghị định 158/2005/NĐ-CP thay thế Nghị định
83/1998/NĐ-CP sau 7 năm có hiệu lực. So với Nghị định 83/1998/NĐ-CP thì

18


Nghị định 158/2005/NĐ-CP đã tháo gỡ những vƣớng mắc trên thực tế mà
Nghị định 83/1998/NĐ-CP chƣa giải quyết đƣợc đó là: đơn giản thủ tục, rút
ngắn thời gian giải quyết công việc phù hợp với tinh thần cải cách hành chính,
thuận tiện cho ngƣời dân. Nghị định 158/2005/NĐ-CP có nhiều điểm mới,
đặc biệt việc phân cấp cho Ủy ban nhân dân cấp xã, Ủy ban nhân dân cấp
huyện thực hiện các thủ tục đăng ký hộ tịch trƣớc đó thuộc thẩm quyền của
Ủy ban nhân dân cấp trên.
Trong giai đoạn này, căn cứ vào quy định của Bộ luật Dân sự (năm
1995, 2005), Luật Hôn nhân và gia đình (năm 1986, 2000, 2014) và các luật
liên quan khác, đến trƣớc năm 2015, Chính phủ đã ban hành 6 Nghị định điều
chỉnh lĩnh vực hộ tịch, cả việc hộ tịch trong nƣớc và việc hộ tịch có yếu tố
nƣớc ngoài: Nghị định số 77/2001/NĐ-CP ngày 22/10/2001 của Chính phủ
quy định chi tiết về đăng ký kết hôn theo Nghị quyết số 35/2000/QH10 của
Quốc hội về việc thi hành Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị định số
32/2002/NĐ-CP ngày 27/3/2002 của Chính phủ quy định việc áp dụng Luật
Hôn nhân và gia đình đối với các dân tộc thiểu số; Nghị định số 68/2002/NĐCP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của
Luật Hôn nhân và gia đình về quan hệ hôn nhân và gia đình có yếu tố nƣớc
ngoài; Nghị định số 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006 của Chính phủ sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định số 68/2002/NĐ-CP; Nghị định số
06/2012/NĐ-CP ngày 02/02/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status