VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ BÍCH LÂN
QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TẠO HÌNH
CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở CÁC TRƢỜNG MẦM NON QUỐC TẾ
QUẬN HÀ ĐÔNG, HÀ NỘI
Ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 8.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ GIÁO DỤC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS. TS Nguyễn Khắc Bình
HÀ NỘI, 2018
i
LỜI CẢM ƠN
Em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sự tri ân sâu sắc nhất đến thầy giáo,
PGS.TS Nguyễn Khắc Bình.Trong suốt quá trình từ khi bắt đầu nhận tên đề tài đến
khi hoàn thành luận văn, em đã nhận được sự giúp đỡ và chỉ bảo tận tình của thầy .
Cùng với những tri thức và tâm huyết lâu năm trong ngành giáo dục đã truyền đạt
vốn kiến thức quý báu cho em. Nếu không có những lời hướng dẫn, dạy bảo của
thầy thì bài luận văn của em rất khó có thể hoàn thành được.
Em chân thành cảm ơn quý thầy, cô trong khoa Tâm lý học – Học Viện Khoa
học Xã Hội đã tận tình truyền đạt kiến thức trong hai năm em học tập. Vốn kiến
thức được tiếp thu trong quá trình học tập không chỉ là nền tảng cho quá trình
nghiên cứu luận văn mà còn là kiến thức quí báu về quản lý trong giáo dục mà sẽ là
: Chất lượng giáo dục
CNTT
: Công nghệ thông tin
CSVC
: Cơ sở vật chất
ĐDĐC
: Đồ dùng đồ chơi
ĐH KTQD
: Đại học Kinh Tế Quốc Dân
GDMN
: Giáo dục mầm non
GD&ĐT
: Giáo dục và đào tạo
GIÁO VIÊNMN
: Giáo viên mầm non
: Ủy ban nhân dân
TBDH
: Thiết bị dạy học
TTCM
: Tổ trưởng chuyên môn
iii
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN
TẠO HÌNH CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG TRƢỜNG MẦM NON ..................... 9
1.1. Một số khái niệm cơ bản ........................................................................................ 9
1.2. Lí luận về hoạt động dạy học môn tạo hình trong trường mầm non.................... 12
1.3. Quản lý hoạt động dạy học môn tạo hình trong trường mầm non ....................... 14
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động dạy học môn tạo hình cho trẻ trong
trường mầm non ............................................................................................................ 20
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN
TẠO HÌNH CHO TRẺ 5- 6 TUỔI TẠI CÁC TRƢỜNG MẦM NON QUỐC
TẾ, QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI .................................................... 26
2.1. Vài nét về địa bàn nghiên cứu .............................................................................. 26
2.2. Kết quả hoạt động dạy học môn tạo hình ở các trường Mầm non Quốc tế tại
Quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội............................................................................. 31
2.3. Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn tọa hình ở các trường Mầm non
Bảng 2.10: Đội ngũ hiệu trưởng ................................................................................... 42
Bảng 2.11. Đội ngũ giáo viên Trực tiếp giảng dạy lớp mẫu giáo 5- 6 tuổi năm học
2017 – 2018 ................................................................................................ 43
Bảng 2.12. Mức độ thực hiện lập kế hoạch và thiết kế chương trình Dạy học môn
tạo hình ....................................................................................................... 45
Bảng 2.13. Mức độ thực hiện bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên ...................46
Bảng 2.14. Mức độ thực hiện đầu tư cơ sở vật chất, thiết vị, các học liệu trong giáo
dục thẩm mĩ ................................................................................................ 47
Bảng 2.15. Mức độ thực hiện kiểm tra, đánh giá quá trình dạy học môn tạo hình 50
Bảng 2.16. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hoạt động dạy môn tạo
hình. ............................................................................................................ 51
Bảng 3.1. Mức độ % về sự cần thiết của các biện pháp quản hoạt động dạy học môn
tạo hình. ...................................................................................................... 72
Bảng 3.2. Kết quả khảo nghiệm tính cần thiết của các biện pháp quản lý hoạt động
dạy môn tạo hình ........................................................................................ 73
Bảng 3.3. Mức độ % về tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động dạy môn
tạo hình ....................................................................................................... 74
Bảng 3.4. Kết quả khảo nghiệm về tính khả thi của các biện pháp quản lý hoạt động
dạy học môn tạo hình ở trường mầm non ................................................. 75
Bảng 3.5. Tổng hợp kết quả khảo nghiệm giữa mức độ cần thiết và tính khả thi của các
biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tạo hình ở các trường mầm non ........ 75
v
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở Việt Nam cũng như trên thế giới, giáo dục và đào tạo đóng vai trò hết sức
quan trọng, là nhân tố chủ chốt, là nguồn lực để cho nền kinh tế phát triển. Bởi vậy tại
các quốc gia trên thế giới, nhà nước đều coi giáo dục là nhiệm vụ hàng đầu. Mục tiêu
phần nhiều các tổ chức chuyên môn mới chỉ thực hiện đủ số buổi sinh hoạt theo điều lệ 2
lần/tháng nhưng chưa chú ý đến chất lượng, nội dung sinh hoạt chuyên môn để bồi
dưỡng giáo viên theo các chuyên đề và đổi mới chương trình giảng dạy sao cho hiệu quả.
Công tác kiểm tra, đánh giá các trường đã quan tâm, hàng năm xây dựng kế hoạch kiểm
tra nội bộ trường học, kiểm tra chất lượng đầu năm, song mới chỉ là thực hiện theo kế
hoạch, các biện pháp đánh giá trong công tác quản lý, chất lượng đội ngũ, sự phát triển
khả năng ở trẻ từng lĩnh vực chưa có sự đổi mới, đôi lúc dẫn đến kết quả chưa thực sự
chính xác và khách quan. Chất lượng các nhà trường có phần chưa đáp ứng được với
những yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.
Hiện nay có một số công trình nghiên cứu về quản lý hoạt động trong trường
mầm non nhưng chỉ tập trung vào nghiên cứu việc chăm sóc nuôi dưỡng giảm tỷ lệ trẻ
suy dinh dưỡng và béo phì; giáo dục kĩ năng sống; dạy trẻ phát triển ngôn ngữ thông qua
thơ, truyện. Tuy nhiên cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về quản lý hoạt
động dạy học môn tạo hình cho trẻ 5-6 tuổi.
Xuất phát từ những lí do nêu trên, tôi đã nghiên cứu và chọn lựa đề tài “Quản
lý hoạt động dạy học môn tạo hình cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các trường mầm non
quốc tế, quận Hà Đông, Hà Nội”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2.1. Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài:
Các nhà tâm lí, giáo dục ở Liên Xô cũ có nhiều công trình nghiên cứu về vấn
đề dạy học môn tạo hình. Các tác giả như: N.P.Xaculinna, N.A.Vetlughina,
E.A.Kootxakopxkaia đã đưa ra chương trình, nội dung, phương pháp dạy trẻ mẫu
giáo ở dạng HĐTH khác nhau như vẽ, nặn, xé dán, gấp giấy, làm đồ chơi….. Các
tác giả đều thấy được vai trò của sản phẩm NTTH đối với sự phát triển của thẩm mĩ
ở trẻ em và đưa ra các biện pháp cho trẻ tiếp xúc với tác phẩm NTTH. [dẫn theo 9]
Khi nghiên cứu HĐTH của trẻ em, các nhà tâm lý học cấu trúc đã cho rằng
“Trẻ em vẽ những gì chúng nhìn thấy”. Điều này cho thấy tâm lý học cấu trúc đã
khẳng định vai trò quan trọng của tri giác, thị giác (của “cái nhìn”) và vốn kinh
nghiệm tri giác thị giác đối với sự hình thành và phát triển HĐTH của trẻ. Theo
trường phái này, “nhìn” và nhìn nhiều thì chưa đủ, cần phải biết nhìn: “nhìn trong
trẻ em như sau:
Đối với sự phát triển trí tuệ, nhận thức: HĐTH là một hoạt động nhận thức
đặc biệt mang tính hình tượng. Trong hoạt động tạo hình trẻ có nhiều cơ hội tìm
hiểu, nghiên cứu các đối tượng miêu tả để có được hiểu biết, sự hình dung về các
đối tượng, từ đó xây dựng biểu tượng, hình tượng. Bởi vậy, có thể khẳng định rằng,
hoạt động tạo hình là một trong những phương tiện tích cực để phát triển ở trẻ khả
năng hoạt động trí tuệ như: óc quan sát, trí nhớ, tư duy, tưởng tượng. Nhờ hoạt động
3
tạo hình mà vốn hiểu biết của trẻ về thế giới xung quanh được tăng lên, ngày càng
trở nên “giàu có” hơn cả về lượng và chất. [31]
Đối với việc giáo dục thẩm mĩ : Thì hoạt động tạo hình tạo nên những điều
kiện thuận lợi nhất cho sự phát triển của cảm giác, tri giác thẩm mĩ: việc khám phá,
quan sát các sự vật hiện tượng giúp trẻ nhận ra các đặc điểm về thẩm mỹ như là
hình dangs, tỷ lệ, cấu trúc...., từ đó trẻ nhận ra được những nét đặc trưng tạo nên sự
hấp dẫn của đối tượng miêu tả. Quá trình thể hiện các sản phẩm tạo hình, là điều
kiện thuận lợi cho trẻ vận dụng tích cực vốn biểu tượng hình tượng đã tích lũy được
để phối hợp, xây dựng hình tượng mới làm cho các sản phẩm tạo hình của trẻ ngày
càng trở nên sinh động. [32]
Đối với sự phát triển thể chất: Hoạt động tạo hình sẽ giúp phát triển ở trẻ khả
năng phối hợp, điều chỉnh hoạt động của mắt và tay, rèn luyện sự khéo léo, linh
hoạt trong vận động của tay, từ đó giúp cho việc học viết của trẻ ở tiểu học sẽ đạt
kết quả tố.
Đối với việc chuẩn bị vào trường phổ thông: Hoạt động tạo hình góp phần không
nhỏ trong việc chuẩn bị cho trẻ một kiến thức sơ đẳng về tự nhiên, xã hội, về khoa họckỹ thuật để giúp trẻ tiếp cận và nhận thức các môn học mới ở tiểu học một cách tốt
nhất.
Trong những năm gần đây đã có một số luận văn thạc sỹ nghiên cứu vấn đề
dạy học môn tạo hình cho trẻ như: Tác giả Đàm Thị Hoài Dung “Cho trẻ làm quen
chung và dạy học môn tạo hình ở trường mầm non nói riêng là một hướng nghiên
cứu mới đòi hỏi cần phải tổng hợp và phân tích các cơ sở lý luận đã có trước đó về
quản lý hoạt động thẩm mĩ ở trường Mầm non và hoạt động dạy học môn tạo hình
cho trẻ Mầm non.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tạo hình cho
trẻ trong trường mầm non, đánh giá thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy học
môn tạo hình cho trẻ 5 - 6 tuổi tại ba trường Mầm non quốc tế tại quận Hà Đông,
TP Hà Nội nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn tạo hình cho trẻ 5-6 tuổi cũng
như chất lượng giáo dục nói chung ở các trường quốc tế tại quận Hà Đông.
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra, đề tài sẽ đặt ra các nhiệm vụ sau:
3.1. Xác lập cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học môn tạo hình cho trẻ
5-6 tuổi trong các trường mầm non.
3.2. Khảo sát, đánh giá thực trạng quản lý động tạo hình và thực trạng công tác
quản lý hoạt động dạy học môn tạo hình cho trẻ 5-6 tuổi tại trường mầm non
Steame Garten, trường mầm non Thần Đồng, trường mầm non Ban Mai quận Hà
5
Đông, Hà Nội.
3.3. Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tạo hình cho trẻ
5-6 tuổi tại các trường mầm non quốc tế của quận Hà Đông
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Quản lý hoạt động dạy học môn tạo hình cho trẻ 5-6 tuổi tại các trường Mầm non.
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn tạo hình cho trẻ 5 – 6 tuổi ở các
5.2.2 Phương pháp quan sát
- Quan sát đàm thoại: Đàm thoại với cán bộ quản lý, giáo viên và trẻ ở trường
Mầm non.
- Quan sát và ghi biên bản: Dự giờ, quan sát quá trình dạy học hoạt động tạo
hình của giáo viên và trẻ.
- Xử lý từng bảng, lập kết quả tổng hợp: Lập bảng tổng hợp kết quả
- Định lượng kết quả quan sát nghiên cứu (qua bảng số và sơ đồ): Sử dụng một
số công thức toán học để xử lý các số liệu.
5.2.3 Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
Lập bảng hỏi (Xác định khung lý thuyết của vấn đề nghiên cứu, xác định
khách thể nghiên cứu, kĩ thuật đặt câu hỏi)
5.2.4 Phương pháp phỏng vấn
- Phương pháp này giúp người nghiên cứu tìm hiểu được nguyên nhân, bản
chất vấn đề nghiên cứu, khắc phục được những khuyết điểm của các phương pháp
khác. Nhóm đối tượng phỏng vấn là phụ huynh học sinh, giáo viên và CBQL
5.2.5. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
- Kiểm tra thực tế sản phẩm hoạt động tạo hình qua nặn, xé dán, làm đồ dùng,
đồ chơi của giáo viên và trẻ
5.2.6. Phương pháp chuyên gia
Sử dụng các bước để xin ý kiến chuyên gia:
- Bước 1: Xác định tiêu chí và xin ý kiến về phiếu điều tra
- Bước 2: Lựa chọn chuyên gia (số lượng, thành phần). Các chuyên gia có
nhiều công trình nghiên cứu trong giáo dục mầm non và đóng góp xây dựng chương
trình giáo dục mầm non mới.
- Xin ý kiến chuyên gia về xử lý kết quả của phiếu điều tra.
5.2.7 Phương pháp thống kê toán học: phương pháp thống kê toán học được
sử dụng để xử lý các số liệu điều tra, khảo sát thu về.
5.2.8. Phương pháp xử lý số liệu
- Sử dụng các công thức toán học để xử lý các số liệu đã thu được làm tăng
tính chính xác của các số liệu điều tra.
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÍ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TẠO HÌNH
CHO TRẺ 5-6 TUỔI TRONG TRƢỜNG MẦM NON
1.1. Một số khái niệm cơ bản
1.1.1. Quản lý
Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý lên đối
tượng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực, các thời
cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trường luôn biến động.
Có nhiều cách định nghĩa về khái niệm về quản lý. Các nhà nghiên cứu từ các
góc độ tiếp cận khác nhau nên có những quan niệm khác nhau sự về khái niệm này.
Một số nhà nghiên cứu lại có quan điểm khác rằng, quản lý là một quá trình kĩ
thuật và xã hội nhằm sử dụng các tác động khác nhau tới hoạt động của con người
và đạt được mục tiêu của tổ chức.
Cùng chia sẻ quan điểm trên, tác giả Robert Albanese làm rõ hơn khi cho rằng
“Quản lý là một quá trình kỹ thuật và xã hội nhằm sử dụng các nguồn, tác động tới
hoạt động của con người và tạo điều kiện thay đổi để đạt được mục tiêu của tổ
chức” .[dẫn theo 6]
- Warren Bennis, một chuyên gia nổi tiếng về nghệ thuật lãnh đạo đã từng nói
rằng: “Quản lý là một cuộc thử nghiệm gắt gao trong cuộc đời mỗi cá nhân, và điều
đó sẽ mài giũa họ trở thành các nhà lãnh đạo”. Tiếng Việt cũng có từ “quản lý” và
“lãnh đạo” riêng rẽ giống như “manager” và “leader” trong tiếng Anh. [dẫn theo 6]
- Trong cuốn “Khoa học Tổ chức và Quản lý”, tác giả Đặng Quốc Bảo quan
niệm: “Quản lý là một quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra
những nỗ lực của các thành viên trong một tổ chức và sử dụng các nguồn lực của tổ
chức để đạt được những mục tiêu cụ thể”.[8]
- Khi các định nghĩa được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, chúng ta thấy rằng
tất hầu hết các tác giả đã thống nhất về cốt lõi của khái niệm quản lý, đó là trả lời câu
hỏi; Ai quản lý? (Chủ thể quản lý); Quản lý ai? Quản lý cái gì? (Khách thể quản lý);
Quản lý như thế nào? (Phương thức quản lý); Quản lý bằng cái gì? (Công cụ quản
lý); quản lý để làm gì? (Mục tiêu quản lý). Định nghĩa quản lý được hiểu như sau:
nâng lực giáo dục nhằm xây dựng và thực hiện mục tiêu trước mắt và lâu dài của
nhà trường sao cho đạt hiệu quả cao nhất.
Từ những điều trên ta kết luận rằng: Quá trình quản lý giáo dục là hoạt động
của các chủ thể quản lý và đối tượng quản lý thống nhất với nhau trong một cơ cấu
nhất định nhằm đưa hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu dự kiến và tiến lên trạng thái
10
mới về chất. Quản lý giáo dục vừa là một hiện tượng xã hội (hiện tượng hoạt động,
lao động, công tác) vừa là một loại quá trình xã hội (quá trình quản lý) đồng thời
cũng là một hệ thống xã hội (hệ thống quản lý).
1.2.3. Khái niệm quản lý nhà trường
Trường học là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục và để tiến hành quá
trình giáo dục đào tạo, nhà trường là một thiết chế đặc biệt của xã hội. Thực hiện
chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội, đào tạo các công dân
cho tương lai.
Quản lý nhà trường là những hoạt động của chủ thể quản lý nhà trường ( Hiệu
trưởng) đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và
các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và
hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường.
Theo tác giả Phạm Minh Hạc: “Quản lý trường học là lao động của các cơ
quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của giáo viên, học sinh và các lực
lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao
chất lượng giáo dục và đào tạo trong nhà trường”[14]
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác
động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và những cán bộ khác
nhằm tận dụng các nguồn lực dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp
và do lao động xây dựng vốn tự có, hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà
trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ, thực hiện có chất lượng mục
vào sự thể hiện, biểu cảm chứ không phải là “Hình thức nghệ thuật” thực sự của tác
phẩm. Trẻ càng nhỏ càng ít quan tâm đến sự quan tâm đánh giá của người xem mà
chỉ cố gắng truyền đạt, giúp người xem hiểu được suy nghĩ, thái độ, tìn cảm của
mình qua những gì được miêu tả. Bởi vậy sự hạn chế của khả năng tạo hình được
trẻ bù đắp rất tích cực bằng âm thanh, lời nói, cử chỉ, điệu bộ…Sự chú tâm vào ý
tưởng của tranh vẽ thường làm cho trẻ (đặc biệt ở các lứa tuổi mẫu giáo bé, mẫu
giáo nhỡ) hài lòng với các hình vẽ sơ đồ đơn giản. [37]
Cùng với tính duy kỷ, tính không chủ định cũng là một đặc điểm tâm lý rất
đặc trưng tạo ra sản phẩm hoạt động dạy học môn tạo hình của trẻ vẻ hấp dẫn riêng.
Do tính không chủ định mà trong quá trình tạo hình, trẻ mẫu giáo cưa có khả năng
độc lập suy tính công việc sắp tới một cách chi tiết, các ý định miêu tả của trẻ
thường nảy sinh một cách tình cờ. Để thực hiện ý định tạo hình trẻ cũng phác ra kế
hoạch chung, song các kế hoạch đó thường dễ bị thay đổi bởi các yếu tố ngẫu nhiên
xuất hiện trong quá trình quan sát, trong hoạt động của trí nhớ hay cảm xúc.
Tranh vẽ của trẻ nhỏ dường như một câu chuyện đồ hoạ. Khi kể “câu chuyện” ấy,
cũng như khi kể chuyện bằng lời nói, trẻ thường vẽ bắt đầu bằng một chi tiết nào đó,
sau đó thêm dần các chi tiết mới. Đôi khi trẻ liên kết vào một bức tranh tới vài hành
12
động, vài sự kiện xảy ra với cùng một nhân vật (Nhân vật đó được vẽ nhiều lần, ở
nhiều vị trí tư thế trong bức tranh) và kết quả là tạo nên một bố cục rất ấu trĩ. Khi vẽ
tranh trẻ thường khó phân biệt sự vật, nhân vật chính và chưa biết cách làm cho chúng
nổi bật, những gì trẻ muốn thể hiện thường được liệt kê theo luồng suy nghĩ còn chưa
mạch lạc của trẻ. Chú tâm vào thể hiện nội dung các ý tưởng, trẻ thường vẽ rất say sưa
nhưng khác với người lớn, vẽ xong từng chi tiết trẻ thường không xem xét lại, không
quan tâm tới chúng nữa và không biết sửa sang tô vẽ lại. . [31]
1.2.2. Nội dung cơ bản của hoạt động dạy môn tạo hình ở trường mầm non
1.2.2.1 Các nguyên tắc lựa chọn, sắp xếp nội dung của hoạt động tạo hình
+ Các kĩ năng chuyên biệt cho hoạt động tạo hình: Khả năng điều chỉnh hoạt
động giữa mắt và tay; nắm vững một số kỹ thuật sử dụng các loại công cụ, vật liệu
tạo hình.
Để hình thành và phát triển khả năng nhận thức thẩm mĩ và hoạt động thực tiễn
cho trẻ, người ta phân các nội dung giáo dục và phát triển tạo hình thành bốn nhóm:
. Nhóm 1: Các kiến thức, kỹ năng, năng lực thể hiện vật mẫu đơn giản (một
hoặc một nhóm vật mẫu)
. Nhóm 2: Các kiến thức, kỹ năng, năng lực tryền đạt nội dugn mạch lạc
(Chủ đề , cốt truyện)
. Nhóm 3: Các kiến thức, kỹ năng, năng lực trang trí
. Nhóm 4: Các kiến thức và kỹ năng mang tính kỹ thuật.
* Nội dung miêu tả của chƣơng trình hoạt động tạo hình
Nội dung miêu tả được xem như là phương tiện, là con đường để thực hiện các
nội dung giáo dục và phát triển của hoạt động tạo hình. Việc tìm kiếm nội dug miêu
tả cần cần xuất phát từ một số nguồn cơ bản sau:
- Định hướng cho chương trình hoạt động tạo hình được quy định trong
chương trình giáo dục mầm non
- Các vấn đề, các nội dung giáo dục mà giáo viên tìm hiểu, thu thập được và
muốn đưa đế cho trẻ
- Các kinh nghiệm hiểu biết, những mong muốn của trẻ liên quan đến hoạt
động tạo hình
1.3. Nội dung quản lý hoạt động dạy học môn tạo hình trong trƣờng mầm
non
1.3.1.. Chỉ đạo lập kế hoạch cho chương trình hoạt động dạy học môn tạo hình
Căn cứ vào mục tiêu, yêu cầu lĩnh vực giáo dục thẩm mĩ thông qua hoạt động
tạo hình cho trẻ ở trường mầm non. BGH cần chỉ đạo việc xây dựng kế hoạch cụ thể
thực hiện chương trình giáo dục đạt hiệu quả cao. Ngoài số giờ theo phân phối
chương trình do Bộ Giáo Dục và Đào tạo quy định. BGH cần phải căn cứ vào thời
gian quy định cho năm học đối với trẻ mầm non là 35 tuần học/ năm; căn cứ vào
năng mới, khi lên 5 tuổi từ những cái trẻ đã biết cần dạy trẻ cả về kiến thức và kỹ
năng ở mức độ cao hơn có tính sáng tạo.
Giới thiệu với trẻ nhiều phương tiện khám phá hoạt động tạo hình việc tạo
biểu tượng và tạo mẫu. Khuyết khích sự phát triển các kỹ năng và nắm vững các kỹ
thuật tự chọn lọc. Qua những hoạt động tạo hình cần khuyết khích khả năng, sự
15
sáng tạo của trẻ, tạo mọi điều kiện để trẻ được trải nghiệm kỹ năng và biết chọn lọc
hoạt động ưa thích.
Phát triển trực giác và ý thức thẩm mĩ. Cần hình thành và phát triển khả năng
quan sát, tư duy, óc tượng tượng... giáo dục ý thức thẩm mĩ trong các hoạt động
thực tế hàng ngày (thể hiện cảm xúc, yêu cái đẹp, so sánh những hành vi đúng, sai).
Hoạt động cốt lõi: Vẽ, nặn và xé dán. Đây được coi là phương tiện có giá trị
nhất đối với tất cả trẻ vì: Qua phương tiện trực tiếp trẻ sẽ thể hiện những ý tưởng cá
nhân, tạo ra sản phẩm giúp cô giáo dễ kiểm soát. Quá trình được vẽ, nặn, xé dán
giúp trẻ có thể trau dồi các kiến thức, kỹ năng xử lý phương tiện, phát huy khả năng
sáng tạo ra các sản phẩm nghệ thuật đẹp.
Để thiết kế một chương trình giảng dạy lĩnh vực phát triển thẩm mĩ qua hoạt
động tạo hình cho trẻ lứa tuổi mầm non thì cần phải có các yếu tố nghệ thuật thể
hiện qua nội dung vẽ, nặn, xé dán, làm đồ dùng- đồ chơi, bên cạnh đó chương trình
còn được bao hàm tất cả 5 lĩnh vực phát triển của trẻ về: Đức, trí, thể, mĩ và lao
động. Trước khi thiết kế chương trình cần xác định mục tiêu cần đạt có phù hợp với
khả năng của trẻ không, có đảm bảo chiều hướng giúp trẻ phát triển không và ai là
người thực hiện nó và thực hiện như thế nào...
1.3.2. Tổ chức triển khai thực hiện chương trình giáo dục thẩm mĩ cho trẻ
thông qua hoạt động tạo hình
Từ chương trình giáo dục thẩm mĩ thông qua hoạt động tạo hình cho trẻ mầm
non đã được lựa chọn thiết kế đảm bảo mục tiêu giáo dục, nội dung giáo dục đa
Công tác bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên là một nhiệm vụ quan
trọng trong các đơn vị trường học, nhất là đối với BGH vì đội ngũ giáo viên có trình
độ năng lực vững vàng, tay nghề giỏi, kỹ năng sư phạm tốt sẽ quyết định đến chất
lượng trong các nhà trường. Mục đích thông qua chuyên đề, sinh hoạt chuyên môn là
tạo ra môi trường mô hình mẫu về chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục trẻ
trong trường mầm non. Chính vì vậy để bồi dưỡng cho đội ngũ giáo viên nắm bắt và
thực hiện tốt chương trình giáo dục thẩm mĩ nói chung và hoạt động tạo hình nói
riêng thì người quản lý cần có những biện pháp bồi dưỡng chuyên môn với nhiều
hình thức nhằm phát huy khả năng sáng tạo của đội ngũ. Tạo mọi điều kiện cho giáo
viên hiểu rõ về cấu trúc, mục tiêu, nội dung, phương pháp và các lĩnh vực phát triển
trong chương trình. Tiếp đó giúp giáo viên nắm bắt về việc lập kế hoạch giáo dục
phải thực hiện các vấn đề: Căn cứ xây dựng kế hoạch, cách thức xây dựng kế hoạch,
xây dựng và phát triển chủ đề, tổ chức thực hiện chủ đề... sau đó cho giáo viên thảo
luận nhóm làm bài tập thực hành. Từ đó sẽ giúp giáo viên nắm chắc nội dung chương
trình và các hoạt động phát triển thẩm mĩ cho trẻ ở các lứa tuổi.
17
BGH chỉ đạo các tổ chuyên môn tổ chức các buổi tập tuấn, chuyên đề, bồi
dưỡng về lý thuyết, thực hành. Sau đó trao đổi trực tiếp với giáo viên để họ hiểu rõ
hơn về cách xây dựng thiết kế thực hiện chương trình. Thường xuyên tạo điều kiện
cho giáo viên được thăm lớp dự giờ để học hỏi kinh nghiệm. Đây cũng là một điều
kiện để giúp giáo viên được học hỏi đồng nghiệp, nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
Với hoạt động tạo hình ngoài việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên thông
qua chương trình, trao đổi thảo luận, dự giờ đồng nghiệp, cần phải tổ chức các Hội thi
như: Vẽ tranh sáng tạo, nặn các con vật yêu thích, làm đồ dùng - đồ chơi tự tạo...để trẻ
thể hiện kiến thức, kỹ năng đã học, hình thành cảm xúc yêu thích nghệ thuật, mong
muốn tạo ra sản phẩm nghệ thuật, từ đó hình thành cho trẻ thị hiếu thẩm mĩ.
1.3.4. Đầu tư cơ sở vật chất, thiết bị, các học liệu để tổ chức hoạt động dạy
dạy học và các học liệu, xây dựng thêm các phòng hoạt động chức năng để phục vụ
cho việc dạy và học. Huy động giáo viên sưu tầm học liệu làm đồ dùng, đồ chơi
phục vụ các hoạt động học của trẻ. Ngoài ra hằng năm cần phải tổ chức các Hội thi
làm đồ dùng tự tạo để phát huy sự khéo léo, sáng tạo của giáo viên và trẻ.
BGH cần phải kiểm tra thường xuyên quản lý tốt trang thiết bị và cơ sở vật
chất, hằng năm phải thống kê số lượng, giá trị khấu hao tài sản, kiểm tra xem đồ
dùng, đồ chơi nào còn dùng được và không sử dụng được để lên kế hoạch đầu tư
mua sắm thêm và sửa chữa đảm bảo an toàn để đưa vào dạy học thường xuyên lâu
dài. Ngoài ra BGH cần huy động các nguồn lực hỗ trợ đặc biệt là huy động nguồn
lực tài chính của doanh nghiệp và cộng đồng.
1.3.5. Tổ chức kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục thẩm mĩ thông qua hoạt
động dạy học môn tạo hình
Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng không thể thiếu trong quá trình giáo dục
nói chung và trong các hoạt động giáo dục thẩm mĩ nói riêng. Đây là công cụ quan
trọng thiết yếu để điều chỉnh quá trình dạy và học có hiệu quả, hoạt động dạy học là
hoạt động hai chiều do đó cần phải thường xuyên kiểm tra đánh giá giúp nâng cao
hoạt động giáo dục thẩm mĩ trong các mộn học và qua hoạt động tạo hình.
Giáo dục thẩm mĩ không chỉ có ở hoạt động tạo hình mà có trong tất cả các
hoạt động hàng ngày ở trường mầm non như: Giáo dục âm nhạc, khám phá khoa
học, làm quen chữ cái, ngôn ngữ, tình cảm và kỹ năng xã hội... và nhiều nội dung
trong cuộc sống hàng ngày có thể khai thác và lồng ghép vào giáo dục thẩm mĩ cho
trẻ. Vì vậy rất cần xây dựng những tiêu chí có liên quan đến giáo dục thẩm mĩ để
đánh giá trong hoạt động học và các hoạt động vui chơi hằng ngày của trẻ.
Mục tiêu của việc kiểm tra, đánh giá để thực hiện điều chỉnh quá trình dạy học
cho phù hợp, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy học môn tạo hình vẽ, nặn, xé
dán và làm đồ dùng- đồ chơi.
19
tư duy trực quan hình tượng phát triển mạnh mẽ và chiếm ưu thế. Sang cuối tuổi mẫu
giáo (5-6 tuổi), trẻ phát triển cả 3 loại tư duy, nhưng tư duy hành động trực quan vẫn
20