Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật
Trần Thị Thu Trang
Hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết
Phá sản doanh nghiệp ở việt nam hiện nay
Luận văn thạc sĩ
Hà Nội - 2009
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Đại học Quốc gia Hà nội
Khoa luật
Trần Thị Thu Trang
Hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết
Phá sản doanh nghiệp ở việt nam hiện nay
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số: 60 38 50
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁ SẢN DOANH
NGHIỆP VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY ............................................................................... 9
1.1. Khái niệm về phá sản và thủ tục giải quyết phá sản.............................. 9
1.1.1. Khái niệm phá sản ...................................................................... 10
1.1.2. Thủ tục giải quyết phá sản ........................................................... 14
1.2. Thủ tục giải quyết phá sản của một số nước trên thế giới ................... 20
1.2.1. Một vài nét chung về phá sản và pháp luật phá sản của các nước
trên thế giới ........................................................................................... 20
1.2.2. Thủ tục giải quyết phá sản của một số nước trên thế giới ............ 23
CHƢƠNG 2: PHÁP LUẬT VỀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN
DOANH NGHIỆP Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ......................................... 32
2.1. Pháp luật về mở thủ tục phá sản ......................................................... 32
2.1.1. Nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ........................................... 32
2.1.2. Nhận đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản.......................................... 42
2.1.3. Thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản ........................................ 49
2.1.4. Mở thủ tục phá sản và những công việc cần tiến hành ................. 50
2.2. Pháp luật về thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh ........................... 60
2.2.1. Khái niệm, đặc điểm, mục đích, ý nghĩa của thủ tục phục hồi hoạt
động kinh doanh .................................................................................... 60
2.2.2. Nội dung của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh .................. 63
2.3. Pháp luật về thủ tục thanh lý tài sản và các khoản nợ ......................... 65
phi
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ở nước ta từ những năm 1980 trở về trước nền kinh tế còn mang nặng
tính hành chính, bao cấp. Với Đại hội Đảng VI (năm 1986), công cuộc đổi
mới của đất nước đã được khởi xướng. Nền kinh tế của nước ta đã có sự tăng
trưởng vượt bậc do được xây dựng và hoạt động trên quan điểm mới - quan
điểm phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) cũng đã góp phần
tạo cho nền kinh tế nước ta cơ hội mới để phát triển toàn diện đồng thời cũng
đặt ra những thách thức lớn, đòi hỏi nước ta phải tiếp tục hoàn thiện môi
trường kinh doanh, hoàn thiện hệ thống pháp luật để tạo được môi trường
kinh doanh lành mạnh, bình đẳng, an toàn cho nhà đầu tư.
Trong nền kinh tế thị trường, các loại hình doanh nghiệp khác nhau
thuộc mọi thành phần kinh tế đều được Nhà nước khuyến khích thành lập và
tạo điều kiện hoạt động một cách bình đẳng và cạnh tranh trong khuôn khổ
pháp luật. Tuy nhiên do nhiều nguyên nhân khác nhau mà bên cạnh những
doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả, tạo ra nhiều sản phẩm cho xã hội thì còn có
một bộ phận không nhỏ những doanh nghiệp đã và đang làm ăn thua lỗ, mất
khả năng thanh toán. Vì vậy có thể nói, phá sản là một thuộc tính của nền
kinh tế thị trường. Để tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý tài sản của các doanh
nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, bảo vệ lợi ích của chủ nợ, con nợ và của
Nhà nước nói chung, Nhà nước nào cũng phải ban hành Luật Phá sản. Luật
Phá sản doanh nghiệp năm 1993 của nước ta được ban hành là nhằm đảm bảo
thực hiện yêu cầu này. Tuy nhiên, trong quá trình thi hành các quy định của
Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 cho thấy Luật này còn nhiều quy định
1
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
đầu mối quản lý, giảm thủ tục hành chính, Luật Phá sản năm 2004 đã quy
định thành lập một Tổ là Tổ quản lý và thanh lý tài sản do một Chấp hành
viên của Cơ quan thi hành án cùng cấp làm tổ trưởng. Tuy nhiên, trên thực tế,
hoạt động của Tổ quản lý và thanh lý tài sản đã không đạt hiệu quả do nhiều
quy định về nó chưa hợp lý, chưa khoa học, không phù hợp với điều kiện cụ
thể của nước ta hiện nay.
- Thứ tư, theo quy định của Luật Phá sản năm 2004, người đại diện theo
pháp luật của doanh nghiệp được uỷ quyền cho người khác đề nghị Toà án
mở thủ tục phá sản với chính doanh nghiệp mình và tham gia toàn bộ quá
trình giải quyết của Toà án. Tuy nhiên, do Luật không quy định cụ thể điều
kiện của người được uỷ quyền nên trên thực tế có nhiều người nhận uỷ quyền
của các doanh nghiệp nhưng lại không nắm được tình hình công nợ, tình hình
tài sản của doanh nghiệp nên đã kê khai không đúng với Tổ quản lý, thanh lý
tài sản. Việc thiếu những quy định chặt chẽ về trách nhiệm của các doanh
nghiệp cũng như của Tổ quản lý, thanh lý tài sản đã dẫn đến nhiều khoản nợ
phải thu của doanh nghiệp phá sản đã không được thu hồi kịp thời trước khi
tuyên bố phá sản, làm cho việc thụ lý giải quyết vụ án phá sản bị kéo dài.
Từ những ví dụ nêu trên, cùng với nhiều hạn chế có tính thủ tục khác
đã làm giảm hiệu lực của Luật Phá sản năm 2004 trong cuộc sống. Để góp
phần nâng cao hơn nữa hiệu lực và hiệu quả của Luật này, Tôi chọn đề tài:
Dương Đăng Huệ, Nhà xuất bản tư pháp, năm 2005. Đây là công trình chuyên
khảo nghiên cứu một cách đầy đủ, toàn diện các vấn đề liên quan đến phá sản
như một hạ tầng của kinh tế thị trường và pháp luật về phá sản với tư cách là
một công cụ pháp lý để giải quyết hậu quả của doanh nghiệp bị Toà án tuyên
bố phá sản. Công trình này cũng đã dành nhiều trang cho việc nghiên cứu các
quy định mới của Luật Phá sản năm 2004 so với Luật Phá sản doanh nghiệp
năm 1993. Tuy nhiên, do tính bao quát của mình nên công trình đã không
4
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
dành nhiều công sức cho việc nghiên cứu một cách chi tiết các thủ tục phá sản
theo Luật Phá sản năm 2004.
- Luận án tiến sĩ “Hoàn thiện các quy định liên quan đến quản lý và
thanh lý tài sản phá sản” của Nguyễn Thị Hồng Vân, được bảo vệ thành công
tại khoa Luật, Đại học quốc gia Hà Nội năm 2008. Đây là một công trình
nghiên cứu rất chuyên sâu về các hạn chế, yếu kém trong các quy định của
pháp luật có liên quan đến công tác quản lý và thanh lý tài sản phá sản và Tổ
quản lý, thanh lý tài sản. Như vậy, các nội dung khác của Luật Phá sản chưa
được đề cập đến trong luận án này;
- Công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ “ Thực trạng pháp luật về phá
sản và việc hoàn thiện môi trường pháp luật kinh doanh tại Việt Nam” của Bộ
sản doanh nghiệp của Luật Phá sản năm 2004. Thông qua nghiên cứu, phân
tích, luận văn nêu ra những ưu điểm và tồn tại của từng loại thủ tục phá sản và
đưa ra một số giải pháp để hoàn thiện các quy định của pháp luật về các loại
thủ tục đó nhằm góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giải quyết phá sản
doanh nghiệp ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa MacLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật bao gồm phương
pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, các
văn kiện đại hội Đảng, quan điểm của Đảng và Nhà nước đối với nền kinh tế
nói chung và hoạt động của doanh nghiệp nói riêng.
Các phương pháp cụ thể được vận dụng khi viết luận văn là phương
pháp phân tích, tổng hợp, chứng minh, hệ thống hoá pháp luật và phương
pháp luật học so sánh. Luận văn tiến hành tổng hợp và phân tích các quy định
trong các văn bản pháp luật của Việt Nam về phá sản để đánh giá thực trạng,
những khó khăn, vướng mắc trong việc giải quyết các doanh nghiệp lâm vào
tình trạng phá sản. Trên cơ sở đó, luận văn sẽ đưa ra những kiến nghị về việc
6
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
hoàn thiện các quy định về thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp ở Việt
Nam trong giai đoạn hiện nay. Sự vận dụng một cách nhuần nhuyễn các
phá sản doanh nghiệp trong thời gian tới.
7. Kết cấu của Luận văn:
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của Luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về phá sản doanh nghiệp và thủ tục giải
quyết phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
Chương 2: Pháp luật về thủ tục giải quyết phá sản doanh nghiệp ở Việt Nam
hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về thủ tục giải quyết phá sản
doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay
8
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHÁ SẢN DOANH
NGHIỆP VÀ THỦ TỤC GIẢI QUYẾT PHÁ SẢN DOANH NGHIỆP Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
1.1. Khái niệm về phá sản và thủ tục giải quyết phá sản
Danh từ phá sản bắt nguồn từ chữ “Ruin” trong tiếng Latinh, có nghĩa
là sự khánh tận. Khái niệm này dùng để chỉ tình trạng mất cân đối giữa thu và
chi của một chủ thể kinh doanh mà biểu hiện trực tiếp của sự mất cân đối ấy
là tình trạng mất khả năng thanh toán.
Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường
mà hậu quả của nó là sự xung đột lợi ích của các bên tham gia quan hệ kinh
doanh. Phá sản không chỉ là sự xung đột lợi ích giữa con nợ mất khả năng
thanh toán với các chủ nợ của nó mà còn dẫn đến sự xung đột với lợi ích của
tập thể người lao động làm việc tại cơ sở của con nợ, đến lợi ích chung của xã
hội, đến tình hình trật tự trị an tại một địa phương, vùng lãnh thổ nhất định
nào đó. Ban hành pháp luật phá sản là mong muốn của nhà làm luật sử dụng
những thuộc tính của pháp luật với tư cách là công cụ điều chỉnh các quan hệ
xã hội trong điều kiện tồn tại Nhà nước như tính quy phạm, tính bắt buộc
chung… nhằm tác động một cách hiệu quả nhất đến quan hệ giữa các chủ thể
quan hệ phá sản, giải quyết xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo đúng bản
chất vốn có của nó.
Như vậy phá sản là hiện tượng bình thường và cần thiết của kinh tế thị
trường, còn pháp luật phá sản là sự can thiệp có ý thức của Nhà nước vào hiện
tượng này nhằm hạn chế tối đa những hậu quả tiêu cực và khai thác những
mặt tích cực của nó. Thông qua pháp luật phá sản, Nhà nước có thể can thiệp
vào quá trình hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp với một cách nhìn
hiện đại, năng động và hết sức mềm dẻo.
1.1.1. Khái niệm phá sản
10
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Pháp luật của các nước quy định về đối tượng có thể bị tuyên bố phá
sản cũng rất khác nhau. Ở một số nước thủ tục tuyên bố phá sản có thể được
áp dụng đối với tất cả những người mắc nợ mà không phân biệt cá nhân hay
pháp nhân và cũng không phân biệt thương nhân hay không là thương nhân,
không phân biệt nợ dân sự hay là nợ thương mại (chẳng hạn Hoa Kỳ,
Nhật…). Một số nước lại chỉ xem thương nhân với các khoản nợ thương mại
mới là đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản (chẳng hạn là pháp luật của Nga
trước khi ban hành Luật mất khả năng thanh toán năm 2002). Một số nước lại
quy định chỉ doanh nghiệp mới là đối tượng có thể bị tuyên bố phá sản. Luật
Phá sản doanh nghiệp năm 1993 của Việt Nam đã quy định theo hướng này.
b) Khái niệm doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản theo Luật Phá
sản năm 2004
Luật Phá sản năm 2004 ra đời là một cố gắng mới của các nhà lập pháp
nước ta trong việc nâng cao hiệu quả điều chỉnh pháp luật đối với hiện tượng
phá sản bằng việc khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Phá sản doanh
nghiệp năm 1993 và bổ sung những nội dung mới trên cơ sở tổng kết thực
tiễn 9 năm áp dụng Luật này, tham khảo kinh nghiệm nước ngoài, thể chế hóa
chính sách kinh tế của Đảng, Nhà nước ta trong giai đoạn phát triển mới của
đất nước. Trong số các điểm mới đó có khái niệm mới về tình trạng phá sản.
Khái niệm tình trạng phá sản là khái niệm có ý nghĩa quan trọng của
pháp luật phá sản. Tùy thuộc vào định nghĩa này trong pháp luật phá sản của
mỗi quốc gia mà sự can thiệp của Nhà nước vào hiện tượng phá sản sớm hay
muộn, lập trường của Nhà nước nghiêng về bảo vệ lợi ích của ai nhiều hơn:
chủ nợ hay con nợ.
Trong Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 khái niệm này dường như
được xây dựng trên cơ sở kết hợp tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính.
Tính định lượng thể hiện ở quy định về việc chủ nợ có quyền nộp đơn yêu cầu
đưa ra khái niệm tình trạng phá sản đã đoạn tuyệt với nguyên nhân khó khăn,
thua lỗ trong hoạt động kinh doanh và thời hạn thua lỗ. Đây là một bước tiến
lớn của pháp luật phá sản nước ta, thể hiện sự can thiệp sớm của Nhà nước
vào hiện tượng phá sản. Tính chất nghiêm trọng về hậu quả có tính dây
chuyền của hiện tượng phá sản trong đời sống kinh tế đòi hỏi khách quan sự
can thiệp sớm của Nhà nước. Tuy nhiên, cũng giống như Luật Phá sản doanh
nghiệp năm 1993, trong Luật Phá sản năm 2004 thì khái niệm phá sản vẫn
chưa được đề cập.
13
1.1.2. Thủ tục giải quyết phá sản
a) Khái niệm thủ tục giải quyết phá sản
Thủ tục giải quyết phá sản là thủ tục tư pháp vì nó do Toà án với tư
cách là cơ quan tư pháp tiến hành. Trong thủ tục phá sản khi các chủ nợ thực
hiện quyền đòi nợ của mình nhưng yêu cầu đó không được đáp ứng từ phía
con nợ thì xuất hiện một sự xung đột về lợi ích tài sản giữa chủ nợ và con nợ.
Xung đột này là xung đột về mặt tài sản, liên quan đến việc thực hiện các
nghĩa vụ pháp lý phát sinh từ hợp đồng hoặc một sự kiện pháp lý nào đó. Sự
xung đột mà thực chất là sự không chấp hành hoặc chấp hành không đầy đủ
nghĩa vụ của một bên đương nhiên ảnh hưởng đến lợi ích của bên đối tác. Để
có thể bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình, chủ nợ buộc phải yêu cầu Toà án mở
thủ tục phá sản đối với con nợ với mục đích thu hồi nợ. Khi có yêu cầu mở
thủ tục phá sản, Toà án phải xem xét yêu cầu đó có chính đáng hay không.
Nếu xác định con nợ đã mất khả năng thanh toán thì tuỳ từng trường hợp cụ
thể Toà án căn cứ vào quy định của pháp luật để ra quyết định áp dụng thủ tục
phù hợp là thủ tục phục hồi hoặc thủ tục thanh toán hay thủ tục tuyên bố con
nợ bị phá sản. Tại hội nghị chủ nợ các bên có thể chấp nhận hoặc không chấp
nhận kế hoạch tổ chức lại hoạt động kinh doanh của con nợ thì đó cũng là một
giữa các thủ tục cấu thành. Đây là bước phát triển về lý luận của pháp luật
phá sản nước ta.
Luật Phá sản doanh nghiệp năm 1993 tuy cũng có những quy định về
phục hồi hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh nghiệp nhưng Luật
chưa thừa nhận những nội dung đó là những thủ tục cấu thành độc lập, chưa
nhìn nhận được tính đặc thù về mối quan hệ giữa các thủ tục đó. Trong Luật
Phá sản doanh nghiệp năm 1993, phục hồi hoạt động kinh doanh gần như là
một hoạt động bắt buộc trước hoạt động thanh lý. Chỉ sau khi phục hồi không
thành công – thực hiện kế hoạch tổ chức lại hoạt động kinh doanh không đem
lại kết quả, con nợ vi phạm cam kết hoặc Hội nghị chủ nợ không chấp nhận
kế hoạch phục hồi hoặc con nợ không có kế hoạch thì lúc đó Tòa án mới có
thể quyết định chuyển sang tuyên bố phá sản với con nợ và thanh lý tài sản
của nó. Giải quyết mối quan hệ giữa hai thủ tục phục hồi và thanh lý như vậy
là cứng nhắc và máy móc. Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, tại thời
điểm thụ lý đơn yêu cầu giải quyết tuyên bố phá sản đã có nhiều con nợ
ngừng hoạt động, hoàn toàn không còn khả năng phục hồi nhưng do Luật quy
15
định nên thẩm phán vẫn phải tuần tự thực hiện các quy định của thủ tục phục
hồi. Điều này chỉ làm kéo dài thời gian vô ích, không có ý nghĩa gì cả.
Quan điểm của tác giả Nguyễn Tấn Hơn cho rằng, thủ tục giải quyết
phá sản là một quá trình bao gồm ba giai đoạn chính yếu:
+ Giai đoạn thứ nhất: Giai đoạn điều tra khả năng thanh toán nợ của
doanh nghiệp. Trong giai đoạn này nếu con nợ không muốn rơi vào giai đoạn
sau thì phải chứng minh cho Tòa án khả năng thanh toán nợ của mình. Nếu
Tòa án nhận thấy con nợ không còn khả năng thanh toán nợ đến hạn thì áp
dụng ngay giai đoạn tiếp theo.
+ Giai đoạn thứ hai: Giai đoạn giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản.
nhiệm vụ của giai đoạn xét xử sơ thẩm và đồng thời cũng không thực hiện
được nhiệm vụ chung của tố tụng hình sự.
Trong thủ tục giải quyết phá sản, nhiệm vụ của các thủ tục cấu thành có
tính độc lập với nhau rất lớn. Thực hiện nhiệm vụ của thủ tục này không phải
lúc nào cũng là tiền đề để thực hiện nhiệm vụ của thủ tục kia. Ví dụ như
nhiệm vụ của thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác
hẳn với nhiệm vụ của thủ tục thanh lý tài sản và thực hiện nhiệm vụ của thủ
tục phục hồi không phải là tiền đề cho thủ tục thanh lý tài sản mà có thể loại
trừ sự cần thiết của chính thủ tục thanh lý tài sản doanh nghiệp…
Điểm tiến bộ được ghi nhận trong Luật Phá sản năm 2004 chính là
những quy định về mối quan hệ đặc thù giữa các thủ tục cấu thành trong thủ
tục giải quyết phá sản. Điều này cho phép Tòa án giải quyết yêu cầu tuyên bố
phá sản một cách uyển chuyển tùy thuộc vào những tình huống cụ thể. Tòa án
có thể quyết định tuyên bố phá sản với con nợ ngay mà không cần thụ lý đơn
yêu cầu tuyên bố phá sản (khoản 1 Điều 87 Luật Phá sản năm 2004) hoặc sau
khi thụ lý (khoản 2 Điều 87) hoặc khi đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản (Điều
86). Thủ tục phục hồi không còn là một thủ tục bắt buộc trước thủ tục thanh
lý tài sản trong tiến trình giải quyết yêu cầu tuyên bố phá sản. Không những
thế, khi mà nhiệm vụ của thủ tục này không thể thực hiện được hoặc thực
hiện không thành công thì có thể chuyển đổi sang thủ tục thanh lý tài sản
ngay (Điều 79, 80).
c) Đặc điểm của thủ tục giải quyết phá sản
Khác với thủ tục giải quyết một vụ kiện dân sự (tố tụng dân sự) hay thủ
tục giải quyết một vụ kiện kinh tế (tố tụng kinh tế), thủ tục giải quyết một vụ
phá sản được coi là một loại tố tụng tư pháp đặc biệt. Thủ tục này bao gồm
17
thủ tục phục hồi, thủ tục thanh lý, và thủ tục tuyên bố phá sản. Tính chất đặc
Ket-noi.com
Ket-noi.com kho
kho tai
tai lieu
lieu mien
mien phi
phi
Thứ tư, thủ tục giải quyết phá sản không chỉ là thủ tục đòi nợ mà còn là
thủ tục có khả năng giúp phục hồi hoạt động của doanh nghiệp
Trong thủ tục phá sản con nợ được Tòa án tạo điều kiện tối đa trong
việc phục hồi hoạt động kinh doanh. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng bởi
việc một doanh nghiệp bị phá sản sẽ không chỉ gây ảnh hưởng đến quyền và
lợi ích của bản thân chủ doanh nghiệp đó mà còn ảnh hưởng đến xã hội, khiến
người lao động bị mất việc làm. Đối với các chủ nợ, trong trường hợp con nợ
gặp khó khăn, việc thanh lý ngay con nợ để nhận nợ không phải bao giờ cũng
là giải pháp tối ưu cho họ vì không phải doanh nghiệp nào lâm vào tình trạng
phá sản cũng còn đủ tài sản để thanh toán hết các món nợ của mình. Vì vậy,
pháp luật cho phép con nợ được chủ động xây dựng phương án hòa giải và
giải pháp tổ chức lại hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
Thứ năm, thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý có tính chất tổng hợp
Thủ tục phá sản là một thủ tục pháp lý rất phức tạp. Tính phức tạp thể
hiện ở chỗ, khi giải quyết việc phá sản, Toà án phải thụ lý và giải quyết nhiều
công việc khác nhau về tính chất như giải quyết các vấn đề về việc doanh
nghiệp có mất khả năng thanh toán nợ hay không, giải quyết việc phục hồi
hoạt động của doanh nghiệp, việc quản lý tài sản của doanh nghiệp con nợ.
Thứ sáu, thủ tục phá sản là thủ tục bao gồm các thủ tục ( thủ tục con)
tồn tại độc lập với nhau, không làm tiền đề cho nhau mặc dù có mối quan hệ
nhất định với nhau.
Trong thủ tục giải quyết phá sản, nhiệm vụ của các thủ tục cấu thành có
Thủ tục chính thức là những thủ tục được điều chỉnh bằng pháp luật và
thông qua Tòa án. Các thủ tục này có những tên gọi khác nhau nhưng về bản
chất gồm có hai thủ tục chính: Thủ tục thanh toán (phá sản, thanh toán, thanh
lý tài sản và các khoản nợ), thủ tục phục hồi (cam kết, thỏa thuận, tổ chức
lại…).
* Thủ tục thanh toán:
20