SKKN một số kinh nghiệm sử dụng câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn học lớp 9 - Pdf 51

1. Phần mở đầu
1.1. Lí do chọn đề tài
Hiện nay, các môn học nói chung và đối với môn Ngữ văn nói riêng, vấn đề
đổi mới phương pháp dạy học đã trở thành vấn đề cấp thiết của xã hội nhằm đáp
ứng những yêu cầu ngày càng cao của giáo dục hiện đại và chú trọng hơn đến sự
phát triển năng lực của học sinh. Môn ngữ văn không chỉ là một môn học nghệ
thuật mà còn là môn học công cụ. Dạy - học tác phẩm văn học trong nhà trường có
nhiệm vụ nâng cao chất lượng cho học sinh, làm phong phú hơn về tâm hồn và
phát triển nhân cách của các em. Nó cung cấp những kiến thức về cuộc sống cũng
như những điều bí ẩn trong tâm hồn con người; khơi gợi lên một thế giới lung linh
sắc màu bởi vẻ đẹp nhân văn trong mỗi sự vật, hiện tượng trong tác phẩm. Từ sự
nhận thức đó, các em đi đến tự ý thức,tự điều chỉnh mình trong cuộc sống. Đặc biệt
là trong quá trình giảng dạy theo phương pháp đổi mới môn ngữ văn theo hướng
tích hợp. Để phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập thì người
giáo viên có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo hoạt động của học sinh. Học sinh phải là chủ
thể tự giác tích cực trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Muốn giờ học tác phẩm văn
học được sinh động, vai trò của học sinh trong giờ học được khẳng định và mối
liên hệ qua lại giữa thầy và trò được duy trì thì không thể thiếu hệ thống câu hỏi
nêu vấn đề. Một bài văn, một tác phẩm văn chương hay số phận nhân vật chỉ trở
thành đối tượng suy tư của mỗi người khi chính người đó nhận ra trong đó có
những tình huống, vấn đề, tâm trạng có liên quan đến tầm suy nghĩ hay rung động
của mình. Tác phẩm nào cũng có vấn đề nhưng không phải bất kì vấn đề nào trong
tác phẩm cũng tự nhiên trở thành tình huống có vấn đề đối với chủ thể người đọc học sinh. Điều quan trọng là giáo viên phải có tầm tri thức, linh hoạt vận dụng các
thao tác và kĩ thuật dạy học nhằm phát hiện và khơi gợi những tình huống có vấn
đề thông qua các câu hỏi nêu vấn đề. Có như vậy, học sinh mới “động não” và
hứng thú hoạt động trong giờ học.
Nhưng việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề như thế nào trong giờ học để đem lại
hiệu quả cao đó là điều mà người giáo viên dạy văn cần trăn trở và suy nghĩ. Qua
thực tế giảng dạy tôi thấy rằng cách đặt câu hỏi trong giờ dạy tác phẩm văn chương
vẫn còn những hạn chế. Có trường hợp giáo viên nêu câu hỏi nhiều nhưng chưa tập
trung hoặc chưa có hệ thống, câu hỏi chỉ mang tính chất tái hiện chưa phát huy

phẩm hay có giá trị bồi đắp tâm hồn cho học sinh. Hơn nữa, đổi mới nội dung,
chương trình, phương pháp và sách giáo khoa đòi hỏi mỗi giáo viên phải vận dụng
các phương pháp dạy học phù hợp để giúp học sinh nắm vững tri thức là yêu cầu
cấp bách trong tình hình hiện nay.
Được sự quan tâm của ngành, của nhà trường và phụ huynh trong việc đầu tư
các nguồn kinh phí cho việc trang bị các phương tiện, thiết bị dạy học giúp học sinh
tăng cường thực hành, vận dụng kỹ năng… Hằng năm, giáo viên lại được tập huấn
bồi dưỡng thường xuyên nâng cao kiến thức chuyên môn và vận dụng phương pháp
mới trong dạy và học. Từ đó thôi thúc người dạy phải linh hoạt hơn, sáng tạo hơn
và thích ứng nhanh hơn trong việc giảng dạy.
Đội ngũ giáo viên trẻ, giảng dạy nhiệt tình, có trách nhiệm. Có ý thức tìm tòi,
học hỏi để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và nhanh nhạy trong việc vận
dụng các phương pháp dạy học mới để nâng cao hiệu quả, chất lượng dạy học.

2


Có tương đối đầy đủ đồ dùng phục vụ cho dạy học. Tài liệu tham khảo phong
phú giúp ích rất nhiều cho giáo viên cho việc soạn giảng.
Giáo viên đã biết ứng dụng công nghệ thông tin vào bài dạy. Đây là một trợ
thủ đắc lực của giáo viên, góp phần làm cho tiết dạy sinh động, hấp dẫn và cuốn hút
học sinh hơn.
Học sinh có tinh thần ham học hỏi, có ý thức xây dựng bài, chuẩn bị bài tương
đối đầy đủ trước khi đến lớp.
2.1.2. Khó khăn
* Về phía giáo viên
Việc dạy học văn trong nhà trường hiện nay còn một số tồn tại không chỉ ở
phương diện lí luận phương pháp dạy học, mà còn phía chủ quan của giáo viên dạy
văn như:
Kiểu dạy học truyền thụ kiến thức một chiều (GV giảng, HS nghe, ghi tái

thuộc vào sách giải bài tập sách học tốt quá nhiều. Nhiều em chưa biết cảm thụ văn
học.
Vậy để có tiết học sinh động, tích cực hóa hoạt động học tập nhằm phát huy
tính sáng tạo, kích thích hứng thú học tập ở học sinh thì việc sử dụng câu hỏi nêu
vấn đề không thể thiếu trong việc dạy học một tác phẩm văn học.
2.2. Nhiệm vụ và giải pháp thực hiện
Tác phẩm văn chương là một bức tranh phản ánh đầy đủ và sinh động hiện
thực cuộc sống xung quanh chúng ta. Mỗi người có một cách cảm nhận riêng về tác
phẩm văn học mà mình được tiếp xúc. Học sinh khi tiếp xúc với tác phẩm văn
chương, được học trong nhà trường cũng vậy. Vì thế, trong giờ giảng văn cần phát
huy hết năng lực tư duy, khả năng tìm tòi phát hiện cảm nhận theo những suy nghĩ
riêng của học sinh. Như vậy, tác phẩm văn học sẽ trở thành đối tượng của thầy và
trò trong quá trình dạy học. Hiện nay phương pháp giảng dạy tích cực theo quan
điểm “Lấy học sinh làm trung tâm” đã được ứng dụng. Để phát huy tính tích cực
của học sinh thì người giáo viên có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo hoạt động học tập
của các em. Học sinh phải là chủ thể tự giác tích cực trong quá trình lĩnh hội kiến
thức. Trong quá trình giảng dạy, tuỳ vào điều kiện thực tế, tuỳ cách sáng tạo của
mỗi giáo viên xây dựng hệ thống câu hỏi và tiến hành thực hiên cách hỏi nhằm định
hướng và tổ chức điều khiển hoạt động của học sinh trong giờ học. Để phát huy
tính sáng tạo, năng lực tư duy của học sinh thì việc sử dụng câu hỏi nêu vấn đề có
vai trò quan trong trong tiết học .
Câu hỏi nêu vấn đề là loại câu hỏi đặt ra cho học sinh và được học sinh tiếp
nhận một cách có ý thức, không phải do từ ngoài dội vào mà do nhu cầu khám phá
tìm hiểu tư duy sáng tạo của học sinh qua sự gợi ý của giáo viên.
Câu hỏi nêu vấn đề là câu hỏi nhằm xác định rõ vấn đề và tạo ra tình huống có
vấn đề. Câu hỏi cần phải làm sáng rõ được các vấn đề tiềm ẩn trong tác phẩm, gây
hứng thú cho học sinh khuyến khích học sinh giải quyết vấn đề đã nêu.
Câu hỏi nêu vấn đề làm rõ hoặc đặt người nghe vào tình huống có vấn đề. Nó
là phương tiện quan trọng để giáo viên đưa vấn đề vào tình huống có vấn đề. Như
vậy vấn đề có sẵn trong đơn vị bài học, còn tình huống có vấn đề, câu hỏi có vấn đề

trong tác phẩm có tính chất kì lạ, bất bình thường, mâu thuẫn, ta vận dụng dạng
thức trên để khơi gợi sự khám phá sáng tạo của học sinh. Để tạo được những tình
huống có tính chất mâu thuẫn, bất ngờ thông thường giáo viên thường sử dụng
phương pháp đào sâu bằng dạng câu hỏi như: Tại sao? Vì lí do gì? Có gì không
mâu thuẫn, không hợp lí?...
Ví dụ: Khi dạy văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương” (Trích Truyền
kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ) giáo viên có thể nêu một số câu hỏi tạo tình huống bất
ngờ.
- Khi phân tích đoạn văn đầu kể những việc trong đời Vũ Nương khi chồng đi
lính, có 3 sự việc ( tiễn chồng; có mang- sinh con và chăm sóc mẹ chồng).
+ GV đặt câu hỏi nêu vấn đề: ? Trong 3 sự việc trên sự việc nào là quan trọng
nhất. Vì sao?

5


+ HS trả lời: Sự việc quan trọng nhất: Vũ Nương sinh con .Vì đó là đầu mối
cho sự rắc rối sau này. Sự việc này được tác giả kể thoáng qua chỉ một câu, đó là
nghệ thật khéo léo dấu đi những đầu mối đầu cho sự bất ngờ sau này...)
- Khi phân tích đoạn Trương Sinh đi lính trở về
+ GV đặt câu hỏi nêu vấn đề: ? Vì sao Vũ Nương bị oan?
+ HS trả lời: Vì câu nói ngây thơ của đứa trẻ đã nhầm lẫn cái bóng với người,
gieo nghi ngờ trong óc người cha...Kết cục chàng vẫn không tin, không nghe lời
phân trần của Vũ Nương và lời giãi bày của làng xóm...
+ GV hỏi: Thực ra tấn thảm kịch có thể tránh được. Chi tiết nào trong
chuyện mở ra khả năng giải quyết thảm kịch dễ dàng. Nhưng tại sao không giải
quyết được?
+ HS trả lời: Chỉ cần Trương Sinh nói ra lời đứa con nói thì Vũ Nương nói ra
sự thật rõ ràng. Thế nhưng vì tính đa nghi, hồ đồ cộng thêm bản chất gia trưởng, vũ
phu nên Trương Sinh một mực không nói ra nguyên cớ. Đó cũng là dụng ý nghệ

Học sinh sẽ có thể nhận ra đây là một tình huống có tính mâu thuẫn, bởi đối
với mỗi người, ngôi nhà là cả gia tài và cuộc sống của họ. Nếu nhà chẳng may bị
giặc đốt hẳn họ sẽ rất đau lòng. Thế nhưng ông Hai lại đi khắp nơi, múa tay lên
khoe với mọi người là nhà ông bị giặc đốt, đốt nhẵn. Các em có thể đưa ra kiến giải
của bản thân:
Điều khiến ta cảm động là mặc dù nhà bị đốt nhưng ông không hề nghĩ nuối
tiếc hay buồn khi nhà của ông bị đốt nhẵn mà ông còn hả hê khoe với mọi người
“Tây nó đót nhà tôi rồi bác ạ. Đốt nhẵn”. Vì ông Hai vui quá, đó là bằng chứng
hùng hồn của việc gia đình ông không những không theo giặc mà là gia đình kháng
chiến, làng Dầu của ông vẫn theo kháng chiến, theo cách mạng. Ông vui sướng hả
hê đến cực điểm. Qua đó ta thấy được ông Hai là người coi trọng danh dự, yêu làng
sâu sắc hơn tất cả. Ông đã quên sự mất mát riêng để tự hào sung sướng trong vẻ
đẹp, sức mạnh chung của làng quê, đất nước. Tình yêu làng quê được mở rộng, hoà
quyện trong tình yêu nước thật sâu nặng và thiêng liêng. Ông Hai tiêu biểu cho
người nông dân Việt Nam yêu làng, yêu nước, tin vào kháng chiến....
Ví dụ : Khi dạy truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của nhà văn Nguyễn Quang
Sáng, để làm nổi bật tình cảm cha con thiêng liêng sâu nặng, giáo viên có thể đặt câu
hỏi: Trong truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng hình ảnh ông
Sáu khi bị đạn giặc bắn trúng ngực theo lời kể của Bác Ba “Anh đưa tay vào túi,
móc cây lược đưa cho tôi và nhìn tôi một hồi lâu” và Bác Ba nhận xét “chỉ có tình
cha con là không thể chết được” Theo em vì sao Bác Ba có thể nhận xét như vậy?
Điều bất ngờ học sinh nhận ra là ông Sáu đang ở vào tình thế nguy kịch đối
mặt với cái chết, giờ phút cuối cùng ấy ông không đủ sức để trăng trối lại điều gì
chỉ đủ sức làm cái việc cuối cùng là “Anh đưa tay vào túi, móc cây lược, .... nhìn
tôi một hồi lâu” cái nhìn ấy của ông với người đồng đội thay mình thực hiện mong
ước của con bởi thế nên người đồng đội - Bác Ba đã cảm nhận được sự bất tử của
tình phụ tử thiêng liêng kiên định “chỉ có tình cha con là không thể chết được”.
Ví dụ: Trong đoạn trích “Chị em Thúy Kiều” của Nguyễn Du, tác giả nếu chỉ
tả kĩ vẻ đẹp của Thúy Vân sau đó thêm hai câu thơ để miêu tả khái quát Thúy kiều:
“Kiều càng sắc sảo mặn mà

với. Giáo viên có thể cho học sinh tổ chức thảo luận nhóm, có thể tạo từng nhóm
nhỏ, chia đều các em học sinh khá, giỏi vào mỗi nhóm để cùng tranh luận. Trong
mỗi tiết học như vậy, cần phải tạo được không khí thoải mái, thân thiện để khi bắt
gặp những câu hỏi dạng này, các em lại càng hứng thú tham gia.
Dạng 1: Đặt câu hỏi theo dạng so sánh lựa chọn: A hay B?
Tình huống lựa chọn là tình huống xuất hiện khi có nhiều ý kiến khác nhau về
một vấn đề buộc ta phải lựa chọn cách giải quyết hợp lí nhất, tối ưu nhất. Khi đưa
ra được đáp án và sự lựa chọn của bản thân, học sinh buộc phải thực hiện bước tư
duy so sánh giữa các đối tượng. Năng lực sáng tạo của người học nhờ vậy được
phát triển. Đứng trước những sự lựa chọn có tính chất bắt buộc các em có khả năng
phân tích vấn đề và mạnh dạn đưa ra quyết định. Có như vậy, giáo viên đã góp

8


phần tác động, khơi dậy khát khao được làm chủ bản thân của các em. Kết quả, các
em hứng thú tham gia vào bài học, tiết học sẽ trở nên sinh động hơn.
Ví dụ : Khi dạy văn bản “Chuyện người con gái Nam Xương”, giáo viên có
thể hỏi theo một cách khác: Khi bị Trương Sinh nghi oan, đánh đập, chửi mắng là
thất tiết, Vũ Nương đã chọn cái chết để chứng minh sự trong sạch của mình. Có ý
kiến cho rằng hành động trẫm mình của Vũ Nương là hành động bột phát trong
cơn nóng giận. Có ý kiến lại cho rằng đó là hành động có sự chỉ đạo của lý trí ?
Em tán thành ý kiến nào? Vì sao?
Câu hỏi này đặt ra khi phân tích nội dung: Nỗi oan của Vũ Nương. Để giúp
học sinh giải quyết được câu hỏi trên, giáo viên có thể gợi mở, liên hệ với cốt
truyện vay mượn “Vợ chàng Trương”, giúp học sinh thấy được sự khác nhau trong
hành động của 2 nhân vật chính . Học sinh tiến hành thảo luận, tranh biện. Có thể
tổ chức cho các nhóm luân phiên đặt câu hỏi và trả lời. Học sinh có thể đưa ra
những ý kiến riêng của bản thân. Sau đó, giáo viên hướng các em vào câu trả lời
hợp lí nhất: Hành động tự trẫm mình của Vũ Nương là hành động quyết liệt cuối

Việt.
Ví dụ : Khi dạy về bài thơ “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” giáo viên có
thể đặt câu hỏi: Tại sao nhan đề bài thơ không là “Tiểu đội xe không kính”? Thêm
ba từ “Bài thơ về...”, ý nghĩa của nhan đề có thay đổi không?
Để trả lời câu hỏi này, học sinh phải biết được dụng ý nghệ thuật của tác giả:
Nhan đề bài thơ khá dài, tưởng như có chỗ thừa nhưng thực ra lại rất lạ và độc
đáo. Bài thơ là cách đưa chất liệu văn xuôi vào thơ, những câu thơ “đặc” văn xuôi
được kết hợp trong một cảm hứng chung thể hiện cách nhìn, cách khai thác hiện
thực của tác giả. Đó là chất thơ của hiện thực khốc liệt; chất thơ của tuổi trẻ hiên
ngang, dũng cảm, trẻ trung, vượt lên thiếu thốn gian khổ, nguy hiểm của chiến tranh.
Đây là dạng câu hỏi tạo tình huống có vấn đề nhằm giúp học sinh tư duy so
sánh giữa hai hình tượng nhân vật hoặc hai chi tiết nghệ thuật... Học sinh sẽ không
ngừng động não để đưa ra những cách giải thích khác nhau, giáo viên có thể tạo
nhóm cặp đôi để các em cùng thảo luận. Sau quá trình thảo luận, các em sẽ cử đại
diện đứng dạy trình bày. Giáo viên hướng học sinh đến nội dung bài học.
Dạng 3: Sử dụng câu hỏi theo dạng thức so sánh các tư liệu khác có liên quan.
Các câu hỏi dạng này có thể so sánh các hình ảnh, chi tiết, vấn đề trong tác
phẩm với các tác phẩm khác hoặc so sánh những dị bản khác nhau của cùng một
tác phẩm.
Ví dụ: Sau khi phân tích hình tượng người lính trong hai bài thơ “Đồng Chí”
của Chính Hữu và bài thơ “Bài thơ về tiều đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật,
giáo viên có thể hỏi: Vẻ đẹp của những người lính qua hai bài thơ có gì giống và
khác nhau?
Ví dụ: “Lặng lẽ Sa Pa” của Nguyễn Thành Long và “Những ngôi sao xa xôi”
của Lê Minh Khuê là những truyện ngắn hay, đã khám phá, ca ngợi vẻ đẹp của thế
hệ trẻ Việt Nam trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước. Hãy phân tích nhân
vật anh thanh niên và nhân vật Phương Định trong sự đối sánh để làm rõ những
khám phá, sáng tạo riêng của mỗi tác phẩm trong việc thực hiện chủ đề chung đó?
Ví dụ: Hình ảnh người phụ nữ trong xã hội phong kiến xưa hiện lên như thế
nào qua nhân vật Vũ Nương trong “Chuyện người con gái Nam Xương” của

yếu tố hoang đường và vì tác giả tưởng tượng thêm để làm rõ thêm nỗi oan khổ và
bản chất vô cùng tốt đẹp của Vũ Nương và càng làm tăng thêm sức tố cáo chế độ
phong kiến nam quyền độc đoán...
Ví dụ 2: Khi dạy truyện ngắn “Chiếc lược ngà” của Nguyễn Quang Sáng,
giáo viên hỏi: Tình phụ tử là một tình cảm vô cùng thiêng liêng quý giá, nó càng
đáng trân trọng hơn trong hoàn cảnh khốc liệt của chiến tranh. Khoảnh khắc đoàn
tụ của Ông Sáu và bé Thu chưa được bao lâu thì ông Sáu đã bị hi sinh. Điều đó đã
lấy đi nước mắt của rất nhiều đọc giả. Nếu em là tác giả, em sẽ có cách kết thúc
truyện như thế nào?
Khi dạy văn bản này, không những bản thân tôi mà rất nhiều học sinh đã xúc
động rơi nước mắt trước tình cảm phụ tử thiêng liêng của cha con ông Sáu. Được
gặp con trong vài ba ngày phép ngắn ngủi, những tưởng sẽ được ôm ấp vỗ về đứa
con gái ngày đêm ông hằng mong nhớ và yêu thương. Thế nhưng chính vết thẹo dài

11


trên mặt - bằng chứng cho tội ác của chiến tranh đã khiến cho bé Thu - con gái ông
không chịu nhận ông là cha. Phút chia tay, bé Thu mới nghẹn ngào nhận cha. Với
tình yêu thương và biết bao nhiêu hứa hẹn của ông Sáu dành cho con trước khi lên
đường, những tưởng khi hòa bình lập lại, cha con ông sẽ có những ngày hạnh phúc
bình yên bên nhau. Thế nhưng, chiến tranh đã cướp đi mạng sống của ông để lại nỗi
đau không chỉ cho những người thân cho gia đình ông Sáu mà còn là nỗi xót xa của
người đọc. Chính vì vậy, với câu hỏi này, học sinh có thể phát huy trí tưởng tượng
của mình để xây dựng một cái kết có hậu hơn. Tất nhiên vẫn tôn trọng dụng ý của
tác giả Nguyễn Quang Sáng là lên án tội ác của chiến tranh và thể hiện được tình
phụ tử thiêng liêng cao quý.
Như vậy, câu hỏi nêu vấn đề chứa đựng một nội dung rộng lớn, mang tính chất
tổng hợp. thường có tính phức tạp về nội dung. Nó gợi lên những mâu thuẫn giữa
cái đã biết và cái chưa biết, giữa cái cũ và cái mới trong nhận thức của học sinh. Do

Tôi đã tiến hành khảo sát để so sánh đối chiếu chất lượng và thăm dò ý kiến
học sinh qua hai lớp tôi đảm nhiệm ở HK I về việc “Một số kinh nghiệm sử dụng
có hiệu quả câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm văn học lớp 9”. Trong
đó, Bảng 1 là chất lượng khảo sát đầu vào học sinh (đối chứng), Bảng 2 là chất
lượng kiểm tra cuối học kỳ I (thực nghiệm).
Bảng 1. Chất lượng khảo sát đầu năm các lớp tôi đảm nhiệm: học kì I (năm học 2017 –
2018).

TS

Lớp

Giỏi

Khá

T.Bình

Yếu

Kém

HS

TS

%

TS


3

9,1

0

0

92

36

1

2,7

11

30,6

15

41,7

9

25

0



TS

%

TS

%

91

33

9

27,3

14

42,4

9

27,3

1

3,0

0

cho học sinh, theo bản thân tôi, trước hết người giáo viên phải nghiên cứu kĩ và
nắm chắc nội dung tác phẩm; lấy việc tác động tâm hồn và trí tuệ của học sinh làm
múc đích bài giảng. Để phát huy tính tích cực của học sinh trong hoạt động học tập
thì người giáo viên có nhiệm vụ tổ chức chỉ đạo hoạt động của học sinh. Học sinh
phải là chủ thể tự giác tích cực trong quá trình lĩnh hội kiến thức. Muốn có hiệu
quả, trong từng bài dạy giáo viên phải tìm tòi suy nghĩ xây dựng hệ thống câu hỏi
và sử dụng câu hỏi nêu vấn đề như thế nào để phù hợp đối tượng học sinh và tác
phẩm. Nhưng có thể nói, điều hấp dẫn và bổ ích nhất của việc sử dụng câu hỏi nêu
vấn đề và là khả năng phát triển những phẩm chất tư duy sáng tạo của học sinh, là
làm cho các em có tâm hồn trong sáng hơn, nuôi dưỡng tâm hồn và phát huy năng
lực diễn đạt bằng lời của học sinh, để các em có hứng thú học tập. Từ đây, các em
có thể hình thành những năng lực và kĩ năng cần thiết cho bản thân khi đứng trước

13


một số tình huống khó khăn. Nó khơi dậy nơi các em bản năng được chinh phục và
lí giải những trở ngại đặt ra trong học tập và cuộc sống sau này.
3.2. Phạm vi ứng dụng
Thực tế sáng kiến này đã được áp dụng có hiệu quả trong các tiết dạy học các
tác phẩm văn học trong nhà trường. Điều quan trọng là giáo viên phải biết xác định
phạm vi nội dung, mảng kiến thức đặt câu hỏi, dự tính các tình huống xảy ra cũng
như cách thức xử lí trước và sau khi đặt câu hỏi nêu vấn đề. Nhưng vận dụng như
thế nào cho có hiệu quả hơn nữa, thì đó là điều mà mỗi giáo viên dạy Văn đều luôn
suy nghĩ và trăn trở.
3.3. Kiến nghị đề xuất
Giáo viên cần chủ động học tập, tìm tòi, thật sự quan tâm, nhận thức đúng đắn
về tầm quan trọng của việc sử dụng các câu hỏi nêu vấn đề trong dạy học tác phẩm.
Các trường tiếp tục tổ chức hội thảo chuyên đề cụm để giáo viên dạy bộ môn
Ngữ văn có dịp học tập ,học hỏi trao đổi kinh nghiệm để thống nhất phương pháp


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status