Thực trạng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong
tiến trình hội nhập quốc tế.
MỞ ĐẦU
Chúng ta đều biết rằng, ở mỗi quốc gia, dân tộc trong mọi thời đại muốn tồn tại và
phát triển đều rất cần đến con người. “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” luôn được cha
ông nhấn mạnh vì nhân tài chính là nhân tố cốt lõi của nguồn lực con người trong mọi thời
đại. Hơn nữa chúng ta sống và làm việc trong thời đại mà khoa học thực sự đã trở thành lực
lượng sản xuất vật chất trực tiếp, thời đại mà không còn khoảng cách về không gian và thời
gian thì chính tiềm lực khoa học - công nghệ và trình độ dân trí mới là nhân tố quyết định
sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia trên thế giới. Vì thế ưu tiên phát triển nhân tố con
người, đặc biệt là đầu tư đào tạo nguồn nhân lực có chuyên môn, khoa học kỹ thuật không
những đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn làm chủ và khẳng định vị thế của mình trên
trường quốc tế trong tiến trình hội nhập của mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng.
Thực tế hiện nay Đảng và Nhà nước ta đã và đang ngày càng coi trọng nguồn nhân
lực có chất lượng cao, lấy vấn đề đào tạo và xây dựng nó làm “quốc sách hàng đầu” trong
chiến lược quốc gia đặc biệt là trong tiến trình hội nhập như hiện nay.
Điều này đã được xác định rõ qua từng chủ trương chính sách phát triển đất nước.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ và chiến lược phát triển kinh tế – xã hội
của Đảng đã chỉ rõ: Con người là nguồn lực quan trọng nhất, là nguồn lực của mọi nguồn
lực, quyết định sự hưng thịnh của đất nước. Đại hội lần thứ IX của Đảng đã định hướng cho
phát triển nguồn nhân lực Việt Nam là: “Người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành
thạo, có phẩm chất tốt đẹp, được đào tạo bồi dưỡng và phát triển bởi một nền giáo dục tiên
tiến gắn liền với một nền khoa học, công nghệ hiện đại”.
Vậy theo xu hướng khách quan và chủ quan của sự phát triển hiện nay đặc biệt là
theo sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước thì hơn bất cứ nguồn lực nào khác, nguồn nhân lực,
đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao phải luôn chiếm một vị trí trung tâm và đóng vai
trò quan trọng hàng đầu trong phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, nhất là trong giai đoạn
hiện nay - giai đoạn đẩy mạnh sự hợp tác toàn cầu, hội nhập quốc tế.
CHƯƠNG 1:
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT
LƯỢNG CAO CỦA VIỆT NAM TRONG TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ
tiến, thực hiện có hiệu quả việc ứng dụng vào điều kiện nước ta, là hạt nhân đưa lĩnh vực của
mình đi vào công nghiệp hóa, hiện đại hóa được mở rộng theo kiểu “vết dầu loang”, bằng
cách dẫn dắt những bộ phận có trình độ và năng lực thấp hơn, đi lên với tốc độ nhanh.
Ở trên tác giả nhấn mạnh đến “trình độ và năng lực” ,chú trọng đến chuyển giao công
nghệ.
Còn theo GS.TS.Nguyễn Trọng Chuẩn trong “Nghiên cứu văn hóa con người, nguồn
nhân lực đầu thế kỷ XXI” đưa ra khái niệm “một nguồn nhân lực mới” để chỉ “lực lượng lao
động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao và nhất là có khả năng thích ứng nhanh với
những thay đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất”. Tác giả chỉ chú trọng đến học vấn và
chuyên môn.
Nguồn nhân lực chất lượng cao được TS.Nguyễn Hữu Dũng quan niệm trong “Phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
và hội nhập kinh tế quốc tế” là: “Nhân lực chất lượng cao là khái niệm để chỉ một con người,
một người lao động cụ thể có trình độ lành nghề (về chuyên môn, kỹ thuật) ứng với một
ngành nghề cụ thể theo tiêu thức phân loại lao động về chuyên môn, kỹ thuật nhất định (trên
đại học, cao đẳng, công nhân lành nghề)” . Ở đây tác giả lại chú ý đến trình độ lành nghề.
2
Trong tạp chí “Thông tin Chủ nghĩa xã hội - lý luận và thực tiễn”, TS.Bùi Thị Ngọc
Lan cho rằng: Nguồn nhân lực chất lượng cao là bộ phận tinh túy nhất của nguồn nhân lực.
Lực lượng này có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao, có kỹ năng lao động giỏi và
có khả năng thích ứng nhanh với những biến đổi nhanh chóng của công nghệ sản xuất, có
phẩm chất tốt và có khả năng vận dụng sáng tạo những tri thức, những kỹ năng đã được đào
tạo vào quá trình lao động sản xuất nhằm đem lại năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Tác
giả đã đưa ra thêm khá nhiều tiêu chí để xác định hơn.
Như vậy, nguồn nhân lực chất lượng cao đã được đưa ra và hiểu dưới nhiều góc độ
tùy theo nhưng tiêu chí cụ thể đặt ra, ở góc độ tổng hợp nhất ta có thể hiểu như sau: Nguồn
nhân lực chất lượng cao là một bộ phận kết tinh những gì tinh túy nhất của nguồn nhân lực.
Là bộ phận lao động có trình độ học vấn và chuyên môn kỹ thuật cao hay có kỹ năng lao
chúng ta đã biết rằng Nhật – là một nước nghèo tài nguyên thiên nhiên vì vậy để phát triển
họ chỉ có thể trông chờ vào chính mỗi người dân Nhật Bản và Chính phủ nước này ngay từ
rất lâu đã đặc biệt chú trọng tới tiềm năng của nguồn lực quý giá này thông qua sự phát triển
của giáo dục đào tạo, thực sự coi đây là quốc sách hàng đầu. Cụ thể như chương trình giáo
dục đối với cấp tiểu học và trung học cơ sở là bắt buộc; tất cả học sinh trong độ tuổi từ 6 đến
15 tuổi được học miễn phí. Kết quả là, tỷ lệ học sinh thi đỗ vào các trường đại học, cao đẳng
ở nước này ngày càng nhiều. Nhật Bản trở thành một trong những cường quốc giáo dục của
thế giới. Thực tế hiện nay là một minh chứng cụ thể nhất. Nhật đã đứng trong top những
cường quốc trên thế giới. Nhật Bản luôn là bài học điển hình về sự thành công cho sự đầu tư
phát triển về con người để chúng ta học hỏi.
Với một thị trường lao động khá năng động, Mỹ rất coi trọng môi trường sáng tạo và
khuyến khích phát triển nhân tài, bồi dưỡng và thu hút nhân tài trong nhiều lĩnh vực. Chiến
tranh thế giới thứ hai đã mang lại cho Mỹ - nước duy nhất trên thế giới, cơ hội thu hút nguồn
chất xám rất lớn, đó là rất nhiều các nhà khoa học, bác học giỏi từ châu Âu và nhiều nước
khác trong đó có Việt Nam đã nhập cảnh vào Mỹ. Thực tế này trả lời cho câu hỏi, tại sao
hiện nay Mỹ là một trong những nước có nhiều nhà khoa học hàng đầu thế giới trong nhiều
lĩnh vực.Và Mỹ luôn là cường quốc trong nhiều thập niên qua.
Trung Quốc ngay từ những năm 2003 đã đề ra Chiến lược tăng cường hơn
nữa công tác bồi dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội
khá giả được đề ra trong Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nội dung của chiến
lược là: lấy nhân tài chấn hưng đất nước, xây dựng đội ngũ đông đảo nhân tài có chất lượng
cao; kiên quyết quán triệt phương châm tôn trọng lao động, trí thức, tôn trọng nhân tài và sự
sáng tạo, lấy thúc đẩy phát triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tác nhân tài, điều chỉnh
nhân tài một cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, ra sức đẩy mạnh công tác
bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình thành cơ chế đánh giá và sử dụng
nhân tài một cách khoa học...Hiện nay sự phát triển về kinh tế của họ là một minh chứng rõ
ràng nữa.Trung Quốc hiện nay phát triển kinh tế chỉ sau Mỹ.
Trong khu vực Đông Nam Á, Xin-ga-po được coi là hình mẫu về phát triển nguồn
nhân lực. Thực tế đã minh chứng, quốc gia nhỏ bé này đã rất thành công trong việc xây
dựng một đất nước có trình độ dân trí cao và và cũng rất đặc biệt đề cao vai trò của giáo dục
lực. Có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực một cách ngắn gọn là nguồn lực con người. Cụ
thể, khái niệm nguồn nhân lực tập trung phản ánh ba vấn đề sau đây:
Thứ nhất, xem xét nguồn nhân lực dưới góc độ nguồn lực con người-yếu tố quyết
định sự phát triển của xã hội.
Thứ hai, nguồn nhân lực bao gồm số lượng và chất lượng, trong đó mặt chất lượng
thể hiện ở trí lực, nhân cách, phẩm chất đạo đức, lối sống và sự kết hợp giữa các yếu tố đó.
Thứ ba, nghiên cứu về nguồn nhân lực và phát triển nguồn nhân lực nhất thiết phải
gắn liền với thời gian và không gian mà nó tồn tại.
Từ sự phân tích trên, chúng ta có thể hiểu khái niệm nguồn nhân lực theo nghĩa rộng
là bao gồm những người đủ 15 tuổi trở lên thực tế đang làm việc (gồm những người trong
độ tuổi lao động và những người trên độ tuổi lao động), những người trong độ tuổi lao động
có khả năng lao động nhưng chưa có việc làm (do thất nghiệp hoặc đang làm nội trợ trong
gia đình), cộng với nguồn lao động dự trữ (những người đang được đào tạo trong các trường
đại học, cao đẳng, trung cấp và dạy nghề…).
Giữa chất lượng nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao có mối quan hệ
chặt chẽ với nhau trong mối quan hệ giữa cái chung và cái riêng. Khi đề cập tới nguồn lực
5
con người, người ta thường nói tới mặt số lượng và mặt chất lượng của nó. Số lượng nguồn
lực con người chính là lực lượng lao động và khả năng cung cấp lực lượng lao động cho sự
phát triển kinh tế - xã hội.
Nhưng, yếu tố quan trọng nhất trong nguồn lực con người không phải là số lượng, mà
là chất lượng nguồn lực con người. Đây mới chính là yếu tố quyết định đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội. Nói đến chất lượng của nguồn lực con người là nói đến hàm lượng trí tuệ ở
trong đó, nói tới “người lao động có trí tuệ cao, có tay nghề thành thạo, có phẩm chất tốt
đẹp, được đào tạo, bồi dưỡng và phát huy bởi một nền giáo dục tiên tiến gắn liền với một
nền khoa học, công nghệ hiện đại”. Sở dĩ người ta nói đến tính vô tận, tính không bị cạn
kiệt, tính khai thác không bao giờ hết của nguồn lực con người chính là nói tới yếu tố trí tuệ.
Trí tuệ của con người ngày càng phát triển và có tác động mạnh mẽ nhất đối với sự tiến bộ
xuất sắc nhất, sáng tạo và hoàn hảo nhất, có đóng góp thực sự hữu ích cho công việc, cho xã
hội.
Để làm rõ hơn khái niệm “nguồn nhân lực chất lượng cao”, cũng như để dễ dàng hơn
trong việc thống kê, phân tích và đánh giá lực lượng lao động này, cần thiết phải xây dựng
những tiêu chí xác định nguồn nhân lực chất lượng cao ở mức độ cụ thể hơn.
Có nhiều chỉ số để đánh giá vấn đề này, chúng ta điểm qua chỉ số tổng hợp chung
nhất là Chỉ số phát triển con người (HDI). Đây cũng là chỉ tiêu mà Việt Nam đạt mức cao và
hoàn thành mục tiêu trong Chiến lược dân số Việt Nam giai đoạn 2001-2010. Theo số liệu
công bố trong báo cáo phát triển con người của các nước ASEAN, in trong niên giám thống
kê tóm tắt năm 2009 của tổ chức thống kê mới công bố. Chỉ số HDI của các nước ASEAN
như sau: Brunây 0,919; Campuchia 0,575; Indonesia 0,726; Lào 0,608; Malaysia 0,823;
Myanmar 0,585; Philipine 0,745; Thái Lan 0,786; Singapore 0,918; Việt Nam 0,718. Như
vậy, mặc dù đạt được nhiều thành tựu trong lĩnh vực này nhưng ngay trong khối ASEAN chỉ
số HDI của chúng ta cũng chỉ cao hơn 3 nước là Lào, Campuchia và Myanmar. Cũng theo
số liệu của TĐTDS 2009, tỷ lệ lao động được đào tạo có trình độ từ sơ cấp trở lên cũng chỉ
đạt 14,9%. Sơ bộ những điều này cho thấy mặc dù đã đạt nhưng thành tích nhất định nhưng
để nâng cao chất lượng dân số, phát triển được nguồn nhân lực chất lượng cao, tận dụng
hiệu quả, thì còn là một thách thức rất lớn đối với chương trình phát triển kinh tế-xã hội của
nước ta trong giai đoạn tới.
Dưới đây là các chỉ tiêu cụ thể hơn:
Thứ nhất, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có đạo đức nghề
nghiệp, đó là lòng yêu nghề, say mê với công việc, có tính kỷ luật và có trách nhiệm với
công việc. Cao hơn cả, đạo đức nghề nghiệp còn thể hiện ở mong muốn đóng góp tài năng,
công sức của mình vào sự phát triển chung của dân tộc. Đây được coi là tiêu chí mang lại
tính chất nền gốc trong quá trình xây dựng những tiêu chí các định nguồn nhân lực chất
lượng cao.
Thứ hai, nguồn nhân lực chất lượng cao phải là lực lượng lao động có khả năng thích
ứng công nghệ mới và linh hoạt cao trong công việc chuyên môn. Tiêu chí này đòi hỏi
nguồn nhân lực phải có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao, để có khả năng thích ứng tốt với
những công việc phức tạp và luôn thay đổi trong thời đại ngày nay. Điều này cũng có nghĩa
nghĩa là phải có văn hóa lao động công nghiệp.
Người lao động còn phải có năng lực xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện
đại, giữa dân tộc và thời đại. Truyền thống được hiểu là: phức hợp những tư tưởng, tình cảm,
những tập quán, thói quen, những phong tục, lối sống, cách ứng xử, ý chí, v.v. của một cộng
đồng người đã hình thành trong lịch sử, đã trở nên ổn định và được truyền từ thế hệ này sang
thế hệ khác. Như vậy, truyền thống có cả mặt tích cực và tiêu cực dù muốn hay không vẫn
để lại dấu ấn vào hiện tại, và ở mức độ nhất định, có thể còn ảnh hưởng đến sự vận động của
tương lai. Quá trình hội nhập đòi hỏi người lao động vừa biết kế thừa những giá trị truyền
thống, vừa biết phát triển những giá trị đó lên tầm cao hơn, đồng thời tiếp thu những tinh hoá
quý giá của văn hoá nhân loại. Nếu không biết kết hợp truyền thống với cách tân để vượt
lên, để hội nhập, để tìm mọi cách bước vào xã hội hiện đại thì tương lai chỉ mãi là sự tụt hậu.
1.3. Vai trò nguồn nhân lực chất lượng cao trong tiến trình hội nhập quốc tế của
Việt Nam
1.3.1. Khái niệm về hội nhập quốc tế
Khác với toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là hành động chủ quan, có chủ đích của con
người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài để tăng cường sức mạnh của đất nước mình. Hội
8
nhập quốc tế cũng có nghĩa là chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhập nhưng
không hoà tan, vẫn bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và nhất là bảo vệ được nền độc lập
dân tộc.
Hội nhập quốc tế được hiểu như là quá trình các nước tiến hành các hoạt động tăng
cường sự gắn kết họ với nhau dựa trên sự chia sẻ về lợi ích, mục tiêu, giá trị, nguồn lực,
quyền lực (thẩm quyền định đoạt chính sách) và tuân thủ các luật chơi chung trong khuôn
khổ các định chế hoặc tổ chức quốc tế.
1.3.2. Tác động của hội nhập quốc tế đến nguồn nhân lực chất lượng cao
1.3.2.1. Thách thức
Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra trên nhiều lĩnh vực.Mỗi một lĩnh vực, một bộ phận
lại chịu sự tác động riêng của quá trình này. Là bộ phận không thể thiếu của một quốc gia
nguồn nhân lực có chất lượng càng.Chúng ta thấy rõ điều này qua Nước Mỹ. Trong số 10
trường Đại học nổi tiếng nhất trên thế giới thì Mỹ chiếm tới 8 trường, như Havard (lập năm
1636), Yale ,Pennsylvania, Princeton, Colombia, Brown, Dartmouth, Cornell... Những
trường đại học này được dư luận Mỹ và các nước gọi là “Nhóm vạn niên thanh”, tức luôn
luôn tiếp nhận số lượng lớn sinh viên ở Mỹ và các nước tới học. Các trường đại học Mỹ
chẳng những là nơi cung cấp mà còn là “Đại lý” tìm kiếm và thu hút nhân tài cho các doanh
nghiệp Mỹ.
Các nhà kinh tế Mỹ cho rằng nhân tài là nhân tố quan trọng để các doanh nghiệp Mỹ
vươn lên hàng đầu thế giới về phát triển kinh tế và khoa học kỹ thuật. Nhận thức rõ điều này,
nên các đời Chính phủ nước Mỹ từ trước tới nay đã ban hành nhiều đạo luật giúp doanh
nghiệp bồi dưỡng và thu hút nhân tài trên thế giới. Năm 1963, Mỹ ban hành “Luật giao dục
ngành nghề” và năm 1990 được sửa đổi bổ sung để thu hút có hiệu quả cao nhân tài từ các
nước trên thế giới. Năm 1996, Mỹ lại thông qua “Luật giáo dục người lớn tuổi”, trong đó
yêu cầu tất cả doanh nghiệp công hữu và tư nhân hàng năm phải chi khoản kinh phí chiếm
1% tổng thu nhập của doanh nghiệp dành cho huấn luyện đào tạo nâng cao tay nghề cho
nhân viên.
Ngoài việc phải nâng cao trình độ chuyên môn kỹ thuật, mức độ lành nghề thì các
yêu cầu khác về chất lượng nguồn nhân lực đang được đặt ra như những thách thức mới
trông quá trình hội nhập. Đó là yêu cầu về ngoại ngữ, tin học, tác phong và văn hoá ứng xử
công nghiệp, hiểu biết về luật pháp và thông lệ quốc tế… Điều này đòi hỏi lao động phải
nhanh chóng học tập những cái mới, cái ưu việt, nhưng cũng cần phải loại bỏ những yếu tố
không phù hợp và đi ngược lại với đạo đức và văn hoá Việt.
Sự dịch chuyển về cơ cấu lao động và di chuyển lao động tự do tới các vùng đô thị
đang là vấn đề thu hút sự quan tâm đặc biệt của các cơ quan chức năng, nhiều địa phương và
các nhà nghiên cứu hoạch định chính sách. Khi Việt Nam gia nhập WTO (năm 2007), thực
trạng này còn diễn ra mạnh hơn và kéo theo nhiều tác động với mức độ lớn hơn. Hơn nữa,
hội nhập kinh tế quốc tế có thể dẫn tới nguy cơ tăng khoảng cách thu nhập của người lao
động. Điều này góp phần làm tăng khoảng cách về quyền lợi và địa vị xã hội giữa các nhóm
lao động.Vấn đề là làm sao để hài hòa giữa mức thu nhập của lao động chất lượng cao và
các bộ phận khác và vẫn đảm bảo “giữ chân người tài”-một thực tế khó khăn.
Tạo ra cơ hội gia tăng các giá trị tài sản vô hình cho bản thân người lao động trong đó
có lao động chất lượng cao và các doanh nghiệp thông qua các hoạt động hợp tác, chuyển
giao công nghệ với các nước có nền công nghiệp tiên tiến trên thế giới. Đó là các chuẩn
mực, mô hình hệ thống tổ chức quản lý hiện đại được áp dụng cho các doanh nghiệp sản
xuất…
Tạo thêm cơ hội việc làm cho người lao động và nâng cao chất lượng nhân lực cho
lao động của Việt Nam, đặc biệt là lao động kỹ thuật trình độ cao. Việt Nam chủ động hội
nhập sẽ đẩy nhanh hơn quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn, sẽ có một lượng
lớn lao động nông nghiệp, thanh niên nông thôn nhàn rỗi, thiếu việc làm tham gia vào hoạt
động kinh tế trong các doanh nghiệp, các hộ gia đình, đơn vị kinh doanh cá thể… Điều này
đồng nghĩa với mang lại nhiều cơ hội thay đổi công việc và tăng thu nhập cho một bộ phận
lớn lao động nông nghiệp hiện nay. Hơn nữa, sự phát triển nhanh chóng về công nghệ và
thiết bị sản xuất và các hoạt động trao đổi chuyên gia giữa các nước với Việt Nam sẽ làm
cho trình độ chuyên môn kỹ thuật, tăng khả năng cơ giới hóa trong nông nghiệp góp phần
nâng cao năng suất lao động cũng như trình độ, nhận thức của nười nông dân. Hợp tác quốc
tế về lao động có cơ hội phát triển, từ đó góp phần nâng cao chất lượng nhân lực, để có thể
11
làm chủ các công nghệ và thiết bị tiên tiến trên thế giới. Như hiện nay qua tìm hiểu trên các
các kênh thông tin đại chúng đã có rất nhiều phát minh sáng kiến ra đời mà chủ nhân của nó
không ai xa lạ chính là từ các bác nông dân được biết đến xưa nay “bán mặt cho đất bán
lưng cho trời” cải tạo công cụ sản xuất của họ như: máy tuốt gặt liên hoàn, máy bóc ngô,
v.v… Họ cũng chính là một bộ phận không thể thiếu của nguồn nhân lực chất lượng cao.
Tạo thêm nguồn lực vật chất cho phát triển nguồn nhân lực. Thông qua các dự án hợp
tác đầu tư của các tập đoàn lớn trên thế giới vào Việt Nam, sẽ tạo ra các nguồn tài chính dồi
dào hơn cho việc đổi mới công nghệ và thiết bị của các ngành kinh tế.
Việc hội nhập quốc tế sẽ tạo điều kiện và thúc đẩy việc thiết lập cơ cấu lao động theo
định hướng thị trường. Đó là những lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao. Trong
khi những lao động không có chuyên môn kỹ thuật phải được cắt giảm. Tạo điều kiện cho
chưa qua đào tạo cao và chất lượng lao động không đồng đều giữa các vùng, miền.
Tuy nhiên so với những năm trước đây, cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói
chung và sự phát triển của các doanh nghiệp mới nói riêng, nhu cầu về nguồn nhân lực có
chất lượng cao của các ngành dịch vụ và công nghiệp, đặc biệt là đối với lĩnh vực quản trị
doanh nghiệp, công nghệ thông tin, tài chính ngân hàng, điện, điện tử và hoá chất ngày càng
tăng lên. Cùng với chính sách mở cửa, đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu,
làn sóng đầu tư trong nước cũng như đầu tư trực tiếp nước ngoài ngày càng tăng lên, các
doanh nghiệp trong nước được thành lập mới ngày càng nhiều đã tạo ra một lượng cầu nhân
lực có chất lượng cao ngày càng lớn. Đối với các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài hoặc
doanh nghiệp liên doanh với nước ngoài thì các nhà đầu tư là người nước ngoài thường ưu
13
tiên tuyển dụng lao động có chất lượng cao ngay ở Việt Nam vì lao động Việt Nam là người
am hiểu khá nhiều lĩnh vực, tập quán, có nhiều mối quan hệ và mức lương trả cho họ
thường thấp hơn so với lao động từ nước ngoài và cũng để cạnh tranh với các doanh nghiệp
Việt Nam, các nhà đầu tư là người nước ngoài sẵn sàng trả mức lương cho người lao động
cao hơn rất nhiều so với các doanh nghiệp Việt Nam. Vì thế, sự cạnh tranh về nguồn nhân
lực có chất lượng cao ngày càng gay gắt. Kết quả cuộc điều tra 63.000 doanh nghiệp ở 36
tỉnh thành phố trên cả nước do Bộ Kế hoạch và Đầu tư đã tiến hành năm 2008 cho thấy
nguồn nhân lực chất lượng cao có thể tham gia quản lý tại Việt Nam cũng mới chỉ đáp ứng
khoảng 40% nhu cầu. Đặc biệt những nhân sự cấp cao của Việt Nam đang đứng trước một
nguy cơ khủng hoảng trầm trọng vì không đủ khả năng bắt kịp sự phát triển của nền kinh tế.
Cũng theo như kết quả cuộc điều tra này, tỷ lệ giám đốc doanh nghiệp có trình độ thạc sỹ chỉ
là 2,99%, đại học là 37,82% và cao đẳng là 3,56% trong khi đó tỷ lệ có trình độ trung học
chuyên nghiệp là 12,33% và trình độ tốt nghiệp trung học phổ thông trở xuống chiếm tới
43,30%.
Về nhu cầu nguồn nhân lực có chất lượng cao trong ngành tài chính và ngân hàng
cũng đang gặp phải rất nhiều khó khăn. Năm 2007, trước khi xẩy ra khủng hoảng kinh tế
toàn cầu, hầu hết các ngân hàng của Việt Nam đều mở thêm rất nhiều chi nhánh. Các ngân
Theo nhận định của nhiều chuyên gia có trách nhiệm thì nguồn lao động chất lượng
cao trong một số lĩnh vực như cơ khí chế tạo, tự động hoá, vật lý nguyên tử, kinh doanh
thương mại quốc tế, kế toán kiểm toán, tín dụng, ngân hàng vẫn sẽ tiếp tục bị thiếu hụt và
khan hiếm. Hầu hết các tổ chức doanh nghiệp khi được hỏi đều cho rằng tuyển dụng được
cán bộ nghiệp vụ giỏi đã khó, nhưng tuyển dụng được cán bộ quản lý giỏi còn khó hơn rất
nhiều. Đồng thời, việc giữ lao động giỏi ở lại doanh nghiệp cũng là việc không dễ dàng.
Điều này một lần nữa cho thấy trong tương lai khi mà cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu
qua đi, các doanh nghiệp sẽ tiến hành tái cấu trúc và nhu cầu nhân lực có chất lượng cao
ngày càng tăng lên thì chắc chắn sự mất cân đối giữa cung và cầu về lao động sẽ diễn ra
ngày càng trầm trọng hơn nếu như Việt Nam không có những biện pháp hiệu quả để giải
quyết vấn đề này ngay từ bây giờ.
2.2. Lợi thế nguồn nhân lực chất lượng cao của Việt Nam
Người lao động Việt Nam nhìn chung có những phẩm chất vượt trội như thông minh,
cần cù, chịu khó, khả năng nắm bắt các kỹ năng lao động, đặc biệt là kỹ năng sử dụng các
công nghệ hiện đại tương đối nhanh. Đây là lợi thế cạnh tranh quan trọng của nguồn nhân
lực nước ta trong quá trình toàn cầu hóa và phát triển nền kinh tế tri thức. Một trong những
lợi thế cạnh tranh của Việt Nam thường được nói đến là nhân công giá rẻ. Tuy nhiên chúng
ta nên "giải mã" để xem đây là lợi hay là nhược điểm của Việt Nam. Lý do là giá nhân công
rẻ đồng nghĩa với lao động tay nghề thấp. Như vậy, lợi thế này cũng chính là nhược điểm
của lao động Việt Nam. Trên thực tế, rất nhiều nhà đầu tư nước ngoài than phiền rằng khó
tuyển dụng nhân sự cho ngành công nghệ thông tin, ngân hàng, viễn thông... Do đó Việt
Nam khó có thể thu hút đầu tư vào những khu vực dịch vụ cao cấp mà Việt Nam đang rất
cần để chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì vậy, việc đào tạo nhân lực chất lượng cao, tạo ngành
công nghiệp hỗ trợ, nâng cao hàm lượng nội địa... là việc mà Nhà nước phải nhanh chóng
thực hiện để "tạo chất" cho "lợi thế nhân công" mà Việt Nam đang có hiện nay.
2.3. Khó khăn, thách thức
Tuy nhiên, so với yêu cầu của nền kinh tế tri thức thì chất lượng nguồn nhân lực ở
nước ta hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế. Hiện nay, Việt Nam mới chỉ có thể đáp ứng
được 35 đến 40% nhu cầu nhân sự bậc cao của các doanh nghiệp. Thị trường nhân sự cấp
Vậy giải pháp nào cho tình trạng trên đây?
CHƯƠNG 3:
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO ĐÁP ỨNG
TIẾN TRÌNH HỘI NHẬP
Đầu tiên là phải nâng cao nhận thức cho mọi cá nhân tổ chức để hiểu rõ tầm quan
trọng của việc xây dựng, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong quá trình phát triển
kinh tế tri thức và hội nhập vào nền kinh tế thế giới của nước ta hiện nay. Phải xác định cho
rõ nguồn nhân lực là tài nguyên quý giá nhất của Việt Nam trong công cuộc đổi mới và phát
16
triển đất nước. Một đất nước với nguồn tài nguyên thiên nhiên đang ngày càng bị cạn kiệt
như ở Việt Nam, cần phải lấy nguồn nhân lực làm tài nguyên thay thế chính.
Đối với nhà nước:
Làm tốt công tác quy hoạch phát triển nguồn nhân lực. Xây dựng và triển khai chiến
lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam từ nay đến năm 2020 và tầm nhìn 2030. Tuy nhiên,
trước mắt cần có kế hoạch đột phá vào phát triển nhóm nhân lực chất lượng cao, đó là:
- Đối với đội ngũ cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý có năng lực quản lý giỏi và có
phẩm chất đạo đức tốt cần được xây dựng, bồi dưỡng và sử dụng hợp lý bởi đây là lực
lượng có ý nghĩa đầu tàu quan trọng lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
- Đối với đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ thì phải nâng cao chất lượng và hiệu
quả sử dụng thông qua việc trang bị đầy đủ những yếu tố thiết bị kĩ thuật hiện đại và đảm
bảo một môi trường làm việc hợp lí . Đây là một trong những nhiệm vụ vừa mang tính cấp
bách, vừa có tầm chiến lược nhằm tạo ra lực lượng đầu đàn trong đội ngũ những người lao
động, góp phần tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao của nước ta.
- Đối với công nhân kỹ thuật thì cần phải có kế hoạch đào tạo và nâng cao tay nghề
cụ thể rõ ràng vì đây là lực lượng quan trọng tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất.
Cải thiện thông tin về nguồn nhân lực theo hướng rộng rãi và dân chủ, làm cho mọi
người thấy được tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực của nước ta và trên thế giới.
phải trách nhiệm của riêng ai mà là của tất cả mọi thành phần trong xã hội.
Ngoài ra, cần đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục, cho phép các thành phần
kinh tế trong và ngoài nước tham gia vào quá trình đào tạo và phát triển nguồn nhân lực,
nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế phù hợp với luật
pháp Việt Nam cũng là cần thiết trong bối cảnh hiện nay.Điều này rất phổ biến hiện nay đơn
cử như có rất nhiều trung tâm ngoại ngữ được thành lập nhằm thỏa mãn nhu cầu của mọi
người giao lưu học hỏi hay có cơ hội kiếm việc tốt hơn.
Nhà nước phải có kế hoạch phối hợp tạo nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí
thức; có kế hoạch khai thác, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng các nguồn nhân lực nhân tài cho
đúng. Phải có sự phân biệt rành mạch giữa tài thật và tài giả, giữa những người cơ hội và
những người chân chính trong các cơ quan công quyền. Không giải quyết được vấn đề này
một cách rõ ràng, thì nhân tài của đất nước sẽ lại "rơi lả tả như lá mùa thu", "vàng thau lẫn
lộn", làm cho những người thật sự có tài năng không phát triển được, trong khi đó, những
người cơ hội, “ăn theo nói leo”, xu nịnh, bợ đỡ lại tồn tại trong các cơ quan công quyền.
Hằng năm, Nhà nước cần tổng kết về lý luận và thực tiễn về nguồn nhân lực ở Việt
Nam, đánh giá đúng mặt được, mặt chưa được, kịp thời rút ra những kinh nghiệm, trên cơ sở
đó mà xây dựng chính sách mới và điều chỉnh chính sách đã có về nguồn nhân lực ở Việt
Nam, như chính sách hướng nghiệp, chính sách dạy nghề, học nghề; chính sách thu hút các
thành phần kinh tế tích cực tham gia vào lĩnh vực tạo nguồn nhân lực cho đất nước; chính
sách đối với các tổ chức NGO có liên quan đến vấn đề nhân tài, nhân lực; chính sách đối với
lao động đi làm việc ở nước ngoài và thu hút các thành phần kinh tế tham gia đưa lao động
đi làm việc ở nước ngoài.
Đối với doanh nghiệp và người lao động:
Ở nước ta, mốc quan trọng đánh dấu những thay đổi của doanh nghiệp nhà nước
trong những năm vừa qua là cổ phần hóa. Cổ phần hóa được coi là giải pháp tối ưu tăng tính
tự chủ và hiệu quả của các doanh nghiệp nhà nước. Mặc dù chưa có nghiên cứu đánh giá về
việc làm của người lao động tại các doanh nghiệp hậu cổ phần hóa, nhưng vấn đề nổi cộm
18
KẾT LUẬN
Trong bất cứ giai đoạn phát triển nào của đất nước thì vai trò của nguồn lực con
người luôn là quan trọng chủ chốt.Với tầm nhìn ngày càng mở rộng nhất là trong xu thế hội
nhập hiện nay thì vai trò quyết định của nó ngày càng chứng minh một cách cụ thể và rõ
ràng nhất.Người ta thường nói đi kèm với cơ hội luôn là những thách thức,điều này càng
đúng hơn trong tiến trình hội nhập quốc tế của Việt Nam hiện nay. Và bộ phận cốt lõi đem
lại lợi thế cạnh tranh, khẳng định thương hiệu Việt trên trường quốc tế đó chính là Nguồn
nhân lực chất lượng cao. Đóng góp của bộ phận này thể hiện qua những thành tựu mà ta đã
19
đạt được trong suốt quá trình hội nhập.Vì thế nâng cao phát triển nguồn lực chất lượng cao
không chỉ là vấn đề cấp thiết mà còn là một thực tế khách quan hiện nay đó là chủ động hội
nhập quốc tế. Đảng và nhà nước đã và đang từng bước tạo những tiền đề ban đầu cho việc
đầu tư phát triển nguồn lực này.Còn với đối với chúng ta hiện nay tích cực học tập rèn luyện
tự hoàn hiện bản thân chính là góp sức xây dựng nên một hình tượng mới về nguồn nhân lực
Việt Nam trong tương lai - cao hơn và vững chắc hơn. Vì chúng ta là lực lượng trí thức - là
nền móng của nguồn nhân lực chất lượng cao. Nhưng về lâu dài, quan trọng hơn cả là cần
phải nâng cao nhận thức: “Phát triển nguồn nhân lực cao không đơn giản chỉ là đào tạo
nghề nghiệp, mà còn là nền móng để giải quyết triệt để đói nghèo, thu hẹp khoảng cách
giàu nghèo, ổn định chính trị xã hội cho đất nước”.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Phạm Minh Hạc: Nghiên cứu con người và nguồn nhân lực đi vào Công nghiệp
hoá, Hiện đại hoá, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001, tr. 323
2. TS.Nguyễn Hữu Dũng (2002), Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, Tạp chí lý luận chính
trị số 8 - T8/2002.
3. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X,
NXB CTQG, Hà Nội.
4. Mác-Ăngghen (1995), Toàn tập, tập 4, NXB CTQG, Hà Nội