BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
MỤC CỮ VIẾT TẮT
LÊ VĂN THƯỚC
HÌNH TƯỢNG CHIM PHƯỢNG TRONG TRANG TRÍ
KIẾN TRÚC TRIỀU NGUYỄN VÀ VẬN DỤNG VÀO
DẠY MÔN SÁNG TÁC THIẾT KẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC
MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP Á CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC BỘ MÔN MỸ THUẬT
Khóa 2 (2016 - 2018)
Hà Nội, 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM NGHỆ THUẬT TRUNG ƯƠNG
LÊ VĂN THƯỚC
HÌNH TƯỢNG CHIM PHƯỢNG TRONG TRANG TRÍ
KIẾN TRÚC TRIỀU NGUYỄN VÀ VẬN DỤNG VÀO DẠY
MÔN SÁNG TÁC THIẾT KẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ
THUẬT CÔNG NGHIỆP Á CHÂU
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Mỹ thuật
Mã số: 8140111
ĐHMTCNAC
: Đại học Mỹ thuật Công nghiệp Á Châu
GV
: Giảng viên
Nxb
: Nhà xuất bản
PGS
: Phó giáo sư
SV
: Sinh viên
ThS.
: Thạc sĩ
TKĐH
: Thiết kế đồ họa
tr.
1.2.5. Cơ sở vật chất ......................................................................................... 42
Tiểu kết chương 1............................................................................................. 42
Chương 2: NGÔN NGỮ TẠO HÌNH, ĐẶC TRƯNG PHONG CÁCH
HÌNH TƯỢNG CHIM PHƯỢNG TRONG TRANG TRÍ KIẾN TRÚC
TRIỀU NGUYỄN VÀ THỰC TRẠNG DẠY MÔN THIẾT KẾ TẠI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC MỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP Á CHÂU ..................... 44
2.1. Vị trí và chức năng của hình tượng chim Phượng .................................... 44
2.1.1. Phượng trang trí trên đỉnh nóc, góc mái các cung điện kiến trúc .............. 44
2.1.2. Phượng trang trí trên cửa, tam quan các cung điện................................ 46
2.1.3. Phượng trang trí trên bình phong ........................................................... 49
2.2. Chất liệu thể hiện hình tượng chim phượng ............................................. 54
2.2.1. Chất liệu khảm sành sứ .......................................................................... 54
2.2.2. Chất liệu đá............................................................................................. 58
2.3. Hình thức thể hiện ..................................................................................... 61
2.3.1. Phượng thể hiện qua nghệ thuật đắp khối .............................................. 61
2.3.2. Phượng thể hiện qua trang trí, phù điêu, chạm khắc.............................. 64
2.4. Một số đánh giá về gía trị tạo hình của hình tượng chim phượng trong
trang trí kiến trúc triều Nguyễn ........................................................................ 68
2.4.1. Tạo hình mang tính hiện thực ................................................................ 68
2.4.2. Tạo hình mang tính cách điệu (biến thể) ............................................... 70
2.5. Thực trạng dạy môn thiết kế tại trường Đại học Mỹ thuật Công nghiệp
Á Châu.............................................................................................................. 72
Tiểu kết chương 2............................................................................................. 74
Chương 3: HIỆU QUẢ VÀ GIÁ TRỊ NGHỆ THUẬT CỦA HÌNH TƯỢNG
CHIM PHƯỢNG TRONG TRANG TRÍ KIẾN TRÚC TRIỀU NGUYỄN,
ỨNG DỤNG VÀO DẠY MÔN SÁNG TÁC THIẾT KẾ............................... 76
HỆ THỐNG BAO BÌ SẢN PHẨM VÀ TEM ................................................. 76
3.1. Hiệu quả về sự đăng đối hài hòa và biểu hiện không gian ....................... 76
bà hoàng như: cung Diên Thọ, cung Trường Sanh, cung An Định, lăng Bà Lệ
Thiên Anh, điện Hòn Chén, Thái Bình Lâu.....Vì mang vẽ đẹp tao nhã, nhẹ
nhàng lại vừa mang ý nghĩa biểu tượng của điềm lành, cho triều đại thái bình
và khát vọng về một cuộc sống yên lành mà con người mong muốn vươn tới.
Do vậy, hình tượng con Phượng luôn chiếm giữ một vị trí trung tâm trong
trang trí kiến trúc dành cho các bà hoàng triều Nguyễn. Nó luôn được đi thành
từng cặp trong nhiều vị trí, chức năng của các công trình kiến trúc quan trọng
của triều Nguyễn với mật độ dày đặc trong nhiều bộ phận khác nhau. Tiêu
biểu như hình đôi Phượng đang chầu vào mặt trăng cổ trên đỉnh nóc mái kiến
trúc hoặc hình tượng con phượng đứng độc lập, dang đôi cánh dài ở đầu hồi
cung Diên Thọ hoặc hình đôi phượng đang chầu vào bầu Thái cực trên nóc
bình phong cung Trường Sanh, phượng uốn lượn trên thân cột giả tam quan
các cổng vô cùng tao nhã nhằm biểu hiện lòng trung thành, quyền uy của chủ
nhân. Có khi phượng hướng ra bên ngoài của phần mộ các bà Hoàng, biểu
tượng cho sự tôn nghiêm, kính cẩn và uy quyền của bà Hoàng. Phượng là linh
vật biểu trưng cho Hoàng hậu trong mối quan hệ: rồng (nhà vua), phượng
hoàng (hoàng hậu) - lân (thái tử).
Là linh vật gắn với huyền thoại, truyền thuyết nên hình tượng chim
Phượng gắn liền với nhiều lớp ý nghĩa phong phú, việc tìm hiểu và giải mã
2
chúng cho phép chúng ta tìm hiểu về tư duy, quan niệm và thẩm mỹ của
người xưa. Trong quá trình phát triển của lịch sử, các lớp văn hóa chồng xếp
lên nhau đã tạo nên một bức màn kỳ bí và huyền ảo. Do vậy, việc giải mã
hình tượng nghệ thuật chim Phượng rất thú vị nhưng cũng không kém phần
khó khăn và đòi hỏi phải tiếp cận từ nhiều hướng khác nhau. Bên cạnh đó,
việc nghiên cứu hình tượng phượng chưa được quan tâm, khai thác đúng mực.
Một lượng lớn thông tin đề cập đến linh vật này tuy nhiều nhưng chỉ khái
quát, sơ lược, ít đi vào phân tích sâu, diễn giải cụ thể. Chủ yếu là những bài
Cadiere vị linh mục người Pháp có tinh thần khách quan trong công
trình nghiên cứu về Văn hóa Huế. Trong cuốn Mỹ thuật Huế, Tập san Những
người bạn Cố đô Huế, tập 6 đã từng viết: “Trong nghệ thuật trang trí kiến trúc
hình ảnh con chim phượng được dùng như một mô típ trang trí ở góc để trang
trí ở hai đầu lườn nóc của các điện đài dành để thờ nữ thần, có thể hình chim
phượng cũng được dùng trong việc trang trí những đền chùa và cung điện
khác….”[22, tr.271].
Nhà nghiên cứu Phan Thanh Bình với Luận án TS Nghiên cứu Nghệ
thuật khảm sành sứ trong mỹ thuật cung đình thời Nguyễn (2010) đã đưa ra
khái niệm về chim phượng: “Theo điển tích phương Đông, chim phượng là sứ
giả mang tin may mắn , là hình ảnh tượng trưng cho sắc đẹp và đức hạnh của
người phụ nữ. Chim phượng được tôn làm “bách điểu chi vương” (vua của
các loài chim). Thật ra chim phượng không phải là con vật có thật, mà nó
hình thành từ tư duy liên tưởng và tập hợp những đặc tính tốt của một số loài
chim ở cư dân phương Đông…”[6, tr.103].
Đối với nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông trong Mỹ thuật Huế nhìn
từ góc độ ỹ nghĩa và biểu tượng trang trí đã từng viết về phượng hoàng như
sau: “….giống linh điểu này, con trống gọi là phượng, con mái gọi là hoàng.
Chim Phượng là biểu tượng của phúc lộc, chim hoàng là biểu tượng của
4
hoàng hậu, xuất hiện bên cạnh cong rồng của hoàng đế...”.[31, tr.99]. Đây là
cuốn sách viết khá kỹ về ý nghĩa cũng như quy cách tạo hình của hình tượng
chim phượng trong nghệ thuật tạo hình cổ Việt Nam.
Nguyễn Du Chi trong Hoa văn Việt Nam từ thời tiền sử đến nửa đầu
thời kỳ phong kiến cũng từng đưa ra ý nghĩa của chim Phượng như sau:
“Phượng xuất hiện là báo hiệu điềm tốt lành, đó là lúc xã hội thái bình có
thánh nhân hoặc hiền triết xuất hiện, hoặc có vua hiền sáng suốt, chế độ công
bằng, lấy đức mà trị dân và dan chúng thuần phục thì chim phượng sẽ từ trên
làm một con vật “tầng dưới” thì phượng lại là một linh vật “tầng trên” thậm
chí phượng còn được sánh ngang với rồng trong các tác phẩm trang trí rồng phượng”[30, tr. 60].
Đối với nhà nghiên cứu Nguyễn Hữu Thông trong Mỹ thuật Huế nhìn
từ góc độ ỹ nghĩa và biểu tượng trang trí đã từng viết về phượng hoàng như
sau: “Phượng hoàng là vua của tất cả các loài chim. Nó được mô tả có cổ
họng của con chim nhạn, mỏ gà, cổ rắn, đuôi chẻ như đuôi cá với 12 chiếc
lông dài rực rỡ, trán của con hạc, mào của con vịt xiêm, có những dấu vằn của
con rồng và phần đằng sau cuốn vòm như con rùa. Lông phượng hoàng 5
màu, tiếng hót như nhạc và có 5 biến điệu diệu kỳ. Nó thường ẩn mình và
hiếm khi xuất hiện cả căp. Khi cất cánh nó được cả đàn chim nhỏ bay theo
phục vụ. Giống như lân, phượng hoàng là con vật hiền đức, không giết hại
côn trùng, làm hư hao cây cối và suốt đời cư ngụ trên cây ngô đồng, ăn hạt
hoa trúc và chỉ uống nước ở các thác phun….” [31, tr.99].
Trong Luận văn Nghệ thuật trang trí gốm sứ trong nội thất lăng Khải
Định Thạc sỹ Lê Thị Tiềm viết: “Phượng vốn đã có hình dáng đẹp như đuôi
dài chân cao, cánh rộng thể hiện sự nhẹ nhàng, tao nhã, mắt giọt lệ… Do vậy,
người nghệ sỹ cũng rất dễ thể hiện nét đẹp trong tạo hình. Tuy nhiên khi
người nghệ sỹ thường thể hiện tính oai vệ, linh thiêng của nó…” [42, tr.45].
6
Trong cuốn Mỹ thuật Huế do Viện nghiên cứu mỹ thuật Hà Nội xuất
bản năm 1992 có đoạn viết: “Nếu như con Phượng Huế dưới dạng chim thực,
có nhiều con vượt ra ngoài tâm thức dân dã với nét xa cách, thì những hóa
thân của phụng dưới dạng cây cỏ phần nhiều lại đầm ấm, đơn giản, vui nhẹ,
đẹp và cân đối mang tính khái quát cao. Chúng ta thường gặp: đào, lan, mẫu,
cúc….hóa phượng. Tất cả các cây cỏ này đều lấy gốc làm đầu phượng. Trong
đó mắt, mỏ, mang, đao được thể hiện khá rõ, các bộ phận khác đều là cành lá,
đôi khi cả hoa và quả nữa. Con phượng cũng ngậm nhành lá khác được cách
điệu, chân cũng là nhành lá với đầu lá tạo móng, đuôi nhiều khi là hoa quả
Phượng vào trong giảng dạy nghệ thuật tạo hình hiện đại nói chung và vận
dụng vào sáng tác thiết kế Trường Đại học mỹ thuật Công nghiệp Á Châu nói
riêng. Đồng thời góp thêm những luận điểm khoa học trong sự nghiên cứu
bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa nghệ thuật Di sản văn hóa Huế cũng
như mỹ thuật dân tộc.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu: Hình tượng chim Phượng trong trang trí
kiến trúc Triều Nguyễn.
4.2 . Phạm vi nghiên cứu: Cung Trường Sanh, cung Diên Thọ, cung An
Định, Lăng Bà lệ Thiên Anh, lăng Thánh Cung, lăng Tiên Cung. Thái Bình
Lâu, điện Hoà Chén (có liên hệ với các Di tích khác của triều Nguyễn).
4.3. Thực nghiệm với sinh viên khóa 3, năm thứ nhất trường đại học Á
Châu Hà Nội, thời gian từ 2015 - 2019.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp thực địa: Sử dụng phương pháp tiến hành khảo sát, điền
dã tại Cung Trường Sanh, cung Diên Thọ, cung An Định, Lăng Bà lệ Thiên
Anh cùng với một số lăng các bà hoàng thời Nguyễn. Như trực tiếp quan sát,
8
chụp hình, đo đạc thu thập tài liệu tại các cung điện, lăng dành cho các bà
Hoàng triều Nguyễn. Đây là phương pháp đặc biệt quan trọng đối với quá
trình thực hiện đề tài, bởi vì có thông qua các tư liệu thực tế và cụ thể mới
giải quyết tốt nội dung mà đề tài đề ra.
- Phương pháp phân tích tổng hợp, thống kê, so sánh: Đây là phương
pháp nghiên cứu chủ đạo. Phân tích về mặt lịch sử, thời đại, phong cách, đặc
thù chất liệu, ngôn ngữ tạo hình, cách xử lý khối. Qua đó phân tích tổng hợp
nguồn tư liệu thành văn đã và chưa công bố, sau đó so sánh đối chiếu với
những thông tin thu nhận từ điều tra… Việc xử lý thông tin tốt sẽ đảm bảo
khách quan, chính xác cho luận điểm khoa học của đề tài.
1.1. Cơ sở lý luận về hình tượng chim phượng trong trang trí kiến trúc
triều Nguyễn
1.1.1. Khái niệm
+ Hình tượng chim phượng
Phượng nguyên thủy là các con chim trong thần thoại của người dân khu
vực Đông Á chịu ảnh hưởng của nền văn minh Trung Hoa, ngự trị trên tất cả
các loài chim khác. Về tên gọi của Phượng cũng có nhiều cách gọi khác nhau.
Phượng có hai tên tùy theo trống, mái. Chim trống theo danh từ Hán
Việt là Phượng, theo tiếng việt là con phượng, con mái gọi là hoàng, và sự kết
hợp tên phượng hoàng nói lên một cách tổng quát chim phượng. Trước đây,
con trống được gọi là Phượng còn con mái được gọi là Hoàng, nhưng ngày
nay thì sự phân biệt đực, cái đã gần như không còn và Phượng cùng Hoàng đã
được trộn lẫn vào nhau thành một thực thể giống cái, gọi là phượng hoàng, để
cho nó có thể ghép cặp với rồng, là con vật mang ý nghĩa của giống đực.
Phượng hoàng còn được gọi là "con kê" .
Phượng là linh vật được biểu hiện cho tầng trên. Phượng thường có mỏ
vẹt, thân chim, cổ rắn, đuôi công, móng chim cứng đứng trên hồ sen. Với ý
nghĩa đầu đội công lý, mắt là mặt trời, mặt trǎng, lưng cõng bầu trời, lông là
cây cỏ, cánh là gió, đuôi là tinh tú, chân là đất, vì thế phượng tượng trưng cho
cả vũ trụ.
+ Quan niệm về chim phượng trên thế giới
Theo Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Jean Chevalier và Alain
Gheerbrant) có viết đại ý:
11
Phượng hoàng là một loài chim huyền thoại, có nguồn gốc từ xứ
Etiopie, vẻ đẹp rực rỡ vô song, sống lâu khác thường, và có phép
màu là sau khi đã tự thiêu trên giàn lửa, lại tái sinh ra từ đám tro tàn.
Khi chim phượng hoàng biết mình sắp chết, nó tự làm cho mình một
Rồng là một con thú huyền thoại được tổng hợp từ nhiều đặc thù tinh hoa của
các loài thú, chim, cá, thằn lằn bò sát… Phượng cũng như vậy, đó là loài chim
đại bàng (mỏ, móng vuốt) nhưng lại mượn dáng uyển chuyển và vương miện,
áo khoác đẹp của công, trĩ. Cũng có thể phượng xuất thân đầu tiên từ loại
chim ăn thịt khổng lồ ở vùng núi Hymalaya và cao nguyên Tây Tạng, được
tôn thờ nhờ sự tinh nhanh và lối sống độc lập ngang tàng. Những biểu tượng
này được giữ lại khi truyền vào thế giới phương tây (Ai Cập, Hy Lạp, La
Mã…). Nhưng khi du nhập vào văn hóa phương Đông, loài chim ăn thịt này
đã bị cạnh tranh bởi nhiều loài thú thần thoại (hổ, rồng) nên đã phối hợp với
loài chim đẹp có lông đuôi dài, mỏ nhỏ ăn thực vật như công, trĩ để trở thành
loài Phượng Đông Á biểu trưng cho sự cao sang, quý phái, quyền thế và
trường tồn mang tính nữ.
+ Quan niệm của người phương Đông về chim phượng
Quan niệm của người Phương Đông nói chung, phượng được coi là
chúa tể của các loài chim. Nó kết tinh được vẻ đẹp và sự mềm mại thanh lịch,
duyên dáng của các loài chim và đặc biệt là sự kết hợp của chim cẩm, chim
kê, và chim công. Các đạo sĩ Trung Hoa gọi chim phượng hoàng là chim thần
sa (tanniao), thần sa là chất đá kết tinh sulfua thủy ngân, màu đỏ. Ngoài ra
chim phượng hoàng còn là biểu tượng tương ứng với phương Nam, mùa hạ,
lửa, màu đỏ.
Ý nghĩa tượng trưng của loài chim này liên quan mật thiết với mặt trời,
sự sống và sự bất tử. Chim phượng hoàng là vật cưỡi của các vị tiên, là biểu
hiện của NiuKoua, người sáng tạo ra cái cheng, thứ nhạc khí hình chim
13
phượng, bắt chiếc tiếng hót kỳ diệu của loài chim này. Đầu giống vòm trời,
mắt giống mặt trời, lưng giống trăng lưỡi liềm, cánh giống gió, đuôi giống
chim công và chân giống mặt đất.
Vì thế cũng không lấy làm lạ, nghệ thuật chim công có ở nghệ thuật cổ đại
hạnh, mắt tượng trưng cho mặt trời, mặt trăng, lưng cõng bầu trời, cánh là gió,
đuôi là tinh tú, lông là cây cỏ, chân là đất. Như vậy, nó tượng trưng cho bầu
trời, khi nó bay hoặc múa (phượng vũ) đều tượng trưng cho sự hoạt động
của vũ trụ. Vì thế phượng là hình tượng của thánh nhân, của hạnh phúc.
Nếu rồng có yếu tố dương, tượng trưng cho vua, chúa thì phượng lại có yếu
tố âm nên tượng trưng cho hoàng hậu và người phụ nữ đẹp.
Với quan niệm con trống được gọi là phượng, con mái gọi là hoàng.
Phượng hoàng có ý nghĩa tích cực. Nó là biểu tượng của đức hạnh và vẻ
duyên dáng, thanh nhã, vừa linh thiêng vừa cao quý. Phượng hoàng cũng biểu
thị cho sự hòa hợp âm dương.
Trong văn hóa Việt, hình tượng phượng hoàng xuất hiện từ rất sớm. Được
con người tiền sử chọn làm totemgiao - tức là (thờ vật tổ). Mofip này xuất
hiện con chim Lạc trên trống đồng Đông Sơn cách đây 2500 năm. Với biểu
tượng cô đọng là chim mỏ dài, chân duỗi, cánh dang rộng. Đó là những con
chim chân dài và mỏ bắt cá, gắn liền với đồng ruộng sông nước, đầm lầy, bãi
sông. Ngoài ra còn xuất hiện chim rừng núi với đặc trưng màu sắc rực rỡ
được phô diễn chủ yếu bởi bộ đuôi tán rộng và có hoa. Đa phần là loại đầu
nhỏ, mỏ ngắn những có mào, có thể nhận rõ đó là con công. Qua đó cũng
khắc họa được tính cách của chim phượng. Đó là loài chim thần đang bay
lượn trong điệu múa của vũ trụ để vạn vật sinh sôi, hòa hợp.
+ Xác định khái niệm “hình tượng phượng”
Như vậy, hình tượng phượng là con vật được xây dựng trên cơ sở kết
hợp những đặc tính tốt đẹp, được hình thành bởi tư duy liên tưởng từ các
15
truyền thuyết, điển tích về một linh thú được kết hợp từ nhiều con vật khác và
hàm chứa nhiều biểu tượng may mắn, linh thiêng và cao quý. Linh vật này
được tạo hình bằng các ngôn ngữ đặc trưng của hội họa, điêu khắc hay đồ họa
và được nhận thức trực tiếp bằng cảm tính. Ngoài ra, ở Việt Nam linh vật này
dương, thường dùng cho mặt trời, các màu lạnh thường dùng cho nữ giới...
Yếu tố thứ ba cũng quan trọng không kém chính là bố cục. Bố cục
được hiểu là sự sắp xếp kích thước và tương quan của những đường nét, hình
dáng và màu sắc các vật thể trong một tác phẩm. Trong một công trình, tương
ứng với một diện tích, hình dạng của một bộ phận kiến trúc, người nghệ nhân
sẽ khéo léo đưa các hoa văn họa tiết vào một bố cục thích hợp.
Nhịp điệu: Bao gồm các yếu tố xây dựng nên nhịp điệu là đường chéo,
đường nằm ngang, đường cong và khối nổi, tối sáng. Một tác phẩm có nhịp
điệu là tác phẩm có sự vận động của các yếu tố và sự quyện vào nhau một
cách hợp lý của đường nét, màu sắc, độ sáng tối, vị trí nhân vật…
Chất cảm: Là phương tiện tạo hình tác động trực tiếp trên mắt. Người
ta nhận biết một vật thể không chỉ ở kích thước, tỉ lệ, màu sắc mà còn ở cảm
nhận cấu tạo vật chất của nó nữa. Từ cấu tạo vật chất ấy mà người xem cảm
xúc về chất hay còn gọi là chất cảm.
+ Khái niệm trang trí kiến trúc
Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc là nghệ thuật làm đẹp cho công trình
kiến trúc với mục đích làm cho công trình đó trở nên sinh động, hấp dẫn hơn.
Giảm được sức nặng của vật liệu xây dựng và che đi những chỗ thô trong
công trình. Nó bao gồm các yếu tố như: motif, bố cục, màu sắc, nhịp điệu,
chất cảm. Đồng thời, nghệ thuật trang trí trên kiến trúc gắn bó với đời sống
nhân dân từng vùng nên nó cũng mang đầy đủ những đặc trưng của vùng
đất sản sinh ra nó. Nghệ thuật trang trí trên kiến trúc do vậy, mang tính dân
tộc và thời đại. Nhờ vào đó, người ta có thể phân biệt được kiến trúc này
17
thuộc về giai đoạn lịch sử nào hoặc giúp phân biệt giữa quốc gia này với
quốc gia khác. Thông qua những hình tượng được trang trí, mà người
thưởng thức cũng hiểu thêm về văn hóa, lịch sử, và những ước vọng của
lớp người đi trước.
Đến năm 1786 Nguyễn Huệ kéo quân ra đánh Phú Xuân rồi tiếp tục ra
Bắc đánh Thăng Long với lý do phò Lê diệt Trịnh. Nhưng sau khi Lê Chiêu
Thống đưa quân Thanh về dày xéo trên đất Thăng Long, Nguyễn Huệ đã lên
ngôi Hoàng đế ở Phú Xuân rồi đưa quân ra Bắc lần nữa đập tan 20 vạn quân
Thanh xâm lược vào đầu năm 1789. Với chiến thắng lẫy lừng của nhà Tây
Sơn ở mùa xuân năm Kỷ Dậu đã tạo bước ngoặt lớn trong lịch sử cũng như
hội tụ cơ sở ban đầu trên con đường đi lên thống nhất đất nước mà Hoàng đế
Quang Trung đã làm được. Tuy nhiên, nhà Tây Sơn tồn tại lại quá ngắn ngủi
(1788 – 1792), sự ra đi đột ngột của vua Quang Trung không chỉ là tổn thất
lớn của nhà Tây Sơn mà còn là của cả đất nước.
Năm 1802 sau khi chiến thắng nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh đã lên ngôi
vua lấy niên hiệu Gia Long lập ra vương triều Nguyễn, đóng đô tại Phú Xuân
và đất nước từ đây được xác lập từ Bắc tới Nam. Quốc hiệu Việt Nam được
đặt vào năm (1804), tuy nhiên đến thời Minh Mạng được đổi lại là Đại Nam.
Nhà Tây Sơn đã đặt nền móng cho sự thống nhất thì Gia Long là người có
công trong việc thống nhất toàn vẹn lãnh thổ từ Đồng Văn đến Cà Mau. Với
đất đai vật lực, tiềm năng lớn và phong phú hơn rất nhiều so với các triều đại
trước đó, với vị trí kinh đô của nước Đại Nam, Huế trở thành trung tâm, chính
trị, của quốc gia ở thế kỷ XIX.
Huế nằm ở giữa mà phía Bắc giáp Quảng Trị, phía Nam giáp đèo Hải
Vân, phía Tây là dãy Trường Sơn hùng vĩ, phía Đông là biển cả mênh mông
với nhiều dãy đảo xa. Đồng thời có nhiều mạch núi ăn thông ra biển và biển
cũng tạo ra những đầm phá lớn, nhỏ vào trong đất liền mà ta không thể không
19
nhắc tới đầm Phá Tam Giang, đầm Cầu Hai được coi là nơi biển hòa vào với
đất. Huế còn có nhiều dòng sông lớn nhỏ xen kẽ chảy vào lòng thành phố góp
phần cùng với thiên nhiên làm cho Huế mềm mại và trữ tình hơn. Trong đó
sông Hương là điển hình, được ví như nàng thiếu nữ kiều diễm uốn mình