Tác động của thiên tai đến tình trạng sức khỏe người dân và trẻ em ở khu vực nông thôn việt nam - Pdf 51

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------

LÊ MỸ KIM

TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN TÌNH TRẠNG
SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN VÀ TRẺ EM Ở KHU
VỰC NÔNG THÔN VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
----------

LÊ MỸ KIM

TÁC ĐỘNG CỦA THIÊN TAI ĐẾN TÌNH TRẠNG
SỨC KHỎE NGƯỜI DÂN VÀ TRẺ EM Ở KHU
VỰC NÔNG THÔN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kinh tế phát triển
Mã số: 8310105
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. VÕ TẤT THẮNG

TP. Hồ Chí Minh - Năm 2018

2.1.1. Các khái niệm liên quan ................................................................................5
2.1.1.1. Thiên tai .........................................................................................................5
2.1.1.2. Các chỉ số phát triển ở trẻ em.........................................................................6
2.1.2. Khung lý thuyết .............................................................................................7
2.2. Lược khảo các nghiên cứu thực nghiệm liên quan ............................................10
2.2.1. Tác động của thiên tai đến thu nhập của hộ gia đình ..................................11
2.2.2. Tác động của thiên tai đến chi tiêu của của hộ gia đình ..............................12
2.2.3. Tác động của thiên tai đến sức khỏe trẻ em.................................................15
2.2.4. Tác động của thiên tai đến sức khỏe của các thành viên hộ gia đình ..........17
CHƯƠNG 3. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................................................20
3.1. Khung phân tích .................................................................................................20
3.2. Mô hình phân tích ..............................................................................................22
3.3. Phương pháp kinh tế lượng ................................................................................27


3.3.1. Mô hình hồi quy tuyến tính đa biến .............................................................27
3.3.2. Mô hình Logit ..............................................................................................29
3.3.3. Các khuyết tật của mô hình .........................................................................30
3.4. Dữ liệu nghiên cứu .............................................................................................32
CHƯƠNG 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................34
4.1. Tổng quan về tình hình thiên tai ở Việt Nam.....................................................34
4.2. Thống kê mô tả...................................................................................................38
4.2.1. Mẫu dữ liệu 1. ..............................................................................................38
4.2.2. Mẫu dữ liệu 2. ..............................................................................................40
4.2.3. Mẫu dữ liệu 3 ...............................................................................................43
4.3. Kết quả kiểm định khuyết tật .............................................................................46
4.3.1. Đa cộng tuyến ..............................................................................................46
4.3.2. Phương sai sai số thay đổi ...........................................................................47
4.3.3. Nội sinh ........................................................................................................47
4.4. Kết quả hồi quy ..................................................................................................48

DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1. Thống kê mô tả các biến số trong mẫu dữ liệu 1 ......................................39
Bảng 4.2. Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mẫu dữ liệu 1 ..................40
Bảng 4.3. Thống kê mô tả các biến số trong mẫu dữ liệu 2 ......................................41
Bảng 4.4. Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mẫu dữ liệu 2 ..................43
Bảng 4.5. Thống kê mô tả các biến số trong mẫu dữ liệu 3 ......................................44
Bảng 4.6. Ma trận hệ số tương quan giữa các biến trong mẫu dữ liệu 3 ..................46
Bảng 4.7. Hệ số VIF của các biến trong mô hình sức khỏe trẻ em...........................48
Bảng 4.8. Kết quả hồi quy logit cho xác suất bị bệnh của các thành viên trong hộ .49
Bảng 4.9. Kết quả hồi quy OLS cho chi tiêu y tế của các hộ gia đình .....................51
Bảng 4.10. Kết quả hồi quy OLS cho chỉ số chiều cao theo tuổi (HAZ) ở trẻ em ...54
Bảng 4.11. Kết quả hồi quy OLS cho chỉ số cân nặng theo tuổi (WAZ) ở trẻ em ...56
Bảng 4.12. Kết quả hồi quy OLS cho chỉ số cân nặng theo chiều cao (WHZ) ở trẻ
em ..............................................................................................................................58


DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 2.1. Khung lý thuyết cho mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe .....................8
Hình 3.1. Khung phân tích ........................................................................................21
Hình 3.2. Đồ thị minh họa cho phương sai sai số thay đổi .......................................32
Hình 4.1. Số lượng thiên tai ở một số nước Đông Nam Á (2010-2017) ..................35
Hình 4.2. Thiệt hại về người và tài sản do thiên tai gây ra giai đoạn 2011-2017
...................................................................................................................................36
Hình 4.3. Đồ thị phân phối cho biến chi tiêu y tế .....................................................44
Hình 4.4. Đồ thị phân phối của biến WHZ ...............................................................47


TÓM TẮT LUẬN VĂN
Nghiên cứu nhằm mục đích ước tính tác động của các loại thiên tai phổ biến như
bão, hạn hán và lũ lụt đến sức khỏe và chi tiêu y tế của các hộ gia đình ở vùng nông

1.1. Đặt vấn đề
Theo World Bank (2017), hàng năm có hơn 70% dân số Việt Nam phải đối mặt với
những rủi ro do các thảm họa thiên tai mang lại. Thiên tai có tác động đến mọi mặt
đời sống kinh tế-xã hội của người dân như gây thiệt hại nghiêm trọng về người và
tài sản, phá hủy mùa màng, ảnh hưởng đến mức thu nhập, chi tiêu, sinh kế, sức
khỏe, giáo dục và các vấn đề xã hội khác. Ước tính trung bình mỗi năm thiên tai
làm cho hơn 300 người thiệt mạng và mất tích, gây thiệt hại về kinh tế khoảng 11,5% GDP và có thể lên đến 4% GDP trong những trường hợp thiên tai lớn, trong
đó nông nghiệp là ngành dễ bị tổn thương nhất. Theo số liệu thống kê, trong 20 năm
qua tổng số người chết do thiên tai lên đến 13.000 người và tổng mức thiệt hại về
kinh tế là 6,4 tỷ USD. Nếu chỉ tính riêng cho năm 2016 thì thiên tai đã làm cho 264
người thiệt mạng và mất tích, 431 người bị thương, 5.431 ngôi nhà bị sập, 364.997
ngôi nhà bị hư hại, 828.661 ha diện tích lúa và hoa màu bị thiệt hại và hàng trăm
triệu mét khối đất đá, giao thông, thủy lợi, đê kè bị sạc lỡ gây tổng thiệt hại về kinh
tế khoảng 39.726 tỷ đồng.
Bên cạnh đó, thiên tai cũng ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống và sức khỏe
của người dân Việt Nam. Vì bão, lũ lụt thường cuốn trôi và hòa tan nhiều chất bẩn
tích tụ trong mùa khô hay các chất thải từ các bãi rác, các chất hóa học từ kho chứa
thuốc bảo vệ thực vật,...làm ô nhiễm nguồn nước, gia tăng lượng sinh vật gây bệnh
ở các vùng bị ngập lụt lâu ngày, đồng thời làm cho thức ăn bị nhiễm bẩn. Như vậy,
thiếu nguồn nước sạch là nguyên nhân chính dẫn đến việc sinh hoạt không đảm bảo
được an toàn vệ sinh, làm tăng nguy cơ bùng phát các dịch bệnh như sốt rét, sốt
xuất huyết, viêm não, cúm, các bệnh về đường ruột và suy dinh dưỡng (Roger Few
et al., 2007, Bộ Y tế, 2015, CEM, 2016). Trong báo cáo của Roger Few et al.
(2007), các nhân viên y tế ở thành phố Cao Lãnh - tỉnh Đồng Tháp cho biết tỷ lệ
người mắc bệnh tiêu chảy tăng lên khoảng 20% vào mùa lũ, CEM (2016) cũng dẫn
chứng rằng tại huyện Minh Hóa, tỉnh Quảng Bình đã xảy ra dịch mắt đỏ lây lan ở


2



3

1995, Jensen, 2000, Del Ninno and Lundberg, 2005, Alderman et al., 2006, Baez
and Santos, 2007, Cord et al., 2008, Baez et al., 2010, Groppo and Kraehnert,
2016).
Nhưng hầu như có rất ít nghiên cứu về mối quan hệ giữa thiên tai và tình trạng
sức khỏe người dân trong bối cảnh của Việt Nam. Theo tổng quan của tác giả, chỉ
có hai nghiên cứu của Bich et al. (2011) và Lohmann and Lechtenfeld (2015) kiểm
tra mối quan hệ trên. Tuy nhiên, cả hai nghiên cứu này đều phân tích tác động của
một loại thiên tai duy nhất đến tình trạng sức khỏe của người dân ở các tỉnh/thành
phố cụ thể (phạm vi không gian nghiên cứu hẹp), trong đó Bich et al. (2011) sử
dụng phương pháp khá đơn giản là thống kê mô tả để phân tích dữ liệu. Thêm nữa
là chưa có nghiên cứu nào thực hiện với đối tượng trẻ em, do đó chưa có nghiên cứu
nào trả lời câu hỏi liệu thiên tai có tác động đến sức khỏe, cụ thể là tình trạng dinh
dưỡng ở trẻ em hay không. Với những lý do trên, nghiên cứu “Tác động của thiên
tai đến tình trạng sức khỏe người dân ở khu vực nông thôn Việt Nam” sẽ được
tiến hành để tìm ra câu trả lời cho những mối quan hệ trên. Nghiên cứu này không
chỉ điều tra tác động của các loại thiên tai đến xác suất bị bệnh của các thành viên
trong hộ gia đình, mà còn tiếp tục kiểm tra xem thiên tai tác động đến chi tiêu y tế
của hộ gia đình như thế nào trong trường hợp thiên tai có ảnh hưởng đến xác suất bị
bệnh của các thành viên trong hộ. Đặc biệt, nghiên cứu cũng sẽ tập trung đánh giá
tác động của thiên tai đến tình trạng dinh dưỡng ở trẻ em dưới 5 tuổi (đối tượng dễ
bị tổn thương). Đây là nghiên cứu có ý nghĩa về mặt chính sách, nếu nghiên cứu tìm
ra tác động tiêu cực của thiên tai đến tình trạng sức khỏe của các đối tượng nghiên
cứu thì sẽ tạo cơ sở giúp các nhà làm chính sách đề xuất những giải pháp nhằm
quản lý, phòng ngừa và khắc phục hậu quả thiên tai để giảm nhẹ rủi ro sức khỏe
người dân một cách hữu hiệu nhất.
1.2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát mà nghiên cứu hướng đến là phân tích tác động của thiên tai

trình bày phương pháp nghiên cứu được áp dụng trong phân tích và mô tả dữ liệu
mà nghiên cứu sử dụng. Chương 4 trình bày kết quả tác động của thiên tai đến tình
trạng sức khỏe của người dân và trẻ em ở khu vực nông thôn Việt Nam. Chương 5
kết luận và đưa ra các gợi ý chính sách.


5

CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT
2.1. Lược khảo lý thuyết.
2.1.1. Các khái niệm liên quan
2.1.1.1. Thiên tai
Theo Luật Phòng, chống thiên tai Việt Nam năm 2013, “Thiên tai là hiện tượng
tự nhiên bất thường có thể gây thiệt hại về người, tài sản, môi trường, điều kiện
sống và các hoạt động kinh tế - xã hội, bao gồm: bão, áp thấp nhiệt đới, lốc, sét,
mưa lớn, lũ, lũ quét, ngập lụt, sạt lở đất do mưa lũ hoặc dòng chảy, sụt lún đất do
mưa lũ hoặc dòng chảy, nước dâng, xâm nhập mặn, nắng nóng, hạn hán, rét hại,
mưa đá, sương muối, động đất, sóng thần và các loại thiên tai khác”
Một định nghĩa tương tự về thiên tai cũng được đưa ra bởi Trung tâm phòng
tránh và giảm nhẹ thiên tai như sau: “Thiên tai là quá trình hay hiện tượng tự nhiên
có thể gây chết người, thương tích hoặc các tác động khác tới sức khỏe, gây thiệt
hại về tài sản, sinh kế và các dịch vụ, làm gián đoạn các hoạt động kinh tế - xã hội,
hoặc gây thiệt hại về môi trường”. Các loại hình thiên tai gồm: Lũ, lũ quét, ngập lụt,
bão, áp thấp nhiệt đới, mưa lớn, lốc, sét, sạt lở đất do mưa lũ, động đất, sóng thần,
nước dâng, hạn hán, nắng nóng, rét hại, mưa đá, sương muối, sụt lún đất do mưa lũ
hoặc xâm nhập mặn (DMC, 2018).
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, chỉ đề cập đến ba loại thiên tai phổ biến ở
Việt Nam là bão, lũ lụt và hạn hán. Và được định nghĩa như sau: Theo DMC
(2018), “Bão là một xoáy thuận nhiệt đới có sức gió mạnh nhất từ cấp 8 trở lên và
có thể có gió giật. Bão có sức gió mạnh nhất từ cấp 10 đến cấp 11 gọi là bão mạnh,

thiếu cân hoặc thiếu cân nghiêm trọng hay không, nhưng không được sử dụng để
phân loại trẻ em thừa cân hoặc béo phì. Bởi vì trọng lượng tương đối dễ đo, chỉ số
này thường được sử dụng nhưng sẽ không chính xác trong những tình huống mà
tuổi của trẻ không thể xác định được, chẳng hạn trong tình huống của người tị nạn.
Điều quan trọng cần lưu ý là trẻ có thể bị thiếu cân do chiều dài/chiều cao dưới mức
trung bình (thấp còi) hoặc gầy hoặc cả hai.
Cân nặng theo chiều cao (Wieght for height z-score) là chỉ số phản ánh trọng
lượng cơ thể theo chiều dài hoặc chiều cao. Chỉ số này đặc biệt hữu ích trong các


7

tình huống mà tuổi của trẻ không thể xác định chính xác như tình huống của người
tị nạn. Biểu đồ trọng lượng theo chiều dài/chiều cao giúp xác định những trẻ có chỉ
số trọng lượng theo chiều cao thấp, là những trẻ thường bị gầy gò ốm yếu. Tình
trạng gầy gò ốm yếu thường do một căn bệnh hoặc tình trạng thiếu hụt lương thực
dẫn đến sự sụt cân nghiêm trọng, suy dinh dưỡng mãn tính hoặc bệnh tật cũng có
thể gây ra tình trạng này. Đồng thời, các biểu đồ này cũng giúp xác định những trẻ
em có chỉ số trọng lượng theo chiều dài/chiều cao cao, là những trẻ có nguy cơ bị
thừa cân hoặc béo phì.
Trong nghiên cứu này, các chỉ số phát triển ở trẻ em sẽ được đo lường bằng công
thức do De Onis et al. (1997) đề xuất như sau:
𝑧𝑖 =

𝑋𝑖 − 𝑋𝑟
𝜎𝑟

Trong đó: Xi là giá trị quan sát của trẻ i trong mẫu khảo sát
Xr là giá trị trung bình và 𝜎𝑟 là độ lệch chuẩn (do WHO công bố)
Có thể tính được 3 chỉ số z tương ứng: chiều cao theo độ tuổi (HAZ: cho biết tình

Những hiểm họa từ
biến đổi khí hậu
- Thủy văn. Vd: Lũ lụt.

- Khí hậu. Vd: Hạn hán,
Cháy rừng.
- Sinh học. Vd: Sốt xuất
huyết, Bệnh tả.
- Khí tượng học. Vd:
Bão, Nhiệt độ cực đoan.

- Bị thương và bệnh
tật.
- Khuyết tật.
- Bệnh tim mạch.

- Suy dinh dưỡng.
- Dị ứng.
- Bệnh truyền nhiễm.
- Sức khỏe hiện tại

Gián tiếp
- Con người.
- Hệ sinh thái.

- Tử vong.

Con người
- Hệ thống y tế cơ sở
và công cộng.

sinh vật gây bệnh có thể tồn tại, nhưng do sự thay đổi về lượng mưa, nhiệt độ hoặc
độ ẩm làm cho điều kiện thời tiết của các khu vực này trở nên phù hợp để các sinh
vật gây bệnh có thể sinh sản và phát triển. Cùng quan điển này, Chase and Knight
(2003) cho rằng điều kiện thời tiết nắng nóng là môi trường thuật lợi cho các loại
sâu bọ tồn tại, sinh sản và phát triển, đặc biệt là các sinh vật gây bệnh, tăng khả
năng xảy ra dịch bệnh trên diện rộng (Kovats et al., 2003). Hạn hán và lũ lụt có thể
liên quan trực tiếp đến tỷ lệ mắc một số bệnh đường ruột do tình trạng xuống cấp
nước uống, không đảm bảo được an toàn vệ sinh (World Bank 2010b, CDC, 2010).
Bên cạnh đó, các thảm họa thiên nhiên còn tác động gián tiếp đến tình trạng sức
khoẻ người dân thông qua những thay đổi trong thu nhập hoặc sản xuất nông
nghiệp, vì năng suất nông nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào nhiệt độ và lượng mưa.
Điều kiện lượng mưa thấp có thể làm giảm sản lượng nông nghiệp và thức ăn cho
gia súc (World Bank 2010b, CDC, 2010, Warner and van der Geest, 2013, Gaurav,
2015) hoặc nếu lượng mưa quá cao lại làm cho cây trồng ngập úng, gia súc bị cuốn
trôi hoặc bị giết chết, nhà ở và cơ sở hạ tầng bị phá hủy dẫn đến sự sụt giảm đáng kể
trong tổng thu nhập của các hộ gia đình nông dân, vì đa phần thu nhập của họ đều
đến từ cây trồng và gia súc. Sự sụt giảm trong thu nhập không chỉ trực tiếp làm suy
giảm nguồn thực phẩm và các chất dinh dưỡng cơ bản mà các hộ gia đình có thể tự
cung cấp cho mình thông qua hoạt động sản xuất nông nghiệp mà còn làm giảm khả
năng đảm bảo lượng dinh dưỡng cần thiết thông qua tiêu dùng thực phẩm trên thị
trường, dẫn đến gia tăng tình trạng suy dinh dưỡng ở trẻ em, suy giảm hệ miễn dịch
và thể chất đối với các thành viên trong gia đình. Tùy thuộc vào khả năng đối phó
của mỗi hộ gia đình với những biến động thu nhập mà mức độ chịu ảnh hưởng
nhiều hay ít, nhưng nhìn chung các cú sốc tiêu cực liên quan đến thời tiết làm giảm
tiêu dùng của hộ gia đình (Jacoby and Skoufias, 1998, Dercon and Krishnan, 2000).
Mặt khác, sản lượng nông nghiệp sụt giảm sẽ đẩy giá lương thực thực phẩm tăng
cao. Trong bối cảnh thu nhập giảm sút và giá lương thực thực phẩm tăng cao thì
nhiều hộ gia đình đã lựa chọn tiêu thụ những thực phẩm kém chất lượng hơn để
giảm chi tiêu (Gibson and Kim, 2013), các thực phẩm này không những không đảm


mặt như thu nhập, chi tiêu cho y tế và thực phẩm, sức khỏe. Có thể sắp xếp các
nghiên cứu thực nghiệm vào 4 nhóm như sau:


11

2.2.1. Tác động của thiên tai đến thu nhập của hộ gia đình
Hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm đều tìm thấy tác động tiêu cực của thiên tai
đến thu nhập của hộ gia đình (Dercon et al., 2005, Masozera et al., 2007, Baez and
Santos, 2008, Kurosaki, 2010, Thomas et al., 2010, Mottaleb et al., 2013, Bui et al.,
2014, Arouri et al., 2015).
Baez và Santos (2008) ước lượng tác động của hai trận động đất có cường độ lớn
xảy ở El Salvador vào năm 2001 đến thu nhập và tình trạng nghèo đói của các hộ
gia đình ở khu vực nông thôn, bằng cách sử dụng dữ liệu bảng của 653 hộ gia đình
từ cuộc điều tra hộ gia đình nông thôn El Salvador (BASIS) giai đoạn 2000-2002 do
Quỹ phát triển kinh tế và xã hội Salvador thực hiện với sự hỗ trợ của Ngân hàng
Thế giới. Nghiên cứu sử dụng phương pháp ước lượng khác biệt trong khác biệt
(DID) để so sánh sự khác biệt trong thu nhập và mức nghèo đói trước và sau khi hai
trận động đất xảy ra, và kết quả được tìm thấy là hai trận động đất ở El Salvador đã
làm giảm một phần ba thu nhập của các hộ gia đình nông thôn so với trước khi xảy
ra động đất, không có ý nghĩa thống kê cho tác động của hai trận động đất này đến
tình trạng nghèo đói. Ngoài ra, các tác giả cũng lưu ý rằng các cú sốc địa chất
không những có ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập của các thế hệ hiện tại mà còn tác
động tiêu cực đến thu nhập của thế hệ tương lai thông qua việc giảm tích lũy vốn
vật chất và vốn con người.
Bui et al. (2014) sử dụng dữ liệu chéo từ Cuộc điều tra mức sống hộ gia đình
Việt Nam (VHLSS) năm 2008 để xem xét ảnh hưởng của thiên tai đối với thu nhập,
chi tiêu, nghèo đói và bất bình đẳng của hộ gia đình. Mô hình kinh tế lượng được
tác giả lựa chọn để thực hiện hồi quy là mô hình Fixed effect (FEM), tuy nhiên, một
vấn đề găp phải là xác suất xảy ra thiên tai ở một vùng nhất định lại có tương quan

thiên tai nhanh hơn so với các hộ khác.
2.2.2. Tác động của thiên tai đến chi tiêu của của hộ gia đình
Sau thiên tai các hộ gia đình thường phải đối mặt với cú sốc về kinh tế do thiệt
hại về mùa màng và tài sản. Để đối phó với sự sụt giảm đột ngột trong thu nhập và
tài sản thì các hộ gia đình sẽ chủ động cắt giảm tổng chi tiêu và có sự cơ cấu lại tỷ
trọng các khoản chi cho phù hợp với nhu cầu và tình hình tài chính sau thiên tai


13

(Dercon et al., 2005, Sawada, 2007, Thomas et al., 2010, Mottaleb et al., 2013,
Lohmann and Lechtenfeld, 2015, Arouri et al., 2015).
Dercon et al. (2005) sử dụng dữ liệu bảng từ cuộc khảo sát hộ gia đình nông thôn
Ethiopia (ERHS) giai đoạn 1999-2004 để đánh giá tác động của một loạt các cú sốc
về khí hậu, kinh tế, sức khoẻ, chính trị và các cú sốc khác đến phúc lợi của các hộ
gia đình nông thôn ở 15 làng thuộc Ethiopia. Sử dụng mô hình fixed effects (FEM),
nghiên cứu đã tìm thấy bằng chứng chứng minh rằng các cú sốc về khí hậu mà đặc
biệt là hạn hán có tác động quan trọng đến phúc lợi của các hộ gia đình ở Ethiopia.
Cụ thể, hạn hán làm giảm khoảng 20% mức tiêu dùng của các hộ gia đình, đồng
thời làm giảm thu nhập và gia tăng mức nghèo đói. Tuy nhiên, nghiên cứu này gặp
phải một hạn chế là có thể bỏ xót một số sự kiện và xu hướng quan trọng như sự
xuống cấp của đất, sự giảm dần về lợi nhuận và giá cả của một số hoạt động có thể
liên quan đến kết quả nhưng không được thu thập trong bảng hỏi của nghiên cứu.
Do vậy, cần phải có thêm bằng chứng để làm thế nào có thể thu thập thông tin một
cách hiệu quả về các cú sốc, các sự kiện và xu hướng khác để phân tích tác động
của thiên tai và các biện pháp can thiệp một cách chính xác nhất.
Sawada (2007) khai thác cơ sở dữ liệu thiên tai khẩn cấp (EM-DAT), dữ liệu của
Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB) và một số nghiên
cứu khác ở giai đoạn 1990-2004 để kiểm tra tác động của các thảm họa thiên nhiên
và nhân tạo đến phúc lợi của hộ gia đình. Kết quả cho thấy, để đối phó với các cú

thương của nghèo đói ở Đông Nam Á” và Trung tâm khí hậu lũ lụt toàn cầu
(GPCC) để định lượng tác động ngắn hạn của hạn hán đối với chi tiêu cho y tế ở
khu vực nông thôn Việt Nam. Mô hình Tobit được lựa chọn vì biến chi tiêu cho sức
khỏe là biến bị chặn, tuy nhiên điều kiện sức khỏe của các thành viên trong hộ có
tiềm năng nội sinh với những hành vi không quan sát được của hộ gia đình. Điển
hình như các thành viên trong gia đình biết trạng thái sức khỏe bất lợi của mình nên
thường có các chiến lược đối phó như tìm kiếm các cơ chế bảo hiểm chính thức
hoặc không chính thức, gia tăng chi tiêu chăm sóc y tế dự phòng. Do đó, việc đánh
giá tác động của thiên tai đến chi tiêu cho y tế sẽ không còn chính xác, chi phí cho y
tế có thể bị đánh giá thấp hơn thực tế. Nên phương pháp hồi quy biến công cụ được
sử dụng để khắc phục và biến công cụ được lựa chọn là tỷ lệ hộ gia đình bị ảnh
hưởng bởi hạn hán. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ mắc bệnh do hạn hán sẽ làm


15

tăng chi phí y tế bình quân đầu người lên khoảng 115 USD và làm tăng gánh nặng
tài chính cho nhiều hộ gia đình vì chi phí cho y tế tăng từ 9-17% trong tổng chi tiêu.
2.2.3. Tác động của thiên tai đến sức khỏe trẻ em
Mối quan hệ giữa thiên tai và sức khỏe trẻ em đã thu hút được sự quan tâm của
nhiều nhà nghiên cứu (Foster, 1995, Jensen, 2000, Del Ninno and Lundberg, 2005,
Alderman et al., 2006, Baez and Santos, 2007, Cord et al., 2008, Baez et al., 2010,
Skoufias and Vinha, 2012, Andalón et al., 2016, Groppo and Kraehnert, 2016), và
hầu hết các nghiên cứu này đều cho rằng thiên tai tác động tiêu cực đến sự phát
triển thể chất của trẻ, tăng tình trạng suy dinh dưỡng và tăng khả năng bị bệnh ở trẻ.
Jensen (2000) sử dụng dữ liệu bảng từ cuộc điều tra mức sống hộ gia đình
(CLSS) do Ngân hàng thế giới và Bộ Tài chính Bờ Biển Ngà thực hiện trong giai
đoạn 1985-1988, để kiểm tra xem liệu những trẻ em sống ở những vùng có các cú
sốc bất lợi về thời tiết thì mức đầu tư cho giáo dục và sức khỏe có thấp hơn hay
không. Tác giả sử dụng mô hình xác suất tuyến tính để ước lượng tác động của một

gia trong giai đoạn 1999-2008, mẫu bao gồm 1,5 triệu trẻ em sơ sinh. Nghiên cứu
sử dụng mô hình Fixed effect (FEM) để phân tích và tìm thấy bằng chứng cho rằng
việc tiếp xúc với cú sốc nhiệt cao trong 3 tháng cuối của thai kỳ làm giảm cân nặng
của trẻ sơ sinh, mức độ giảm dao động trong khoảng 2,8-4,1 gram. Thêm nữa, tiếp
xúc với những cú sốc lạnh trong 6 tháng đầu tiên của thai kỳ làm giảm chiều dài lúc
sinh khoảng 0,01–0,018 cm. Ngoài ra, nghiên cứu cũng tìm thấy bằng chứng về tác
động tiêu cực của các cú sốc nhiệt trong các phép kiểm tra Apgar ở độ lớn từ 0,2
đến 0,6 điểm phần trăm điểm số Apgar chuẩn.
Groppo and Kraehnert (2016) xác định tác động của cú sốc thời tiết (thời tiết
khắc nghiệt của mùa đông năm 2009-2010, gọi là dzud) đến chiều cao của trẻ em
Mông Cổ, bằng cách kết hợp dữ liệu từ Cuộc điều tra hộ gia đình ở Mông Cổ, Cuộc
tổng điều tra chăn nuôi Mông Cổ, số liệu viện trợ khẩn cấp của MRCS và số liệu về
lượng tuyết EC-JRC-MARS trong giai đoạn 2012-2015. Nghiên cứu dùng hồi quy
OLS để phân tích dữ liệu và kết quả cho thấy rằng, dzud 2009-2010 làm chậm đáng
kể quỹ đạo tăng trưởng của trẻ em ở các huyện bị ảnh hưởng nặng nề so với trẻ em
sống ở các huyện ít bị ảnh hưởng hơn, đặc biệt các bé trai bị ảnh hưởng nhiều hơn
các bé gái. Tuy nhiên, tác động của dzud chỉ có ý nghĩa thống kê đối với trẻ em của



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status